skkn sử dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy bộ môn hóa học lớp 12 tại trung tâm giáo dục thương xuyên thành phố thanh hóa. - Pdf 19

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRUNG TÂM GDTX THÀNH PHỐ THANH HOÁ
****************** TÊN SKKN :
" SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG GIẢNG DẠY BỘ MÔN
HÓA HỌC 12 – TẠI TTGDTX-THÀNH PHỐ THANH HÓA ”

Họ và tên tác giả : Hoàng Thị Tuyên
Chức vụ : Giáo viên bộ môn Hóa Học
Đơn vị công tác : Trung tâm GDTX Thành Phố TH
SKKN bộ môn : Hóa Học
SKKN Năm học : 2012-2013
1
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài.
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh là yêu cầu bức thiết của toàn xã hội và là yếu tố
quyết định trong nền giáo dục nước nhà trong thời kỳ hội nhập hiện nay.
Mục tiêu cơ bản mà ngành giáo dục hướng tới trong việc đổi mới phương
pháp dạy học là hình thành ở học sinh những kiến thức, kĩ năng, thái độ mà gọi
chung đó là năng lực.Việc phát triển tư duy cho học sinh luôn là một trong
những ưu tiên hàng đầu của mục tiêu giáo dục. Để hướng học sinh có cách thức
học tập tích cực và tự chủ, giáo viên không chỉ cần giúp các em khám phá kiến
thức mới mà còn giúp các em hệ thống được những kiến thức đó. Việc xây dựng
một phương pháp học tập thể hiện được mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang
lại những lợi ích về các mặt: ghi nhớ, nhận thức, tư duy, sáng tạo, mà một
trong những công cụ mang lại được các mặt trên đó chính là bản đồ tư duy.
Chương trình Hóa học lớp 12 có nhiều bài dài, nội dung lí thuyết nhiều vì
vậy mà đối với học sinh của TTGDTXTP nhìn chung ít hứng thú học tập do đặc

phát huy được tối đa năng lực sáng tạo của mỗi người.
Bản đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên
tưởng (các nhánh). Có thể vận dụng bản đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức
mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi
chương, mỗi học kì… và giúp cán bộ quản lí giáo dục lập kế hoạch công tác.
I.2. Nguồn gốc của bản đồ tư duy
Tony Buzan là người đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu tìm ra hoạt động
của bộ não. Theo Tony Buzan “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ…” và
“màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh. Màu sắc mang đến cho
bản đồ tư duy những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng
vô tận cho tư duy sáng tạo”.
Bản đồ tư duy một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là
một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc
phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai
thác tiềm năng vô tận của bộ não. Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óc
hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc.
I.3. Cách lập bản đồ tư duy
BĐTD có thể vẽ trên giấy, bìa, bảng phụ,… bằng cách sử dụng bút chì
màu, phấn, tẩy,… hoặc cũng có thể thiết kế trên powerpoint hoặc các phần mềm
bản đồ tư duy.
Khi vẽ bản đồ tư duy chúng ta có thể thực hiện theo các bước sau:
- Dùng từ chìa khóa và ý chính.
- Viết cụm từ, không viết thành câu.
3
- Dùng các từ viết tắt.
- Có tiêu đề.
- Đánh số các ý.
- Liên kết ý (nên dùng màu sắc, nét đứt, mũi tên )
- Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng.
- Sử dụng màu sắc để ghi.

cách tổng thể, khoa học chứ không phải là học vẹt, học thuộc lòng. Khối lượng
kiến thức ngày càng tăng theo cấp số nhân. Vì vậy sử dụng bản đồ tư duy rèn
cho các em khả năng tư duy logic để có thể vận dụng vào cuộc sống và công
việc sau này khi các em học lên, trưởng thành.
- Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học kiến thức mới giúp HS học tập một
cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả HS tham gia xây dựng bài một
cách hào hứng. Với sản phẩm độc đáo “kiến thức + hội họa” là niềm vui sáng
tạo hàng ngày của HS và cũng là niềm vui của chính thầy cô giáo và phụ huynh
HS khi chứng kiến thành quả lao động của học trò của mình. Cách học này còn
phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì
trên bản đồ tư duy), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước
đó để chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình
vẽ, chữ viết, màu sắc), vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Ngoài việc vẽ bản đồ tư duy trong học tập, nên tập cho các em có thói
quen sử dụng bản đồ tư duy tự ghi tóm lược nội dung chính của cuốn sách dưới
dạng bản đồ tư duy khi các em đọc sách. Hoặc gợi ý cho các em lập kế hoạch
học tập, vạch kế hoạch cho bản thân để biến ước mơ thành hiện thực trong tương
lai, các kế hoạch này có thể được bổ sung dần dần theo năm tháng bằng cách vẽ
thêm nhánh khi mỗi người có sự điều chỉnh kế hoạch.
5
II. Cơ sở thực tiễn
II.1. Thực trạng chung
- Trong quá trình dạy học tại TTGDTX-TP tôi thấy rằng rất ít giáo viên
sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học mà vẫn còn tình trạng đang dùng các
phương pháp dạy học cũ là đọc - chép, giáo viên ghi bảng học sinh chép vào
vở vì vậy mà hiệu quả dạy và học không cao.
- Qua thực tế giảng dạy tôi thấy, học sinh rất sôi nổi, hào hứng khi được
học bằng bản đồ tư duy, tự mình với óc sáng tạo và kiến thức hội họa tạo ra cho
bản thân học sinh một bản đồ kiến thức. Mặt khác đối với những em ít hoạt động
trong lớp, ít tham gia thảo luận tập thể thì đây là cơ hội để các em hòa đồng với

+ Nên trừ khoảng trống để bổ sung ý khi cần thiết.
III.1. Quy trình thiết kế một bản đồ tư duy:
Hoạt động 1: HS lập BĐTD theo nhóm hay cá nhân với gợi ý của giáo viên
Ví dụ: Để sử dụng bản đồ tư duy trong dạy mục II - Cấu tạo phân tử trong bài
“Bài 5- Glucozơ” giáo viên hướng dẫn học sinh lập bản đồ tư duy bằng các gợi
ý sau:
- Glucozơ có công thức phân tử như thế nào?
- Để xác định cấu tạo của glucozơ dựa vào các phản ứng hóa học nào?
Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết
minh về bản đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập.
Qua hoạt động này vừa biết rõ việc hiểu kiến thức của các em vừa là một
cách rèn cho các em khả năng thuyết trình trước đông người, giúp các em tự tin
hơn, mạnh dạn hơn, đây cũng là một trong những điểm cần rèn luyện của học
sinh nước ta hiện nay.
Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện bản đồ tư
duy về kiến thức của bài học đó.
Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh bản
đồ tư duy, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một bản đồ tư duy.
Giáo viên cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức của bài học
thông qua một bản đồ tư duy do GV đã chuẩn bị sẵn (vẽ ở bảng phụ hoặc ở bìa),
hoặc bản đồ tư duy mà các em vừa thiết kế và cả lớp đã chỉnh sửa, hoàn thiện.
Vì bản đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm học sinh
có chung một kiểu bản đồ tư duy, giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về
mặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức nếu cần.
Ví dụ: Sau khi thảo luận xong mục 3. Cách làm mềm nước cứng trong
Bài 26: Kim loại kiềm thổ và hợp chất quan trọng của kim loại kiền thổ. Giáo
viên dùng bản đồ tư duy sau để học lên trình bày, thuyết minh về kiến thức cách
làm mềm nước cứng:
7

3↓

CaCO
3

MgCO
3↓

CaCO
3

MgCO
3↓

Ca
3
(PO
4
)
2↓

Mg
2
(PO
4
)
2↓

Na
+

không bị sót ý. Học sinh thay vì cắm cúi ghi chép thì chọn lọc các thông tin quan
trọng, sơ đồ hoá chúng bằng các mối quan hệ và thể hiện lại theo cách hiểu của
mình. Với cách học này cả giáo viên và học sinh đều phải tham gia vào quá trình
dạy học tích cực hơn. Giáo viên vừa giảng bài vừa thể hiện trên bản đồ tư duy
hoặc vừa tổ chức cho học sinh khai thác kiến thức vừa hoàn thành bản đồ tư duy.
Học sinh được nghe giảng, nhìn bản đồ, trả lời câu hỏi, đọc sách giáo khoa, ghi
chép… sự tập trung chú ý được phát huy, cường độ học tập theo đó cũng được
đẩy nhanh, học sinh học tập tích cực hơn.
Khi dạy học trên lớp giáo viên có thể sử dụng bản đồ tư duy để dạy cả 1
tiết học hoặc dạy một phần nào đó trong bài. Tuy nhiên không phải bài nào, mục
nào cũng có thể sử dụng bản đồ tư duy. Giáo viên nên chọn những bài nào, mục
nào mà dung lượng kiến thức vừa phải và giữa các phần mục có liên quan mật
thiết với nhau. Đặc biệt là chọn những bài khó dạy theo phương pháp cũ.
III.2.2.1. Dùng bản đồ tư duy dạy học cả một bài.
Bài 27: Nhôm và hợp chất của nhôm - tiết 1. Đây là một bài dạy tương
đối dài, nhiều kiến thức, nếu dạy theo phương pháp cũ có thể dạy không hết bài.
Do đó tôi đã mạnh dạn lựa chọn phương pháp dạy theo kiểu bản đồ tư duy.
Cấu trúc của bài học; Gồm 5 phần chính
- Vị trí trong bảng tuần hoàn, cấu hình electron nguyên tử.
- Tính chất vật lí.
- Tính chất hóa học
- Ứng dụng - trạng thái tự nhiên.
10
- Sản xuất nhôm.
Thực hiện tiết dạy như sau:
Hoạt động 1: bài cũ: Nguyên tử nguyên tố X có Z = 13, viết cấu hình electron
và xác định vị trí trong bảng tuần hoàn của X? Gọi HS lên bảng trả lời
Hoạt động 2: Chia nhóm, giao nhiệm vụ
Bước 1. Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm xong sau đó nêu vến đề:
Nguyên tố X ở trên chính là nguyên tố nhôm. Vậy nhôm có những tính chất gì,

còn trống.

Bước 2. Giáo viên có thể đặt thêm các câu hỏi sau để mở rộng kiến thức:
- Trong phản ứng: 2 Al + 2NaOH + 2H
2
O → 2NaAlO
2
+ 3H
2
↑. Chất nào
đóng vai trò là chất oxihoa?
- Nhôm tác dụng được với dung dịch HCl và tan được trong dung dịch
NaOH. Vậy nhôm có phải là chất lưỡng tính hay không?
Bước 3. Giáo viên thuyết minh lại bản đồ tư duy và đánh giá nhận xét kết
quả của các nhóm.
12
NaAlO
2
+H
2
Khử Al
3+
Điện phân nóng chảy
Quặng boxit
Al
2
O
3
AlBr
3

1
Hợp chất, Q boxit….
trắng bạc
2,7g/cm
3
tốt
2Al
2
O
3
→ 4Al +3O
2
đpnc
Thụ động
Al(NO
3
)
3
+NO+H
2
O
Ví dụ: ở tiết 2 Bài 21: Điều chế kim loại
Gồm mục 3 phương pháp điện phân:
+ Điện phân nóng chảy.
+ Điện phân dung dịch.
+ Tính khối lượng các chất thu được ở các điện cực.
Đặc điểm của tiết học này là HS đã được học về điều chế kim loại bằng
phương pháp thủy luyện, điều chế kim loại bằng phương pháp nhiệt luyện (ở tiết
trước) và đã biết một số phản ứng về điện phân, đã làm quen định luật Farađây ở
môn vật lí nên HS có thể tự xây dựng được kiến thức mới thông qua việc lập

- Cấu tạo phân tử và Tính chất hóa học.
Trong các mục đó tôi sử dụng bản đồ tư duy để dạy mục III. Cấu tạo phân
tử và tính chất hóa học.
Các bước thực hiện như sau:
Hoạt động 1: Chia hoạt động cá nhân giao nhiệm vụ.
14
Bước 1. Giáo viên dẫn giắt vấn đề: Cấu tạo của một chất ảnh hưởng rất
lớn tính chất hóa học. Amin có cấu tạo như thế nào? Cấu tạo và tính chất của
amin có gì giống và khác so với NH
3
ta sẽ tìm hiểu ở mục này?
Bước 2. Giáo viên ghi cụm từ chìa khóa lên bảng ”Cấu tạo phân tử và
tính chất hóa học” và gợi ý cho các nhóm bằng các gợi ý sau:
- NH
3
có cấu tạo như thế nào?
- Amin có cấu tạo tương tự NH
3
hãy dự đoán các tính chất hóa học của
amin?
Bước 3. Các nhóm làm việc, giáo viên theo dõi và hỗ trợ các nhóm khi
cần thiết.
Hoạt động 2: Các nhóm báo cáo, thuyết minh về bản đồ tư duy của nhóm mình.
Giáo viên gọi lần lượt đại diện lên bảng thuyết minh lại bản đồ tư duy của
nhóm.
Hoạt động 3. Các nhóm thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện bản đồ tư duy.
Bước 1. Giáo viên cho các nhóm bổ sung, nhận xét kết quả của từng
nhóm để hoàn thiện kiến thức.
Bước 2. Giáo viên với chức danh là người trọng tài để các nhóm thảo
luận. công nhận và bổ sung những ý kiến đúng, chỉnh sữa uốn nắn những ý kiến

3
COOCH=CH
2
,
CH
3
COOC(CH
3
)=CH
2
, CH
3
COOC
6
H
5
. Từ đó rút ra dạng tổng quát.
Hoạt động 2: Đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh về BĐTD mà
nhóm mình đã thiết lập.
Hoạt động 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD về kiến
thức của tiết học này. GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh
BĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một BĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn
BĐTD, cho HS lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó.
Giáo viên thuyết minh lại bản đồ tư duy và đánh giá nhận xét kết quả của các
nhóm.
III.2.2.3. Sử dụng bản đồ tư duy để tổng hợp kiến thức một chương hoặc
nhiều bài học.
Trước đây, các tiết ôn tập chương một số GV cũng đã lập bảng biểu, vẽ
sơ đồ, biểu đồ,… và cả lớp có chung cách trình bày giống như cách của GV

học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT đang đẩy mạnh triển khai.
Một trong những ưu điểm nổi bật của bản đồ tư duy là có thể thể hiện một
lượng thông tin nhỏ đến lớn hoặc rất lớn.Tương tự như các hoạt động dạy học
bằng bản đồ tư duy ở các phần mục trên thì giáo viên và học sinh có thể sử dụng
bản đồ tư duy để tóm tắt lại kiến thức của một chương hoặc nhiều bài học.
Tuy nhiên khi lựa chọn thì giáo viên nên chọn vấn đề là các nội dung có
điểm chung với nhau, có mối quan hệ với nhau thông qua từ chìa khóa. Tùy theo
mục đích sử dụng mà có thể thiết kế bản đồ tư duy sẵn ở nhà, hoặc lập tại tiết
học. Một trong những trải nghiệm của tôi là giáo viên nên hướng dẫn và giao
cho các nhóm về nhà thiết kế trước.
Ví dụ 1: Trong tiết 11: Bài 7: Luyện tập. Cấu tạo và tính chất của
cacbohiđrat. Giáo viên có thể sử dụng bản đồ tư duy để hệ thống hóa lại kiến
thức phần cacbohiđrat. (Cho các nhóm chuẩn bị sẵn trước ở nhà)
Cacbohiđrat gồm:
- Glucozơ. (Học trong 1 tiết)
- Saccarzơ. (Học trong 1 tiết)
- Tinh bột. (Học trong 1 tiết)
- Xenlulozơ. (Học trong 1 tiết)
Giữa các bài này có mối quan hệ mật thiết với nhau vì vậy chúng ta hoàn
toàn có thể sử dụng bản đồ tư duy.
GV cho đại diện của các nhóm HS lên thuyết minh về BĐTD mà nhóm
mình đã thiết lập.
GV củng cố kiến thức bằng một BĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn. So sánh
nhận xét với BĐTD của các nhóm.
18
Nhận xét chung:
Sau khi sử dụng bản độ tư duy để ôn tập thì giáo viên và học sinh sẽ:
- Giáo viên dành thời gian cùng học sinh hệ thống lại các nội dung đã học
về cacbohiđrat. Sau đó làm thêm một số dạng bài tập đã chuẩn bị sẵn trước.
- Một lần nữa học sinh được khắc sâu kiến thức và củng cố cho các em

GDTX Thành phố Thanh Hóa”. Tôi thu được các kết quả như sau :
Năm học 2011-2012 tôi áp dụng phương pháp dạy học cũ (khi chưa vận dụng
phương pháp này) cho học sinh lớp 12A
1
.Đến năm học 2012-2013 tôi vận dụng
phương pháp này cho hoc sinh lớp 12A đã có chuyển biến rõ rệt kết quả thu
được cụ thể như sau :
Tổng số
HS
Chưa hiểu bài Hiểu bài chưa kỹ Hiểu bài
T S % T S % T S %
2011- 2012
40 16 40 16 40 8 20
2012- 2013
40 8 20 12 30 20 50
Do năng lực và thời gian có hạn, đề tài có thể chưa bao quát hết được các bài,
các chương. Các ví dụ được đưa ra trong đề tài có thể chưa thực sự điển hình.
Rất mong sự đóng góp ý kiến bổ sung cho đề tài để thực sự góp phần giúp cho
việc giảng dạy và học tập môn hoá học trong nhà trường ngày càng tốt hơn.

XÁC NHẬN CỦA Thanh Hóa, ngày 05 tháng 5 năm 2013
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác
(Ký và ghi rõ họ tên)

Hoàng Thị Tuyên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
21
1. Trần Đình Châu, Sử dụng Bản đồ tư duy - một biện pháp hiệu quả hỗ trợ HS


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status