SKKN sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học địa lý tự nhiên lớp 10 và lớp 12 - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN HƯNG YÊN

“KHAI THÁC THƠ, CA DAO, TỤC NGỮ PHỤC VỤ DẠY HỌC
ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 VÀ 12”

Lĩnh vực/ Môn: Địa lí
Tên tác giả

: Trần Thị Huấn

Giáo viên môn : Địa lí

NĂM HỌC: 2015 - 2016


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................................................3
1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................................................3
2. Lịch sử vấn đề.............................................................................................................................5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...............................................................................................5
4. Mục đích nghiên cứu...................................................................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................................5
PHẦN NỘI DUNG.........................................................................................................................6
CHƯƠNG 1:...................................................................................................................................7
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC THƠ, CA DAO, TỤC NGỮ
PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 VÀ 12..........................................................7
I. Cơ sở lí luận.................................................................................................................................7
1. Thơ, ca dao, tục ngữ................................................................................................................7
2. Địa lí tự nhiên..........................................................................................................................7


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
3. Bài 8......................................................................................................................................32
4. Bài 9, 10................................................................................................................................34
5. Bài 11, 12..............................................................................................................................41
6. Bài 14....................................................................................................................................44
7. Bài 15....................................................................................................................................45
CHƯƠNG 3: KHAI THÁC NỘI DUNG THƠ, CA DAO, TỤC NGỮ PHỤC VỤ DẠY HỌC
ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 VÀ 12..............................................................................................50
I. Cách khai thác khía cạnh nội dung địa lí của thơ, ca dao, tục ngữ............................................50
1. Phần mở bài...........................................................................................................................50
2. Dạy bài mới...........................................................................................................................51
a. Tư liệu hình thành kiến thức mới......................................................................................51
b. Phương tiện minh họa kiến thức cho bài học....................................................................52
c. Mở rộng, nâng cao kiến thức cho bài dạy.........................................................................52
3. Củng cố.................................................................................................................................53
4. Dặn dò - Giao bài tập về nhà, chuẩn bị bài mới....................................................................54
5. Kiểm tra, đánh giá.................................................................................................................54
II. Những hạn chế về giá trị khoa học của ca dao tục ngữ và hướng khắc phục...........................55
1. Tính địa phương....................................................................................................................56
2. Phân tích sự vật hiện tượng Địa lí phiến diện, chưa tổng hợp..............................................56
3. Một số nội dung chưa hoàn toàn chính xác về khoa học......................................................57
4. Sử dụng âm dương lịch.........................................................................................................57
III. Hạn chế của thơ và cách khắc phục........................................................................................57
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.....................................................................................59
1. Đối với giáo viên...................................................................................................................59
2. Đối với học sinh....................................................................................................................61
PHẦN KẾT LUẬN.......................................................................................................................62
1. Kết luận.................................................................................................................................62
2. Kiến nghị...............................................................................................................................63


của

những

đoàn

quân

Tây

Tiến

năm

xưa

( />Đối với tôi - một giáo viên Địa lí, việc sử dụng thơ – ca dao – tục ngữ vào
bài dạy là một công cụ để tạo hứng thú cho học sinh, để minh họa cho bài học, ...
để củng cố, kiểm tra kiến thức và đánh giá khả năng vận dụng của các em vào
những tình huống cụ thể, phù hợp với quan điểm “học đi đôi với hành” lý thuyết
gắn với thực tiễn cuộc sống.
Việc sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí tự nhiên là hoàn toàn
có cơ sở lí luận và thực tiễn. Điểm giao hòa giữa thơ, ca dao tục ngữ và Địa lí tự
nhiên là đều phản ánh đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ giữa tự nhiên với tự
nhiên, ảnh hưởng của tự nhiên đến đời sống kinh tế xã hội. So với Địa lí thì thơ, ca
dao, tục ngữ mô tả tự nhiên mang tính chất hình ảnh, nghệ thuật làm cho người
đọc, người nghe dễ nhớ hơn. Việc sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa
lí tự nhiên cũng mang nhiều ý nghĩa tích cực với việc học môn Ngữ văn, làm cho
các em hiểu được phần hiện thực cuộc sống phản ánh trong thơ, trong ca dao tục

dao tục ngữ đó.
Tôi cũng phân tích tác dụng, hướng dẫn cách thức sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ
phục vụ dạy học Địa lí.
- Sáng kiến cũng có thể được dùng làm tư liệu tham khảo cho các em học sinh.
5. Phương pháp nghiên cứu

GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên

2


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan của các tác giả khác và trên
Internet.
Dựa vào kết quả điều tra, khảo sát thực tế đối với Giáo viên và Học sinh về
việc sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12.

PHẦN NỘI DUNG
GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên

2


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC THƠ, CA DAO,
TỤC NGỮ PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 VÀ 12

I. Cơ sở lí luận
1. Thơ, ca dao, tục ngữ.

hiện tượng ngày ngắn vào tháng mười (âm dương lịch) ca dao sử dùng hình ảnh
“chưa cười đã tối”, đêm ngắn vào tháng mười (âm dương lịch) là hình ảnh “chưa
nằm đã sáng”.
Việc sử dụng thơ – ca dao – tục ngữ vào bài dạy là một công cụ để tạo hứng
thú cho học sinh, để củng cố, kiểm tra kiến thức và đánh giá khả năng vận dụng
của các em vào những tình huống cụ thể phù hợp với quan điểm “học đi đôi với
hành” lý thuyết gắn với thực tiễn cuộc sống. Ngược lại vận dụng thơ, ca dao, tục
ngữ trong dạy học Địa lí tự nhiên cũng mang nhiều ý nghĩa tích cực với việc học
môn Ngữ văn, làm cho các em hiểu được phần hiện thực cuộc sống phản ánh trong
thơ, trong ca dao tục ngữ.
II. Cơ sở thực tiễn
1. Giá trị khoa học của ca dao, tục ngữ.
Ca dao tục ngữ của nhân dân ta cũng như thơ đều có một giá trị nhất định về
mặt khoa học. Trong thực tiễn lao động sản xuất đấu tranh gian khổ với thiên
nhiên, dân tộc ta đã có một nhận thức tương đối vững vàng về các hiện tượng và
qui luật của tự nhiên có liên quan trực tiếp đến đời sống và sự hoạt động sản xuất
hàng ngày của mình. Nhờ đó đã có một tác dụng nhất định trong việc đấu tranh
với thiên nhiên và lợi dụng những mặt thuận lợi của thiên nhiên để bảo vệ đời
sống và phát triển sản xuất trong điều kiện khoa học địa lí tự nhiên chưa hình
thành.
Ca dao tục ngữ là một biểu hiện thực tế về khả năng nhận thức qui luật của tự
nhiên trong quá trình lao động sản xuất. Đây là cái vốn khoa học quí báu của dân
tộc cần được lưu giữ và phát triển thêm nhất là các thế hệ trẻ trong đó có học sinh
phổ thông.
2. Dạy học liên môn
Việc vận dụng thơ, ca dao tục ngữ trong dạy học Địa lí Tự nhiên bản chất là
việc dạy học liên môn. Hiện nay việc dạy học liên môn được Bộ giáo dục và đào
tạo khuyến khích triển khai xuất phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển
GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên


liên môn đó. Hai là, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của
giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra,
định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học. Dạy học theo
GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên

2


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo viên trong việc dạy các kiến
thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao
kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên.

CHƯƠNG 2: BIÊN SOẠN HỆ THỐNG THƠ, CA DAO, TỤC NGỮ PHỤC VỤ
DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 VÀ 12
Để thuận tiện cho việc sử dụng tài liệu cho giáo viên và học sinh đối với
từng câu ca dao, tục ngữ và các trích đoạn thơ tôi đều chỉ ra nội dung địa lí được
GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên

2


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
thể hiện là gì và xắp xếp chúng theo các đơn vị bài học. Lưu ý rằng mỗi câu ca dao
tục ngữ hay trích đoạn thơ có thể sử dụng ở nhiều bài khác nhau.

I. Địa lí tự nhiên đại cương lớp 10
1. Bài 5
(Vũ trụ. Hệ Mặt trời và Trái Đất. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái
Đất)

Bán Cầu các dòng sông có bờ phải bị xói lở nhiều hơn (tương ứng, ở Bán Cầu
Nam – bờ trái) và ngược lại ở Bắc Bán Cầu các dòng sông có bờ trái được bồi
nhiều hơn (tương ứng, ở Bán Cầu Nam – bờ phải). Hiện tượng dòng sông bên lở
bên bồi làm cho sông ngòi không chảy thẳng mà thường uốn khúc quanh co nhất
là ở Đồng bằng.
Dưới góc độ khoa học, các dòng sông chảy không thẳng mà uốn khúc là do
2 nguyên nhân chính: địa hình và lực Côriôlit. Dòng sông có xu hướng chảy từ nơi
có địa hình cao đến nơi có địa hình thấp, những nơi có địa hình gồ ghề thì dòng
sông sẽ uốn lượn. Lực Côriôlit là hệ quả của sự tự quay quanh trục của Trái Đất.
Khi Trái Đất quay quanh trục, mọi địa điểm thuộc các vĩ độ khác nhau ở bề mặt
Trái Đất (trừ 2 cực) đều có vận tốc dài khác nhau và hướng chuyển động từ Tây
sang Đông. Do vậy các vật thể chuyển động trên Trái Đất sẽ bị lệch hướng so với
ban đầu (vì phải giữ nguyên chuyển động thẳng hướng theo quán tính).
Ở Bắc bán cầu, nếu có một dòng nước từ nam chảy về bắc, nó sẽ vì quán
tính mà duy trì tốc độ hướng đông tương đối nhanh mà lệch về phía đông; còn nếu
từ bắc chảy về nam thì tốc độ hướng đông vốn có tương đối nhỏ, nó sẽ lệch về
phía tây, giống như có ai đó đang đẩy chúng. Khi nước từ bốn phía chảy tới thì
nước từ nam chảy tới bắc sẽ lệch về đông, nước từ bắc chảy tới nam sẽ lệch về tây
và sẽ chảy theo ngược chiều kim đồng hồ. Nhưng tình hình trên, ở nam bán cầu sẽ
ngược lại hoàn toàn.
Lực Côriôlit tác động mạnh đến hướng chuyển động không chỉ của dòng
sông mà còn của các khối khí, các dòng biển, đường đạn bay, ...
2. Bài 6
(Hệ quả chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái Đất)
Ví dụ 1:
Ca dao có câu:
”Đông qua Xuân lại đến liền,
GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên

2

Tháng ba cày vỡ ruộng ra
Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng.”
GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên

2


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
Đây là câu ca dao, sử dụng khi dạy phần “các mùa trong năm”. Mỗi mùa, có
đặc điểm riêng về thời tiết khí hậu thích nghi với sự phát triển của từng loại cây
trồng nên có câu ca trên. Hiện nay sự tác động của khoa học, việc ứng dụng các kỹ
thuật trong sản xuất có thể làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, tuy nhiên “mùa nào, thức
nấy” vẫn rất đặc trưng.
Mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên rất khăng khít, chúng hoạt động
theo một quy luật thống nhất và hoàn chỉnh. Chỉ một thành phần tự nhiên thay đổi
sẽ làm cả tổng hợp thể tự nhiên thay đổi theo, mà nguyên nhân sâu xa là sự thay
đổi của bức xạ Mặt trời, do “chuyển động biểu kiến” từ nửa cầu này sang nửa cầu
kia của Mặt trời: Khi Mặt trời chuyển động về phía cầu nào thì các yếu tố: nhiệt
độ, khí áp, hướng gió, mưa, sự phát triển của sinh vật sẽ thay đổi tạo ra cảnh quan
địa lý đặc trưng theo mùa.
Ví dụ 4:
Nhân dân ta có câu ca dao:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối”
- Ý nghĩa của câu nói: Ở nước ta vào khoảng tháng 6 dương lịch (tháng năm
trong câu ca dao theo âm dương lịch) có đêm ngắn hơn ngày (hay ngày dài đêm
ngắn) nên mới nói “chưa nằm đã sáng”
Còn khoảng tháng 11, 12 dương lịch (tháng mười trong câu ca dao theo âm
dương lịch) lại có ngày ngắn hơn đêm (hay đêm dài ngày ngắn) nên mới nói “chưa
cười đã tối”

Ví dụ 1:
Tục ngữ có câu “Nước chảy đá mòn”
Hiện tượng trên phản ánh tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái
Đất. Cụ thể “Nước chảy đá mòn” là kết quả của quá trình mài mòn do dòng nước.
Nước chảy tạo ra năng lượng làm phá hủy đá và cuốn đi nên “đá mòn”. Lưu
ý rằng quá trình mài mòn diễn ra chủ yếu trên bề mặt đá nên tốc độ chậm.
Ví dụ 2:
Ca dao có câu:
“Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”

GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên

2


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
Đầm phá ven bờ biển là một dạng địa hình có hình dáng kéo dài, được ngăn
cách với biển bởi hệ thống đê cát và có cửa thông nối với biển. Cửa đầm phá có
thể một hoặc nhiều, mở thường xuyên hoặc định kỳ về mùa mưa lũ, thậm chí bị
đóng kín nhưng vẫn trao đổi với biển phía ngoài nhờ thẩm thấu hay chảy thấm qua
thân đê cát chắn.
Đầm phá được hình thành ở nơi giàu nguồn bồi tích cát ven bờ, động lực
sóng mạnh và thuỷ triều không lớn.
Đầm phá ven bờ có mặt ở nhiều nơi, chiếm khoảng 13% chiều dài đường bờ
đại dương thế giới. Ở Việt nam, các đầm phá tập trung ở Miền Trung. Từ Thừa
Thiên - Huế tới Ninh Thuận, có 12 đầm phá tiêu biểu với tổng diện tích khoảng
458km2, phân bố trên khoảng 21% chiều dài bờ biển Việt Nam. Hệ đầm phá Tam
Giang - Cầu Hai ở Thừa Thiên - Huế dài 70 km, rộng 216 km2 thuộc loại lớn nhất
Đông Á và loại lớn trên thế giới. Phá Tam Giang ngày xưa hai bên bờ là những

5. Bài 12
(Sự phân bố khí áp. Một số loại gió chính)
Ví dụ 1:
Trong bài thơ “Sóng” Xuân Quỳnh viết:
“Từ nơi nào sóng lên
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?”
“Gió bắt đầu từ đâu” Gió là sự chuyển động của không khí từ nơi áp cao (trị
số > 1013,25 mb) về nơi áp thấp (trị số < 1013,25 mb).
Nguyên nhân sinh ra gió là do sự chênh lệch về khí áp.
Ví dụ 2:
Ca dao có câu:
“Gió nam thổi kiệt bảy ngày
Ruộng đồng nứt nẻ, cỏ cây úa tàn”
Giáo viên có thể dùng câu ca dao này để nói đến thời tiết khô nóng những
ngày có gió phơn ở miền Trung nước ta.
Cơ chế hình thành gió phơn: Khi gió mát và ẩm thổi tới một dãy núi, bị núi
chặn lại, không khí ẩm bị đẩy lên cao. Nhiệt độ giảm theo tiêu chuẩn của khí ẩm,
trung bình cứ lên cao 100m giảm 0,6 0C. Vì nhiệt độ hạ, hơi nước ngưng tụ, mây
hình thành và mưa rơi bên sườn đón gió.

GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên

2


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
Khi không khí vượt sang sườn bên kia, hơi nước đã giảm nhiều. Nhiệt độ
tăng lên theo tiêu chuẩn không khí khô khi xuống núi, trung bình là 100m tăng
10C. Vì vậy sườn khuất gió có gió khô và rất nóng (gió phơn).


2


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
“Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa”
“Đen táp, bạc mưa”
Thực tế không có loại mây xanh. Bầu trời xanh tức là trời quang mây nên trời
nắng.
Mây đen tức mây dông, là loại mây đối lưu phát triển rất mạnh vào mùa hè
Mây trắng cũng là mây đối lưu tức thuộc loại mây tích hình thành vào buổi
sáng mùa hè. Nếu gặp điều kiện nhiệt độ thuận lợi thường phát triển thành mây
dông vào buổi chiều và gây ra mưa
Ví dụ 2:
“Trên trời mây trắng như bông
Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây”
(“Mây và bông” Ngô Văn Phú)
Đây là mây tích trông tựa như những múi bông hay bọt nước trắng xóa,
chân mây bằng phẳng, đỉnh mây nhô lên, độ cao của chân mây thường cách mặt
đất dưới 2000m. Loại mây này thường xuất hiện vào mùa nóng
Ví dụ 3:
Ca dao có câu:
“Én bay thấp mưa ngập bờ ao
Én bay cao mưa rào lại tạnh”
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”
Các em đã được tìm hiểu điều kiện ngưng đọng hơi nước trong khí quyển,
điều kiện hình thành mây và mưa. Hãy dựa vào mối liên hệ giữa sinh vật và hiện
tượng thời tiết để giải thích tại sao én bay thấp - cao có liên quan đến hiện tượng
mưa to hay mưa rào?

hai loài chim, Qụa hay tắm những lúc no mồi còn Sáo thì ít khi tắm, chỉ những lúc
nhiệt độ và độ ẩm tăng cao, thời tiết nóng bức đột ngột Sáo nhảy xuống nước tắm
làm mát cơ thể. Những lúc đó trời rất dễ mưa nên có câu tục ngữ trên.
Hay câu tục ngữ: “Trời đã sẩm tối rồi. Gà còn đi bới điểm trời sắp mưa”.
Khi thời tiết xấu, áp suất không khí giảm, độ ẩm tăng, các loài côn trùng bay ra
khỏi tổ, các loài giun, dế bò lên mặt đất ... đó là những mồi ngon của gà, nên gà
mãi mê bắt mồi quên cả việc về chuồng, nên ta có thể đoán được gà về chuồng
muộn là trời sắp mưa

GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên

2


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
Loài ốc, cua tuy là loài sống ở nước, chỉ những lúc ẩm mát chúng mới nổi
lên mặt nước hay bò lên các bụi cây để sinh sản: “Ốc nổi bờ ao, mưa rào sắp đến”
Ví dụ 4:
Tục ngữ có câu:
“Trăng quầng thì hạn trăng tán thì mưa”
Dự báo hiện tượng mưa
Mỗi khi quanh mặt trời hoặc mặt trăng xuất hiện những vòng ánh sáng khá
lớn màu trắng hoặc nhiều màu, ông bà lại nhắc con cháu thu dọn thóc đang phơi,
cất quần áo, đóng cửa sổ... Họ bảo nhau sắp có mưa gió đến. Vầng sáng ấy được
gọi là tán hay quầng
Quầng ánh sáng xuất hiện xung quanh mặt trời phần lớn là có màu sắc theo
thứ tự từ trong ra ngoài là hồng, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Quầng xuất
hiện quanh mặt trăng phần lớn là màu trắng.
“Quầng” xuất hiện khi bầu trời có mây ti tầng. Lớp mây này là những mây ở
tầng cao do vô vàn tinh thể băng li ti tạo thành, đáy lớp mây cách mặt đất khoảng

định có mưa gió. Chủ yếu ở đây là thời tiết sẽ xấu đi, còn mưa gió hay không lại
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa.
Ví dụ 5:
Tục ngữ có câu:
“Dày sao thì nắng
Vắng sao thì mưa”
Về mùa hè vào ban đêm nhìn thấy sao mọc dày và sáng ta có thể biết được
trời còn có thể nắng và ngược lại sao mọc thưa là báo hiệu trời có thể mưa
Cơ sở khoa học: lớp không khí chứa ít hơi nước thì bầu trời mới quang mây
và đó là điềm trời nắng cho nên mới nhìn thấy sao mọc dày và sáng
Ngược lại không khí có dộ ẩm cao, bầu trời sẽ nhiều mây và đục mờ, đó là
điềm trời dễ có mưa cho nên mới thấy sao thưa
Câu ca dao sau cũng có ý nghĩa tương tự như câu tục ngữ trên:
“Đêm trời tang, trăng sao không tỏ,
Ấy là điềm mưa gió tới nơi.
Đêm nào sao sáng xanh trời,
Ấy là nắng ráo yên vui suốt ngày.”
Ví dụ 6:
Tục ngữ có câu:
GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên

2


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
“Mặt trăng má đỏ
Trời đã sắp mưa”
Dự báo hiện tượng mưa
Cơ sở khoa học: Ánh sáng Mặt Trời là dãy ánh sáng quang phổ gồm 7 màu.
Mặt Trăng không phát ánh sáng mà phản chiếu ánh sáng Mặt Trời. Nếu không khí


Bay thấp

Những con mối

Bay cao

Gà con

GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên

2


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
Rối rít tìm nơi

Gỡ tóc

Mưa

Ẩn nấp

Hàng bưởi

Mưa

Ông trời

Đu đưa


Đất trời

Hành quân

Khô khốc

Mù trắng nước

Đầy đường

Sấm

Mưa chéo mặt sân

Lá khô

Ghé xuống sân

Sủi bọt

Gió cuốn

Khanh khách

Cóc nhảy chồm chồm

Bụi bay

Cười


Đội cả trời mưa“

7. Bài 15
(Bài 15: Thủy quyển. Một số nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước sông)
Ví dụ
Ca dao có câu:
“Sông Vàm Cỏ nước trong thấy đáy,
Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng”
“Bạc Liêu nước chảy lờ đờ,
Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu”
“Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng” hay “Bạc Liêu nước chảy lờ đờ”
phản ánh tốc độ chảy của sông Cửu Long (sông này chảy qua địa phận tỉnh Bạc
Liêu) chậm, nước sông lên chậm rút chậm.
GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên

2


Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12
Nguyên nhân: Lưu vực dạng lông chim, diện tích lớn, độ dốc nhỏ, lưu vực
chảy qua địa hình đồng bằng. Vai trò của Biển Hồ điều tiết chế độ nước sông. Mùa
lũ từ tháng 7 đến 12 lũ lên chậm và xuống chậm bởi khi sông thoát lũ ra biển đổ
theo 9 cửa khiến cho lũ thoát nhanh. Đồng bằng địa hình thấp cộng với hệ thống
kênh rạch chằng chịt có tác dụng phân lũ nhanh sang các khu vực xung quanh.
8. Bài 16
(Sóng. Dòng biển. Thủy triều)
Ví dụ 1:
Trong bài thơ “Sóng” Xuân Quỳnh viết:
“Từ nơi nào sóng lên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status