I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cao dao, tục ngữ đã đi vào tâm thức của mỗi người Việt Nam từ khi
còn nằm trên nôi qua lời ru của bà, của mẹ. Lớn lên, ca dao, tục ngữ được
lồng vào lời ăn tiếng nói hằng ngày qua cách ví von, qua lối nói vận vần…
Bởi vậy, trong vốn hiểu biết của mỗi người Việt Nam ca dao, tục ngữ là
một phần không thể thiếu, đặc biệt ca dao, tục ngữ giúp mỗi người tự điều
chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với các chuẩn mực chung.
Qua quá trình giảng dạy bộ môn giáo dục công dân ở trường THPT,
cụ thể là học phần“ Công dân với đạo đức”- SGK GDCD 10, tôi thấy việc
vận dụng ca dao, tục ngữ vào giảng dạy mang lại hiệu quả cao hơn, đồng
thời giúp học sinh cảm thấy các nội dung bài học gần gũi và dễ hiểu hơn.
Từ việc tìm hiểu bài, suy nghĩ và tìm tòi của học sinh, từ những phân tích,
giảng giải của G.V những kiến thức sẽ được chinh phục. Đồng thời với
việc phân tích và giảng giải, G.V kết hợp vận dụng ca dao, tục ngữ sẽ làm
cho những kiến thức khô khan trở nên gần gũi, bài học sẽ đi vào tâm tưởng
của học sinh một cách tự nhiên và thấm dần trong tiềm thức của các em như
những lời ru của bà của mẹ theo các em di suốt cuộc đời.
Vì vậy, tôi chọn đề tài “ Vận dụng ca dao, tục ngữ vào giảng dạy một
số bài trong phần “ Công dân với đạo đức”- SGK GDCD 10, để nâng cao
hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh” làm đề tài cho SKKN của mình.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận
Tại kỳ họp của Quốc hội khoá X năm 2000, Quốc hội X đã thông qua
Nghị quyết số 40/2000/QH10 về vấn đề đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông. Tiếp đó ngày 11/6/2001 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số
14/2001/CT-TTg về đổi mới giáo dục phổ thông. Trong đó nhấn mạnh mục
tiêu của chương trình đổi mới giáo dục phổ thông là nhằm thay đổi cách
dạy và học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh. Một trong
1
thức lí luận khó hiểu gần gũi hơn, dễ hiểu hơn với học sinh, giúp tạo hiệu
quả cao trong giảng dạy, tôi đã mạnh dạn vận dụng nguồn ca dao, tục ngữ
của dân tộc vào giảng dạy phần “Công dân với đạo đức”- SGK GDCD 10
và đã thu được những kết quả khả quan.
2.2 Thực trạng tại trường THPT Thường xuân 2
2
Trường THPT Thường Xuân 2 là trường đóng trên địa bàn xã Luận
Thành, huyện Thường Xuân, là một huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa
học sinh vào trường thuộc nhiều xã khác nhau của huyện, điểm đầu vào
trường tương đối thấp, ý thức học tập chưa cao, gia đình chưa quan tâm đến
việc học của con em mình, cho nên những thay đổi của xã hội theo hướng
tốt và xấu đã ảnh hưởng đến học sinh toàn trường. Do đó ngay từ đầu năm
học, chúng tôi đã được BGH chỉ đạo triển khai nhiệm vụ chú trọng rèn
luyện đạo đức cho học sinh qua các hoạt động lồng ghép vào chương trình
học, các môn học và các hoạt động của nhà trường, đặc biệt là bộ môn giáo
dục công dân. Hơn nữa, nhận thấy tính cấp bách của việc nâng cao chất
lượng bộ môn, làm tốt mục tiêu nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho
học sinh. Chúng tôi rất trăn trở, làm thế nào để môn giáo dục công dân phát
huy tốt vai trò giáo dục đạo đức cho học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục
toàn diện của nhà trường để đưa trường chúng tôi trở thành môi trường giáo
dục tin cậy cho phụ huynh học sinh về mọi mặt. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn
vận dụng đổi mới phương pháp dạy học vào trong giảng dạy và một trong
những phương pháp tôi thấy đem lại những hiệu quả tích cực là vận dụng ca
dao, tục ngữ vào giảng dạy các bài học phần “ Công dân với đạo đức”SGK Giáo duc công dân 10
3. Giải pháp và tổ chức thực hiện
3.1 Các giải pháp tiến hành giải quyết vấn đề
Ca dao, tục ngữ là kho tàng vô cùng quý báu về những kinh nghiệm,
lối sống của ông cha ta truyền lại, vận dụng vào việc hình thành nhân cách,
phần “Công dân với đạo đức”- SGK GDCD 10
3.2.2.1 Bài 10 “Quan niệm về đạo đức”
* Mục tiêu của bài học là:
- Về kiến thức: Nêu được thế nào là đạo đức, vai trò của đạo đức đối
với sự phát triển của cá nhân, gia đình và xã hội.
- Về thái độ: Coi trọng vai trò quan trọng của đạo đức
* Vì vậy, để học sinh dễ dàng tìm hiểu về các chuẩn mực đạo đức, G.V có
thể đưa ra một số chuẩn mực đạo đức là những câu tục ngữ như:
“ Kính trên nhường dưới”
( Tục ngữ)
“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
(Tục ngữ)
“ Chia ngọt sẻ bùi”
( Tực ngữ)
Từ những chuẩn mực này G.V cho học sinh phân tích để hiểu rõ các
chuẩn mực đạo đức mà mỗi người cần có. Đồng thời, lấy những ví dụ minh
hoạ cụ thể sẽ giúp học sinh tự vận động suy nghĩ, từ đó tạo cho học sinh
4
nhìn nhận về khái niệm đạo đức một cách dễ hiểu và gần gũi hơn, tạo hứng
thú cho học sinh khi tiếp xúc với một phần học mới.
3.2.2.2 Bài 11 “ Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học”
* Mục tiêu của mục 3 “Nhân phẩm và danh dự”:
- Về kiến thức: Hiểu được thế nào là nhân phẩm và danh dự
- Về kĩ năng, thái độ: biết giữ gìn, trân trọng nhân phẩm danh dự của
bản thân và coi trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.
* Vì vậy, để học sinh có thể tự rút ra cho mình những phẩm chất quan trọng
của mỗi người, sự cần thiết của việc giữ gìn, tôn trọng nhân phẩm của mình
rút ra quan niệm về tình yêu là một cách vừa gần gũi vừa tạo sự hứng thú
cho học sinh đối với bài học, ví dụ như một số câu ca dao sau:
“Tiện đây mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”
(Ca dao)
Bài ca dao này thể hiện sự luyến mến của hai người khác giới, họ có
thương nhau thì mới lời qua ý lại hợp vừa ý nhau như thế “ vườn hồng có
lối nhưng chưa ai vào”.
“ Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than”
(Ca dao)
Câu ca dao này thể hiện biểu hiện rõ nét nhất của tình yêu, đó là sự
nhớ mong tha thiết, mong muốn được gần gũi gắn bó với nhau
“ Yêu nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua”
(ca dao)
Câu ca dao này lại thể hiện tình yêu tạo cho người ta sức mạnh để
vượt qua được tất cả những trở ngại khó khăn, dù là ngăn sông cách núi
cũng không sờn lòng.
Từ những đặc điểm đó G.v cho học sinh tự rút ra quan niệm về tình
yêu.
- Với mục 2: “Hôn nhân”, G.V cho học sinh làm rõ hơn nội dung
của chế độ hôn nhân nước ta là: Tự nguyện, tiến bộ và một vợ một chồng,
vợ chồng bình đẳng qua các câu ca dao, tục ngữ hết sức quen thuộc như:
“ Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người”
( Ca dao)
“ Râu tôm nấu với ruột bầu
“ Chị ngã, em nâng”
(Tục ngữ)
3.2.2.4 Bài 13 “Công dân với cộng đồng”
* Mục tiêu của bài học
- Về kiến thức: Hiểu được trách nhiệm đạo đức của công dân trong mối
quan hệ với cộng đồng
- Về kĩ năng, thái độ: Biết cư xử đúng đắn với người xung quanh, yêu
thương, gắn bó, có trách nhiệm với cộng đồng.
7
* Vì vậy, để giảng dạy phần “Nhân nghĩa”, giáo viên có thể dẫn dắt: dân tộc
Việt Nam có truyền thống nhân nghĩa cao đẹp, truyền thống ấy không
những được làm rõ qua việc phân tích truyền thống lịch sử dân tộc, qua đời
sống thường ngày của người dân mà còn được làm rõ hơn từ chính kho tàng
ca dao, tục ngữ của dân tộc. G.V có thể vận dụng những câu ca dao, tục ngữ
để học sinh vừa thấm nhuần tư tưởng nhân nghĩa vừa biết tiếp nối truyền
thống tốt đẹp đó.
“Đường mòn, nhân nghĩa không mòn”
( Tục ngữ)
Con người sống phải biết quan tâm, chia sẻ, nhường nhịn, giúp đỡ
những người xung quanh
“ Một điều nhịn, chín điều lành”
( Tục ngữ)
“ Nhường cơm, sẻ áo”
( Tục ngữ)
Biết cảm thông và sẵn sàng chia sẻ khó khăn với mọi người, G.V cho
học sinh tìm hiểu ý nghĩa của các câu tục ngữ
bản thân cũng như truyền thống yêu nước của dân tộc, như việc “ Truyền
lửa qua mỗi nhà, hòn than qua con cúi” (Nguyễn Khoa Điềm- Trường ca
Mặt đường khát vọng).
Trong phần tìm hiểu về những biểu hiện của lòng yêu nước G.V cũng
có thể vận dụng một số câu ca dao tục ngữ để minh hoạ, như với với biểu
hiện ‘tình cảm gắn bó với quê hương đât nước”, có thể minh hoạ băng bài
ca dao:
“ Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng, dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”
( Ca dao)
“ Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba”
Với biểu hiện “ Tình yêu thương đối với đồng bào, giống nòi, dân
tộc”, G.V có thể minh hoạ bằng câu ca dao sau:
“ Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
( Ca dao)
Với biểu hiện cần cù, sáng tạo trong lao động, G.V có thể minh hoạ
một só câu ca dao như:
“ Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trong nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
9
Trông cho chân cứng, đá mềm
Trời yên, bể lặng mới yên tấm lòng”
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận
Sử dụng ca dao, tục ngữ vào trong giảng dạy môn GDCD là một biện
pháp rất cần thiết, đặc biệt là với phần “ Công dân với đạo đức”-SGK
GDCD 10.
Trong quá trình giảng dạy bộ môn GDCD ở trường THPT , với việc
vận dụng ca dao tục ngữ, tôi thấy quá trình giảng dạy đạt hiệu quả cao hơn,
đặc biệt là học sinh thích thú hơn với môn học , nhiều học sinh có sự yêu
thích với môn học vẫn được xem là “khô khan” và “khó hiểu”.
Để môn GDCD ở trường THPT không còn là một môn học bị xem
nhẹ, là “môn học phụ”, có lẽ điều dầu tiên phải bắt đầu từ sự ưa thích và
hứng thú học tập của học sinh, lòng yêu nghề và tâm huyết với môn học của
từng giáo viên giảng dạy.
Giúp cho học sinh không nhàm chán môn học và đạt hiệu quả trong
giảng dạy hay không phụ thuộc vào lương tâm, tình cảm, ý thức trách
nhiệm của mỗi giáo viên giảng dạy. Phụ thuộc vào cách kết hợp các phương
pháp dạy học với việc vận dụng ca dao, tục ngữ, trong từng phần, từng bài
giảng.
Trên đây chỉ là một ý kiến nhỏ của cá nhân tôi, rất mong sự đóng góp
ý kiến của các đồng nghiệp.
2. Đề xuất
Mọi hoạt động vật chất lẫn tinh thần của con người luôn hướng tới
mục tiêu mang lại hiệu quả cao nhất. Việc dạy học môn giáo dục công dân
cũng vậy, tìm ra phương pháp dạy học tạo sự hứng thú cho, phát huy tính
tích cực của học sinh trong học tập là điều rất quan trọng. Vì vậy tôi có một
số kiến nghị sau:
- Đề nghị Sở giáo dục và đào tạo giới thiệu và cung cấp thêm sách bài tập
giáo dục công dân 10, 11, 12 và các loại sách tham khảo cho giáo viên.
Trang
1
2
2
2
3
3
12
3. Giải pháp và tổ chức thực hiện
3.1 Giải pháp tiến hành giải quyết vấn đề
3.2 Các biện pháp tổ chức thực hiện
4. Kiểm nghiệm
III.
Kết luận và đề xuất
1. Kết luận
2. Đề xuất
4
4
4
13
14
14
14
13