Chơng I: Lý luận về kinh doanh hàng nhập khẩu ở
doanh nghiệp
1.1. Hoạt động nhập khẩu hàng hoá trong nền kinh tế thị trờng nớc ta
Nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế bao gồm một hệ thống các quan hệ
kinh tế . khi các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể đều biểu hiển qua mua
bán hàng hoá , dịch vụ trên thi trờng .
Nền kinh tế thị trờng mang lại một khối lợng hàng hoá dịch vụ dồi dào
phong phú mà nền kinh tế chỉ huy cha bao giờ đạt đợc ; mọi hoạt động mua
bán đều theo giá cả thị trờng ; tiền tệ hoá các mối quan hệ kinh tế ; sản xuất
và hàng hoá các mối quan hệ kinh tế ; sản xuất và bán hàng hoá theo nhu
cầu thị trờng , kinh tế thi trờng là nền kinh tế mở ;cạnh tranh là môi trờng
kinh tế thị trờng quyền tự chủ , tự do của doanh nghiệp cao.
1.1.1. Vai trò và bản chất cuă nhập khẩu hàng hoá
Trớc đây nền kinh tế Việt Nam la một nền kinh tế mang nặng tính tự
cung tự cấp,sản xuất thay thế nhập khẩu. Ngay nay, trong điều kiện của thế
giới hiện đại , đời sống kinh tế ngày càng cao , sự phân công lao động xã
hội ngày càng sâu sắc thì không một quốc gia nào có thể phát triển có hiệu
quả kinh tế trong nớc với chính sách đóng cửa của mình.
Cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển mạnh trở thành nhân tố quyết
định sự phát triển của sản xuất .Trong khi đó chính sách đóng cửa đã hạn
chế khả năng tiếp thu kỹ thuật mới , làm cho nền kinh tế nông nghiệp lạc
hậu sản xuất nhỏ là phổ biến không có nguồn bổ sung kỹ thuật tiên tiến.
Kết quả tất yếu là năng suất lao động thấp, hiệu quả kém, khả năng cạnh
tranh yếu, tốc độ tăng trởng chậm. Do đó đối với nứơc ta là một nớc đang
phát triển còn nghèo nàn lạc hậu thì nhập khẩu là vấn đề không thể thiếu,
nó có vai trò vô cùng quan trọng đợc thể hiện ở các khía cạnh sau :
_ Thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hớng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
_ Nhập khẩu theo hình thức tạm nhập tái xuất là hình thức nhập khẩu
hàng hoá từ nớc ngoài vào trong nớc nhng không nhằm mục đích tiêu thụ
trong nớc mà để xuất khẩu sang nớc thứ 3 nhằm mục đích thu về một số
ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu. Hoạt động này luôn thu hút 3 nớc: nớc
xuất khẩu, nớc nhập khẩu, nớc tái xuất.
_ Nhập khẩu dới hình thức liên doanh liên kết là hoạt động nhập khẩu
hàng hoá trên cơ sở liên kết một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp
( trong dó ít nhất một doanh nghiệp đợc quyền xuất nhập khẩu trực tiếp )
nhằm phối hợp thế mạnh để cùng tiến hành giao dịch nhập khẩu đề ra chủ
trơng biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động
này theo hớng có lợi cho cả hai bên, cùng chia lãi và cùng chịu lỗ.
- Nhập khẩu thông qua đấu thầu quốc tế là phơng thức giao dịch đặc
biệt , trong đó ngời mua ( ngời gọi thầu ) công bố trớc các điều kiện mua
hàng để ngời bán ( ngời dự thầu ) báo giá cả và các điều kiện khác . Sau đó
ngời mua sẽ lựa chọn mua hàng của ngời nào báo giá và các điều kiện khác
phù hợp với yêu cầu của ngời mua dặt ra . Đấu thầu là hình thức đợc các
nhà nhập khẩu sử dụng phổ biến, đặc biệt la ở những nớc đang phát triển .
Nó có ơu điểm chỉ có một ngời mua và có nhiều ngời bán nên thông
qua đấu thầu sẽ phát huy đợc tính cạnh tranh giữa các nhà cung cấp , nhờ
đó ngời mua sẽ có khả năng lựa chọn đợc ngời dự thầu thoả mãn nhu caauf
cao nhất.
- Nhập khẩu thông qua hình thức đối lu bao gồm các hình thức hàng
đổi hàng ( Barter ), chuyển giao công nghệ mua sản phẩm hay buôn bán
bù trừ . Đây là một hình thức phổ biến ở các nớc đang phát triển vì nó giúp
cho các nớc này tránh đợc những khó khăn do không có khả năng thanh
toán nhập khẩu , đồng thời nhập khảu thông qua mậu dichj đối lu còn tạo ra
thị trờng cho việc nhập khẩu các sản phẩm đợc sản xuất ra trong nớc . Tuy
nhiên , ngời nhập khẩu cũng có thể sẽ phải trả giá cao hơn cho hàng nhập
khẩu và sẽ mất nhiều thời gian hơn .
cục hải quan tỉnh ( Thành phố ) tại khoản 3điều 8 , nghị định 57/1998/NĐCP , ngày 31/07 /1998 qui định chi tiết thi hành luật thơng mại về hoạt
4
động nhập khẩu . Nhằm hạn chế hn nữa sự can thiệp của nhà nớc và hoat
động kinh doanh, tạo hành lang pháp lý thông thoáng , bình đẳng cho hoatj
động nhập khẩu của các doanh nghiệp .Nghị định 57 CP đă xoá bỏ hoàn
toàn chế độ giấy phép kinh doanh xuát nhập khẩu , đem lại sự chuyển biến
cơ bản cho cơ chế quản lý xuât nhập khẩu . Quyền kinh doanh và quyền tự
chủ của doanh nghiệp đợc tôn trọng . Các hàng hoá hầu hêt đợc làm thủ tục
nhập khẩu trực tiếp tại hải quan và chụi sự điều tiết của chính sách thuế
1.2. Nội dung của hoạt động kinh doanh hàng nhập khẩu của các
doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm kinh doanh hàng nhập khẩu .
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của thơng mại quốc tế . Nhập
khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống .
Nhập khẩu là để tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật , công nghệ tiên tiến ,
hiện đại cho sản xuất và các hàng hoá cho tiêu dùng mà trong nớc không
sản xuất đợc , hoăc sản xuất không đáp ứng nhu cầu . Nhập khẩu còn để
thay thế , tức là nhập khẩu những thứ mà sản xuất trong nớc không có lợi
bằng nhập khẩu .
Hoạt động kinh doanh hàng nhập khẩu là một hoat động mà viêc mua
bán đợc thực hiện giữa các quốc gia với nhau , do đó nó rất phức tạp , mua
bán qua trung gian chiếm tỉ trọng lớn , đồng tiền thanh toán là ngoại tệ
mạnh , hàng hoá vận chuyển qua biên giới , cửa khẩu của các quốc gia
khác , hoạt động mua bán phải tuân theo những tập quán , những thông lệ
quốc tế cũng nh địa phơng .
Hoạt động kinh doanh hàng nhập khảu có liên quan trực tiếp đến các
mối quan hệ chính trị và kinh tế giữa nớc nhập khẩu và xuất khẩu . Nhập
quả cao trong hoạt động kinh doanh của mình .
Nghiên cứu thị trờng nhập khẩu để lựa chọn nhà cung cấp cần phải
quan tâm đến những vấn đề sau :
- Giá bán mặt hàng đó trên thi trờng và giá cả mà nhà cung cấp
bán cho doanh nghiệp .
6
- Khả năng cung ứng hàng hoá của nhà cung cấp .
- Uy tín của nhà cung cấp
- Thơng hiệu của nhà cung cấp về mặt hàng đó : Nghiên cứu về
phản ứng của ngời tiêu dùng đối với nhãn hiệu hàng hoá .
Nói tóm lại , việc điều tra nghiên cớu và mở rộng thị trờng là rất
cần thiết .
1.2.3. Lập phơng án kinh doanh hàng nhập khẩu .
Các bớc trong việc lập phơng án kinh doanh hàng nhập khẩu :
- Lựa chọn mặt hàng nhập khẩu : Các doanh nghiệp chuyên kinh
doanh hàng nhập khảu thì những mặt hàng đợc lựa chon phải thuộc
phạm vi đợc xác định trong giấy phép kinh doanh , còn với các tổ chc
mua sắm hàng nhập khẩu thì các mặt hàng này đợc cân nhắc trên cơ
sở nhu cầu mua sắm hàng hoá của mình .
- Lựa chon mặt hàng : Trong giao dịch và đàm phán kinh doanh
phải tuân theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi . Thờng thì các doanh
nghiệp nên lựa chọn những bạn hàng quen thuộc để hạn chế những
rủi ro , cũng có thể lại có những chính sách u tiên đặc biệt mà bạn
hàng giành cho .
- Ngoài ra , cũng có thể lựa chon bạn hàng theo các tổ chức nh :
ASEAN , WTO ,... để có những chính sách u đãi .
- Lựa chon các phơng thức giao dịch . Có rất nhiều các phơng
thức giao dịch khác nhau nh : Giao dich thông thờng , giao dịch qua
Để đánh giá hiệu quả kinh doanh hàng nhập khẩu ta sử dụng các chỉ
tiêu so sánh nh sau:
-Số lợng thực hiện nhập khẩu so với đơn hàng.
-Chủng loại mặt hàng thực hiện so với kế hoạch.
-Tiến độ nhập khẩu hàng so với hợp đồng đã ký.
- Doanh số mua và bán hàng hoá.
- Chi phí kinh doanh.
- Lợi nhuận đạt đợc so với cùng kỳ năm trứơc.
8
1.3. Đặc điểm và những yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh
hàng nhập khẩu ở các doanh nghiệp.
1.3.1. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh hàng nhập khẩu ở các doanh
nghiệp
Hoạt động kinh doanh hàng nhập khẩu la hoạt động kinh doanh buôn
bán trên phạm vi quốc tế, nó không là hành vi mua bán riêng lẻ mà nó bao
gồm nhiều quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong và bên ngoài
nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi
cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bớc nâng cao mức sống của nhân dân.
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán
trên phạm vi quốc tế nên nó có những nét riêng phức tạp hơn trong nớc nh:
giao dịch với ngời có quốc tịch khác nhau, thị trờng rộng lớn khó kiểm soát,
mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, đồng tiền thanh toán bằng
ngoại tệ mạnh, hàng hoá vận chuyển qua biên giới, cửa khẩu các quốc gia
khác nhau phải tuân theo các tập quán quốc tế cũng nh địa phơng.
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu đợc tổ chức thực hiện với nhiều
nghiệp vụ, nhiều khâu từ điều tra thị trờng nứơc ngoài, lựa chọn hàng hoá
nhập khẩu, thơng nhân giao dịch, các bớc tiến hành giao dịch đàm phán, ký
Quản lý nhà nớc về hoạt động nhập khẩu: những chính
sách nhập khẩu quan trọng nhất của Việt Nam bao gồm: Giấy
phép nhập khẩu. hạn nghạch nhập khẩu. thuế nhập khẩu, kiểm
soát ngoại tệ, tỷ giá hối đoái.
-Thuế nhập khẩu: làm tăng giá thành nhập khẩu, dẫn đến
giảm lợi nhuận của các nhà nhập khẩu. khi muốn khuyến khích
nhập khẩu một loại hàng nào đó thì nhà nớc chỉ cần giảm mức
thuế nhập khẩu,hoặc là cũng có thể trợ cấp thêm cho nhà nhập
khẩu và ngựơc lại, nếu muốn hạn chế nhập khẩu một loại hàng
hoá nào đóthì tăng thuế nhập khẩu lên. Nói chung thuế nhập khẩu
nhằm mục đích bảo vệ và phát triển sản xuất, hớng dẫn tiêu dùng
10
trong nứơc và góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nứơc.
-Hạn ngạch nhập khẩu: là hình thức hạn chế về số lợng và
thuộc hệ thống giấy phép không tự động. Mục tiêu của biện pháp
này của nhà nớc nhằm: bảo hộ sản xuất trong nớc, sử dụng hiệu
quả quỹ ngoại tệ, bảo đảm các cam kết của chính phủ ta với nớc
ngoài.
-Giấy phép nhập khẩu: áp dụng đối với một số hàng hoá yêu
cầu phải có giấy phép nhập khẩu nh:
+ Hàng nhập khẩu theo hợp đồng mua bán ngoại thơng
+ Vật t, nguyên liệu, thiết bị nhập khẩu đẻ gia công xuất
khẩu
+ Hàng nhập khẩu theo các dự án đầu t chuyển giao công
nghệ
+Hàng dự hội trợ triển lãm, hàng quảng cáo
+Hàng nhập khẩu theo con đờng viện trợ và vay nợ
nhập khẩu nói riêng của công ty.
Hoạt động trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế tạo ra tiền đề và cơ hội
cho sự hình thành và phát triển một lĩnh vực kinh doanh , đó là kinh doanh
thơng mại.
Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn
của quá trình đầu t, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch
vụ trên thị trờng nhằm mục đích sinh lợi. Tiến hành bất kỳ hoạt động kinh
doanh nào đều có nghĩa là tập hợp các phơng tiện , con ngời .... và đa họ
vào hoạt động để sinh lời cho doanh nghiệp .
Kinh doanh thơng mại là sự đầu t tiền của , công sức của cá nhân hay
tổ chức kinh tế vào lĩnh vực mua bán hàng hoá nhằm tìm kiếm lợi nhuận
.Tranimexco- Hà nội là một công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh
xuất nhập khẩu . Hàng năm doanh thu chủ yếu của công ty từ mặt hàng
linh kiện xe máy , hàng hoá chất , săm lốp ô tô , nhựa đờng , máy công
trình .
Để hiểu rõ hơn về hoạt dộng kinh doanh của công ty Tranimexo hà
nội chúng ta hãy nghiên cứu chi tiết đối với từng mặt hàng .
2.2 Hoạt động kinh doanh hàng nhập khẩu của Cty .
2.2.1 Về mặt hàng .
2.2.1.1. Mặt hàng xe máy:
Xe máy là một phơng tiện rất phổ biến đối với Việt Nam trong những
năm gần đây, vì vậy trong giai đoạn 2001 - 2004 giá trị nhập khẩu mặt hàng
này tăng liên tục. Tuy nhiên xe máy lại không phải là mặt hàng kinh doanh
13
chính của công ty nên giá trị nhập khẩu ở mức thấp nhất trong 5 loại mặt
hàng kinh doanh nhập khẩucủa công ty, nó chỉ chiếm 7% tổng kim ngạch
nhập khẩu.
thói quen tiêu dùng của ngời dân thay đổi và chất lợng xe máy của Trung
Quốc cũng đợc cải thiện đáng kể, xe máy của Việt Nam cũng đã có chỗ
đứng trên thị trờng trong nớc nên công ty đã chuyển hẳn sang kinh doanh
chủ yếu là xe máy nhập khẩu từ Trung Quốc. Năm 2001 và 2002 công ty
nhập khẩu từ các nớc Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc đến năm 2003 và
2004 công ty đã chuyển hẳn sang thị trờng các nớc Thái Lan và Trung
Quốc (trong đó Trung Quốc là chủ yếu).
Trong năm 2001 giá trị nhập khẩu xe máy từ Nhật Bản và Thái Lan
chiếm tỷ trọng rất lớn, tổng kim ngạch nhập khẩu từ 2 thị trờng này là
224.996,6 USD chiếm tới 90% tổng kim ngạch nhập khẩu của loại mặt
hàng này. Năm 2002, điều kiện tiêu dùng của ngời dân thay đổi làm cho
kim ngạch nhập khẩu xe máy của công ty từ các thị trờng Nhật Bản và Thái
Lan thay đổi đáng kể. Tổng kim ngạch nhập khẩu từ cả hai thị trờng Nhật
Bản và Thái Lan trong năm 2002 chỉ đạt 100.6234 USD chiếm 35% tổng
kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng này. Trong năm 2001 giá trị nhập khẩu
xe máy từ thị trờng Trung Quốc đạt 24.999,6 USD chiếm 10% tổng kim
ngạch nhập khẩu xe máy trong năm 2001. Đến năm 2002 giá trị nhập khẩu
14
đã tăng đến 186.872,2USD (tăng 7,5lần so với năm 2001) chiếm 65%.
Đến năm 2003 công ty đã không nhập khẩu xe máy từ thị trờng Nhật
Bản nữa mà đã chuyển hẳn sang thị trờng Trung Quốc do thị yếu của ngời
dân Việt Nam. Kim ngạch nhập khẩu từ thị trờng Trung Quốc đạt
252.277,4USD chiếm 75% tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2003 còn lại là
nhập khẩu từ thị trờng Thái Lan.
Năm 2004 kim ngạch nhập khẩu từ thị trờng Trung Quốc vẫn tăng rất cao
đạt 347.052,2 USD chiếm 79,5%, nguyên nhân là do giá của xe máy Trung
Quốc chỉ bằng 1/2; 1/3 giá của các loại xe của các nớc Nhật Bản, Thái Lan,
thậm chí cả xe máydo Việt Nam lắp ráp, không chỉ vậy mà chủng loại mẫu
Tây Đức
76.132,3
4
Mỹ
58.576,6
5
Nhật Bản
75.371,0
158.355,2 334.680,3
6
Pháp
63.342,1
62.349,5
7
Hàn Quốc
95.013,1
11.690,5
8
Singapore
82.344,7
119.399,8
9
Anh
15.587,4
Tổng
609.058,4 633.420,7 728.433,8
Nguồn: Báo cáo xuất nhập khẩu giai đoạn 2001 - 2004 của
2004
157.934,1
Bản, Trung Quốc, Singapore, Anh. Trong các thị trờng này, Công ty tập
trung vào khai thác từ thị trờng Nhật Bản vì phần lớn hóa chất nhập khẩu
dùng cho công việc xây dựng và sản xuất thiết bị công nghệ nên từ thị trờng Nhật Bản là thích hợp nhất. Tỷ trọng nhập khẩu hóa chất từ thị trờng
Nhật Bản chiếm 46% trong năm 2003 trong tổng kim ngạch nhập khẩu hóa
chất năm 2004 và 51,3% vào năm 2004, năm 2003 tiếp theo là thị trờng
Trung Quốc chiếm 17% năm 2003 và 19,3% năm 2004 đứng thứ 3 là
Singapore với tỷ trọng nhập khẩu hóa chất là 16% năm 2003 và 18,5% năm
2004. Thấp nhất là thị trờng Hàn Quốc, sau đó là thị trờng Anh. Nh vậy ta
thấy Công ty đã có sự thay đổi rất nhiều trong lĩnh vực tìm kiếm thị trờng.
Sở dĩ nh vậy là do một vài nguyên nhân nh do khá khăn trong quá trình vận
chuyển và giao dịch hay do sự phù hợp về chiến lợc kinh doanh của công
ty.
2.2.1.3. Mặt hàng Săm lốp ô tô:
Từ năm 1999 trở về trớc, kim ngạch nhập khẩu săm lốp ô tô của
Công ty rất lớn, nhng trong những năm gần đây nhà máy cao su sao vàng đã
sản xuất đợc mặt hàng này ở trong nớc do đó Công ty đã không nhập một
số loại săm lốp mà trong nớc sản xuất đã sản xuất đợc. Vì vậy Công ty đã
nhập khẩu một số loại săm lốp chuyên dụng chất lợng cao và sản phẩm
trong nớc cha đáp ứng đợc. Thị trờng nhập khẩu săm lốp của Công ty tập
trung ở các nớc thuộc Châu á nh: Ân Độ, Inđônêxia, Hàn Quốc, Nhậtta
có thể tham khảo giá trị nhập khẩu săm lốp ô tô từ một số nớc thông qua
bảng sau:
Bảng 4: Giá trị nhập khẩu săm lốp ô tô của Cty
Tranimexco - Hà Nội 2001 - 2004
Đơn vị tính: USD
STT
Nớc nhập khẩu
Giá trị nhập khẩu qua các năm
944.656,4
2004
239.341,2
239.341,2
341.579,5
977.488,3
Nguồn: Báo cáo XNK giai đoạn 2001 - 2004 của Công ty Tranimexco
- Hà Nội.
Tình hình kinh doanh nhập khẩu săm lốp ô tô của Công ty Tranimexco
- Hà Nội giai đoạn 2001 - 2004 đã tăng liên tục. Đất nớc ngày càng phát
triển, nhu cầu của con ngời ngày càng nâng cao. Trong những năm gần đây
nhu cầu về ô tô riêng đang tăng, nắm bắt đợc thực tế này Công ty đã tăng
nhập khẩu săm lốp ô tô. Cụ thể trong năm 2001 tổng kim ngạch nhập khẩu
săm lốp ô tô của Công ty đạt 727.106,2 USD chiếm khoảng 17% định mức
trong kế hoạch 5 năm của Công ty về nhập khẩu săm lốp ô tô. Trong đó
Công ty đã nhập khẩu một lợng săm lốp ô tô nhiều nhất từ Hàn Quốc, với
giá trị nhập khẩu là 290.842,5 USD chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch
nhập khẩu săm lốp ô tô trong năm 2001. Inđônêxia là nớc đứng thứ 2 về
nhập khẩu săm lốp ô tô với trị giá 254.487,2 USD chiếm khoảng 35% tổng
kim ngạch nhập khẩu săm lốp ô tô trong năm 2001. Cuối cùng là ấn Độ với
giá trị nhập khẩu 181.776,6 USD chiếm 25% tổng kim ngạch nhập khẩu
săm lốp ô tô trong năm 2001.
Đến năm 2002 thị trờng nhập khẩu săm lốp ô tô của Công ty đã có sự
thay đổi. Nếu nh trong năm 2001 Công ty nhập khẩu một lợng săm lốp ô tô
chiếm 25% tổng kim ngạch nhập khẩu săm lốp ô tô ở thị trờng ấn Độ thì
đến năm 2002 Công ty không nhập khẩu ở thị trờng này nữa mà chuyển hẳn
sang thị trờng Nhật, với giá trị nhập khẩu đạt 295.205,1 USD chiếm khoảng
35% tổng kim ngạch nhập khẩu săm lốp ô tô trong năm 2002, đứng thứ 2
khẩu từ Nhật Bản, thiết bị kiểm tra chất lợng bê tông thiết bị hàng hải và
một số thiết bị khác đợc nhập từ thị trờng Mỹ, Nhật, Singapore...
Bảng 7. Giá trị nhập khẩu máy móc, thiết bị thi công, thiết bị hàng hải.
Đơn vị tính: USD
STT
Nớc nhập khẩu
Giá trị nhập khẩu qua các năm
19
2001
2002
2003
2004
1
Singapore
25.204,0
28.480,5
31.898,2
32.977,3
2
Nhật Bản
592.805,4 689.009,3 760.972,4
801.332,4
3
Trung Quốc
50.430,0
Nguồn: Báo cáo XNK giai đoạn 2001 - 2004 của công ty Tranimexco - HN
Trong năm 2001, do nớc ta đang tiến hành xây dựng đờng Hồ Chí
Minh nên công ty đã nhập nhiều loại máy móc thiết bị thi công làm đờng từ
rất nhiều nớc trên thế giới, theo báo cáo trên ta có thể nhận thấy lợng hàng
nhập từ Nhật Bản chiếm tỷ trọng nhiều nhất 71% và kim ngạch nhập khẩu
của công ty từ thị trờng này đạt 592.805,4USD. Tiếp đó là các loại máy
móc thiết bị nhập khẩu từ thị trờng Mỹ là 93.155,1 USD chiếm khoảng 11%
tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này trong năm 2001.
Năm 2002 việc xây dựng con đờng Hồ Chí Minh đi vào giai đoạn hoàn
thành nên công ty đã tìm kiếm thị trờng mới cho mình. Trong những năm
này công ty chỉ chú trọng nhập khẩu một số ít máy móc thiết bị, tập trung
chủ yếu vào khập khẩu thiết bị hàng hải và một số loại máy móc xây dựng
cơ nhỡ. Tuy vậy kim ngạch nhập khẩu của công ty trong năm 2002 vẫn đạt
ở mức tơng đối cao 956.957,3USD thị trờng nhập khẩu, chủ yếu của công ty
trong năm là thị trờng Nhật Bản, Mỹ, Nga,...
Đến năm 2003 kim ngạch nhập khẩu chủ yếu vẫn là Nhật Bản, tổng
kim ngạch nhập khẩu đạt 760.972,4 USD chiếm 71%, tiếp đến là Mỹ tổng
kim ngạch nhập khẩu đạt 139.333 USD. Sang năm 2004 Nhật Bản vẫn là nớc có tổng kim ngạch nhập khẩu nhiều nhất đạt 801.332,4USD chiếm
khoảng 71% tiếp theo vẫn là Mỹ.
Nh vậy trong 4 năm liền tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng thiết bị
hàng hải, máy móc thi công và các thiết bị khác chủ yếu là nhập khẩu từ
20
Nhật Bản và Mỹ.
2.2.1.5 Mặt hàng Nhựa đờng:
Đây là mặt hàng chính quan trọng, chiếm tỷ lệ nhập khẩu tơng đối lớn
(35%) tổng doanh thu Công ty trong vòng nhiều năm trở lại đây. Trong giai
đoạn 1995 - 2002 vừa qua, Nhà nớc chủ trơng xây dựng, nâng cấp, tu sửa đờng xá công trình đờng mòn HCM,vì vậy việc nhập khẩu nhựa đờng đợc
coi là một chiến lợc kinh doanh của Công ty. Bên cạnh đó, nhiều tỉnh, thành
5.151.171
4.673.291
2.000.000
1.000.000
0
2001
2002
2003
2004
ít, nguyên nhân là do trên thị trờng có một số Công ty cũng nhập khẩu mặt
hàng này và bán với giá thấp hơn nên Công ty tranimexco Hà Nội, không đa ra đợc chiến lợc cạnh tranh thích hợp. Sang năm 2001, Công ty đã tranh
thủ nắm bắt thị trờng và giá cả ngay từ đầu do đó đã nhập và tiêu thụ
khoảng 6000 tấn nhựa đờng với trị giá 1,246,897.8 USD. Điều này chứng tỏ
Công ty đã tìm ra đợc một chiến lợc và hớng đi đúng đắn cho mặt hàng
kinh doanh truyền thống này.
Trong những năm 1999, 2000 Công ty nhập khẩu mặt hàng này rất ít,
nguyên nhân là do trên thị trờng có một số Công ty cũng nhập khẩu mặt
hàng này và bán với giá thấp hơn nên Công ty Tranimexco - Hà Nội không
đa ra đợc chiến lợc cạnh tranh thích hợp. Sang năm 2001, Công ty đã tranh
21
thủ nắm bắt thị trờng và giá cả ngay từ đầu do đó đã nhập và tiêu thụ
chuyển .
- Chất lợng hàng hoá đợc bảo đảm
- Phù hợp với nhu cầu thị trờng .
22
* Đối với mặt hàng săm lốp ô tô : Công ty nhập khẩu từ thị trờng
Hàn Quốc , Nhật Bản , Thái Lan , Ân Độ ... vì tại các thi trờng này đã
tao đợc nhuqngx mối quan hệ tót , thuận lợi cho việc khảo sát giá cả ,
đảm bảo chất lợng hàng hoá .
* Đối với mặt hàng thiết bị thi công : Tập trung nhập khẩu từ các
thị trờng lớn : Nhật Bản , Nga , ...là những thị trờng có thể cung cấp
những thiết bị máy móc hiện đai , công nghệ cao , chất lợng tốt .
2.2.3 Phân tích hiệu quả kinh doanh hàng nhập khẩu của công ty .
2.2.3.1. Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch nhập khẩu của công ty .
Theo kế hoạch nhập khẩu của công ty giai đoạn 2001-2005, tổng kim
ngạch nhập khẩu đối với cả 5 mặt hàng : nhựa đờng , săm lốp ô tô ,hoá chất
, linh kiện xe máy , thiết bị thi công công trình , các thiết bị khác là
21,385,476.5 USD . Nhìn lại 4 năm 2001- 2004ta thấy tình hình kinh doanh
nhập khẩu của công ty cũng gặp nhiều thuận lợi . Cụ thể trong 4 năm qua
tổng kim ngạch nhập khẩu của công ty dạt 16,775,149.8 USD chiếm
khgoảng 78% so với kế hoạch đề ra , nh vậy trung bình mỗi nămcông ty
thực hiện đợc khoảng 19.5 % , mà theo nh kế hoạch đề ra thi công ty còn
phải thực hiện 22 % nữa . Điều đó cho thấy khả năng hoàn thành kế hoạch
5 năm là hoàn toàn có thể thực hiện đợc .
23
Bảng : Giá trị kinh doanh hàng nhập khẩu của Cty từ 2001 2004 và
436.137,1
1.071.792,2 1.134.746
4.673.291, 5.151.171,8
4.277.095,3
3.421.676,2
1.496.983,4
4.704.804,4
21.385.476,5
5
727.106,2
843.443,2
609.058,4
633.420,7
249.996,2
287.495,5
846.864,9
956.957,3
3.679.923,5 4.142.780,
4
2004
KH 5 năm
4
Để có đợc kết quả khả quan nh vậy trớc hết phải nói đến đội ngũ
nhân viên của công ty rất năng động , có trình độ cao , giàu kinh nghiệm
71.931.980.600
56.106.944.868
02/01
105%
112%
2003
62.956.111.200
51.624.011.184
7.252.544.010
3/2
88%
92%
Lợi nhuận
11.866.581.627
10.128.022.868
85%
185.415.338
158.250.357
85%
72%
10.389.461.631
91,6%
72%
2004
64.208.281.745
53.818.820.114
7.135.561.030
04/03
102%
104%
98,4%
Lợi nhuận
từ hoạt
động khác
Lợi nhuận
t hoạt động
tài chính
Tổng lợi
nhuận
Qua bảng kết quả kinh doanh trên ta thấy tổng lợi nhuận công ty
ngày càng giảm. Năm 2001 tổng lợi nhuận 18541.533.793 VNĐ, đến năm
2004 tổng lợi nhuận chỉ là 10.389.461.631 VNĐ. Tuy nhiên năm 2003 tổng