skkn một số giải pháp tham mưu nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng CSVC trong trường mầm non - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
“Một số giải pháp tham mưu nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây
dựng cơ sở vật chất trong trường mầm non”.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Áp dụng trong lĩnh vực tổ chức quản lý, chỉ đạo thực hiện công tác tham
mưu xây dựng CSVC của hiệu trưởng.
3. Tác giả:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Thơi

Nam (nữ):

Nữ

- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Mầm non
- Chức vụ, đơn vị công tác: Hiệu trưởng - Trường mầm non Bắc An
- Điện thoại di động: 0974 363 259
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
- Tên đơn vị: Trường mầm non Bắc An
- Địa chỉ: Xã Bắc An - Thị xã Chí Linh - Tỉnh Hải Dương
- Điện thoại: 03202 223 962
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành; Sự khéo léo, nhạy bén,
hiểu biết, kinh nghiệm của đội ngũ bộ quản lý, giáo viên nhân viên; Sự hỗ trợ
của các lực lượng xã hội, các bậc phụ huynh và sự hưởng thụ từ người học.
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu:
Sáng kiến này được áp dụng trong nhà trường từ năm học 2010-2011.
TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG


lực, tài lực để chăm lo cho sự nghiệp giáo dục của nước nhà là rất cần thiết.
Vì vậy, công tác tham mưu xây dựng CSVC trong nhà trường phải được quan
tâm và thực hiện thường xuyên và liên tục nhằm góp phần vào việc nâng cao
chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ ngày càng được hiệu quả hơn.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
2.1. Điều kiện để áp dụng sáng kiến:
Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành; Sự khéo léo, nhạy bén,
hiểu biết, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên nhân viên; Sự hỗ

2


trợ của các lực lượng xã hội, các bậc phụ huynh và sự hưởng thụ từ người
học.
2.2. Thời gian áp dụng sáng kiến: Sáng kiến này được áp dụng trong nhà
trường từ năm học 2010-2011.
2.3. Đối tượng áp dụng sáng kiến: Tại các trường mầm non.
3. Nội dung sáng kiến:
Trong phạm vi của đề tài “Một số giải pháp tham mưu nhằm nâng cao
hiệu quả công tác xây dựng cơ sở vật chất trong trường mầm non”, tôi đã tập
trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến thực trạng về CSVC trong
nhà trường do tôi phụ trách. Từ đó, đưa ra những giải pháp áp dụng để thực
hiện tốt công tác tham mưu xây dựng CSVC nhằm đảm bảo các điều kiện để
tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ trong nhà trường được tốt và đánh
giá kết quả đạt được sau khi áp dụng các giải pháp. Các giải pháp tôi đã
nghiên cứu và áp dụng đều dựa trên cơ sở thực tế những vướng mắc, khó
khăn khi thực hiện công tác tham mưu của nhà trường. Đặc biệt, các giải pháp
đưa ra đều phù hợp, thiết thực đúng với chủ trương, đường lối; Giúp cho nhà
lãnh đạo các cấp, các ngành luôn luôn quan tâm chăm lo cho GD. Đồng thời,
còn giúp cho công tác tuyên truyền được nhân rộng trong toàn xã hội và cùng

1.4. Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn.
1.4.2. Phương pháp quan sát, điều tra thực trạng, trao đổi và thảo luận.
1.4.3. Phương pháp thực nghiệm.
1.4.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp.
1.4.5. Phương pháp so sánh và khái quát hóa.
1.5. Điểm mới của đề tài:
Đề tài nghiên cứu về công tác tham mưu xây dựng CSVC là một biện
pháp hữu hiệu để thực hiện mục tiêu quản lý giáo dục, đem lại nguồn sức
mạnh tổng hợp giúp nhà trường đào tạo cho xã hội nguồn nhân lực được phát
triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, lao động, làm nên sức mạnh nội sinh ở dân
tộc góp phần hiện đại hoá giáo dục, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Việc đẩy mạnh công tác tham mưu để xây dựng CSVC nhằm phát triển
tiềm năng về trí tuệ, vật chất trong nhà nước và nhân dân, huy động toàn xã
hội đóng góp về trí lực, nhân lực, vật lực, tài lực để chăm lo cho sự nghiệp
giáo dục của nước nhà. Chính vì vậy, ngày nay với công tác tham mưu để xây
dựng cơ sở vật chất phải được quan tâm và thực hiện thường xuyên, liên tục ở
trong các nhà trường, nhất là đối với các trường mầm non khó khăn, để góp

5


phần vào việc nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ ngày
một tốt hơn.
2. Cơ sở lý luận của vấn đề:
Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục
quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình
thành và phát triển của nhân cách con người. Chính vì thế, hầu hết các quốc
gia và các tổ chức quốc tế đều xác định giáo dục mầm non là một mục tiêu

Trường mầm non nơi tôi công tác thuộc xã miền núi có địa bàn rộng,
dân cư ở thưa thớt chiếm tới 95% chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp nên
đời sống kinh tế của người dân vô cùng nghèo nàn và lạc hậu. Hơn nữa, trình
độ dân trí thì thấp dẫn đến sự nhận thức của người dân cũng như các bậc phụ
huynh về mọi mặt của cuộc sống xã hội, đặc biệt là về ngành giáo dục nhất là
đối với giáo dục mầm non còn hạn chế rất nhiều. Hơn nữa, là trường có nhiều
điểm trường do địa bàn rộng, dân cư ở thưa thớt không thể quy hoạch vào một
điểm được, do vậy nhà trường vẫn còn nhiều điểm trường. Bên cạnh đó, các
cấp lãnh đạo địa phương còn mang nặng tư tưởng cũ, chưa có tầm nhìn xa và
rộng nên chưa có sự quan tâm đúng mực và đầu tư thích đáng cho giáo dục
toàn xã nói chung, mầm non nói riêng. Chính vì thế, giáo dục mầm non của
địa phương vẫn còn nghèo nàn và khó khăn rất nhiều so với các trường khác
trên toàn thị xã: Điều kiện về cơ sở vật chất của nhà trường vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu đổi mới đối với giáo dục hiện nay. Từ phòng học cho đến tường
bao, sân chơi, bãi tập nhất là bếp ăn còn thiếu mà nhu cầu người dân cho con
đi học đều muốn được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ đầy đủ như
những trường có điều kiện CSVC tốt. Đây là một trong những khó khăn rất
lớn đối với nhà trường. Ngoài ra, công tác tuyên truyền trong nhà trường còn
chưa thể đồng nhất và mang lại hiệu quả: Do đội ngũ giáo viên mới vào nghề
chưa có kinh nghiệm chiếm số lượng lớn nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất
lượng giáo dục. Với số điểm trường nhiều nằm rải rác không tập trung, sự
quan tâm chăm lo của các cấp ngành, đoàn thể trong địa phương còn nhiều
hạn chế. Vì vậy, rất khó khăn trong công tác quản lý chỉ đạo của nhà trường.
* Khảo sát thực trạng về quy mô trường lớp:
Số trẻ
điều tra

Số trẻ ra lớp
Số
Tỷ lệ

tạo điều kiện, phụ huynh lại phó mặc và trông chờ vào nhà nước. Chính vì
vậy, cơ sở vật chất nhà trường vô cùng thiếu thốn.
* Khảo sát thực trạng về cơ sở vật chất nhà trường:
Số phòng học
Tổng K.Cố
20102011

10

Bếp

Tường

Sân

Sân có

Nhà bảo

ăn

bao

chơi

đồ chơi

vệ

1

19
95%

Trình độ trên chuẩn
Số lượng
Tỷ lệ %
5
25%

Đứng trước tình hình thực trạng của nhà trường như vậy. Bản thân tôi
là người Quản lí (HT) đã rất băn khoăn, trăn trở và suy nghĩ tìm để ra những
giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác tham mưu xây
dựng CSVC nhằm khắc phục tình trạng khó khăn đã nêu trên, góp phần vào
việc duy trì, ổn định và phát triển giáo dục của nhà trường. Đồng thời, góp
phần vào việc nâng cao chất lượng ND-CS-GD trẻ ngày càng hiệu quả hơn.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện:

8


4.1. Giải pháp thứ nhất: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo về công tác
xây dựng CSVC.
Muốn thực hiện tốt việc xây dựng cơ sở vật chất trong nhà trường thì
việc làm đầu tiên đó chính là: Cần phải làm tốt công tác tham mưu với các
cấp, các ngành. Để các cấp, các ngành hiểu thêm về chức năng, nhiệm vụ của
ngành học, nhất là về công tác ND-CS-GD trẻ ở lứa tuổi mầm non.
Đảng và Nhà nước những năm qua cũng đã quan tâm đến giáo dục, coi
"Giáo dục là quốc sách hàng đầu" trong đó có giáo dục mầm non. Giáo dục
mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò, vị
trí rất quan trọng đối với giáo dục. Bởi vậy, Đảng, Nhà nước đã ban hành ra

cộng đồng đều nhận thức được và cùng tham gia thực hiện tốt xã hội hóa giáo
dục trong nhà trường thì tôi đã quan tâm, chú trọng tới một số vấn đề sau:
- Tham mưu với Lãnh đạo cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương để mở
hội nghị triển khai về các văn bản, chỉ thị có liên quan đến giáo dục và
XHHGD tới toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường và các
ngành đoàn thể, các bậc cha mẹ và toàn thể dân để mọi người đều hiểu và
nắm vững được các Chủ trương, Đường lối, Chính sách của Đảng, Pháp luật
của Nhà nước về công tác XHHGD sau đó vận dụng vào thực tiễn.
- Chú trọng việc chỉ đạo giáo viên xây dựng góc tuyên truyền ở các
nhóm, lớp, lựa chọn những địa điểm phù hợp tại nhà trường làm góc tuyên
truyền cho các bậc phụ huynh; Tại đó, có các tranh ảnh…có những nội dung
thiết thực về tổ chức nuôi dạy trẻ, những yêu cầu mà các bậc phụ huynh và
cộng đồng cần phối hợp với nhà trường để tuyên truyền.
- Bên cạnh, công tác tham mưu với các cấp lãnh đạo và công tác chỉ đạo
trong nhà trường thì công tác tuyên truyền tới nhân dân và cha mẹ học sinh
thông qua hệ thống phát thanh hàng ngày cũng rất cần thiết. Nhằm tạo chuyển
biến về nhận thức rộng rãi trong nhân dân trong công tác tham gia XHHGD.
Từ những việc làm như vậy, môi trường giáo dục ở nhà trường đã có sự
"Thay da đổi thịt" Cán bộ, các lực lượng xã hội và nhân dân đều nhận thức
được rằng chỉ có thể làm tốt công tác XHHGD mới có thể đáp ứng được đầy
đủ các yêu cầu của gia đình, của xã hội, nhằm mục đích xây dựng con người
mới phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chỉ có thể
làm tốt XHHGD mới có thể tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội được tốt.

10


Ngoài việc, kết hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục "Nhà trường gia đình - xã hội" còn được các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương nhận
thức đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục, họ đã hiểu rằng: " Xã hội hoá
giáo dục là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương trước


12


dạy giỏi, thi giáo viên nuôi dưỡng giỏi, thi làm đồ dùng đồ chơi tự tạo, thi gia
đình và dinh dưỡng trẻ thơ, thi cháu tài năng khỏe ngoan…Các hội thi đều
được tập thể cán bộ giáo viên và phụ huynh nhiệt tình ủng hộ.
Những kết quả của hội thi đã đánh giá thực chất chất lượng dạy và học,
tạo được niềm tin trong các bậc phụ huynh và đây cũng chính là vấn đề mà tôi
muốn nói với các bậc phụ huynh và mọi cộng đồng hãy cùng chung tay góp
sức để xây dựng nền móng vững chắc cho thế hệ tương lai của gia đình nói
riêng và của đất nước nói chung.
5. Kết quả đạt được:
Sự nghiệp giáo dục toàn xã nói chung, trường mầm non nơi tôi quả lí nói
riêng đã và đang trên đà phát triển đi lên rõ rệt là nhờ vào việc làm tốt công
tác tham mưu để xây dựng CSVC trong nhà trường. Trên thực tế cho thấy,
trong những năm qua, trường mầm non do tôi quản lí đã đạt được nhiều thành
tích nổi bật như: Duy trì về mặt số lượng huy động trẻ đến lớp, số lượng trẻ
ăn bán trú tăng, về chất lượng giáo dục được nâng lên, phát huy tác dụng của
nhà trường vào đời sống cộng đồng nhằm góp phần xứng đáng trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của xã nhà.
Nhà trường nhận được sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Đảng, chính
quyền các cấp, đã có 8/9 phòng học kiên cố cao tầng khang trang, có bếp ăn
sạch đẹp đúng quy cách, có tường bao xung quanh trường, có sân chơi có đồ
chơi nhằm phục vụ cho việc quản lí, tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm
sóc và giáo dục trẻ được tốt. Bên cạnh đó, nhà trường còn xây dựng được môi
trường giáo dục lành mạnh, có sự nhận thức cao của lãnh đạo Đảng, chính
quyền, các ngành đoàn thể và nhân dân trong địa phương. Do vậy, công tác
giáo dục có nhiều chuyển biến rõ rệt và kịp thời phát huy được thế mạnh của
cả cộng đồng xã hội tham gia vào giáo dục.

T

Năm học

Số trẻ

Số trẻ ra lớp

trú

điều tra
Số

1
2
3
4
T
T

2010-2011
418
2011-2012
412
2012-2013
415
2013-2014
431
*Về cơ sở vật chất:
Năm học

179
233
278

48%
73
88%
100%

dinh
11%
8%
6%
4%

Tường

Sân

Sân

Nhà

bao

chơi

có đồ

bảo vệ


0
1
1
2

0
1
1
2

0
0
0
1

0
0
0
1

Trình độ chuẩn
Trình độ trên chuẩn
Số lượng
Tỷ lệ %
Số lượng
Tỷ lệ %
2010-2011
20
19

được nhu cầu của bậc học cũng như nguyện vọng của người dân và đã được
Đảng bộ, chính quyền địa phương đánh giá cao.
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng:
Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành; Sự khéo léo, nhạy bén,
hiểu biết, kinh nghiệm của đội ngũ bộ quản lý, giáo viên nhân viên; Sự hỗ trợ
của các lực lượng xã hội, các bậc phụ huynh...
Sáng kiến được áp dụng trong trường mầm non nơi tôi quản lí đã mang
lại hiệu quả rất cao và có thể được áp dụng với nhiều trường mầm non, nhất là
những trường mầm non khó khăn trong việc thực hiện công tác tham mưu xây
dựng CSVC tôi tin rằng nó cũng sẽ mang lại hiệu quả cao.
7. Bài học kinh nghiệm:
- Người CBQL (HT) phải luôn quan tâm và làm tốt công tác tham mưu,
có làm tốt công tác tham mưu thì mới đón nhận được sự quan tâm của cấp uỷ
Đảng, chính quyền địa phương ủng hộ trong việc tạo điều kiện xây dựng cơ
sở vật chất cho nhà trường, thường xuyên động viên tinh thần cho CBGV và
học sinh đây là động lực chính giúp cho nhà trường hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ năm học đề ra.

15


- Cần phải tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường.
Đặc biệt cần tuyên truyền để họ hiểu và xác định được vai trò, trách nhiệm
của gia đình đối với việc đóng góp xây dựng cơ sở vật chất trường học.
- Để làm tốt công tác xây dựng cơ sở vật chất nhà trường, cần phải phối
hợp chặt chễ với các ngành chức năng và cộng đồng xã hội trong việc nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Có được sự ủng hộ của các các ngành chức
năng và cộng đồng xã hội về nguồn kinh phí xây dựng cơ sở vật chất thì sự
nghiệp giáo dục của nhà trường mới có thể thuận lợi để đi đến sự thành công.
- Việc nâng cao năng lực trình độ chuyên môn cho cán bộ giáo viên và

và phải luôn có kế hoạch, lộ trình, biện pháp thực hiện một cách khoa học...
Việc làm tốt công tác tham mưu để xây dựng CSVC ở trường mầm non
là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện cho trẻ ngày càng được tốt hơn. Để có chất lượng thực sự,
đòi hỏi phải có đầy đủ các điều kiện tốt về mọi mặt từ cơ sở vật chất, thiết bị
đồ dùng, cho đến đội ngũ cũng như nhận thức từ người dân và các bậc cha mẹ
học sinh. Có như vậy, mới quyết định được việc hình thành và phát triển nhân
cách của trẻ, góp phần vào việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho quê
hương, đất nước. Việc làm tốt công tác tham mưu để xây dựng CSVC còn
góp phần làm cho phong trào Giáo dục mầm non phát triển mạnh và tạo được
niềm tin tốt ở các bậc phụ huynh.
Với tình hình thực tế hiện nay thì vai trò của người quản lý, nhất là vai
trò của người hiệu trưởng trong việc làm tốt công tác tham mưu để xây dựng
CSVC ở nhà trường là một việc làm hết sức cần thiết. Qua một số giải pháp
đã áp dụng ở trên, tôi thực sự thấy có tác dụng và có hiệu quả rất rõ dệt, nó đã
góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc
giáo dục trẻ ở nhà trường được thuận lợi, được tốt hơn và đã tạo được lòng tin
đối với Đảng, đối với nhân dân, nhất là đối với các bậc phụ huynh.
Đề tài này nghiên cứu trong điều kiện hoàn cảnh còn gặp nhiều những
khó khăn. Nhất là về TĐ, năng lực bản thân có hạn nên đề tài vẫn còn những
hạn chế nhất định. Rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của bạn bè
đồng nghiệp, sự hỗ trợ của các cấp lãnh đạo. Đặc biệt, với sự cố gắng của bản
thân hơn nữa tôi tin rằng đề tài này áp dụng sẽ mang lại hiệu quả rất cao.
2. Khuyến nghị: Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu được nhận thức
đầy đủ trong xã hội và để đạt được mục tiêu cuối cùng là nâng cao mức hư-

17


ởng thụ về giáo dục và nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần, vật chất của

18


MỤC LỤC
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN ……………………………………1
TÓM TẮT NỘI DUNG SÁNG KIẾN………………………………………..2
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến……………………………………………...2
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến………………………....2
2.1. Điều kiện, đê áp dụng sáng kiến……………………….............................2
2.2.

Thời

gian,

áp

dụng

sáng

kiến……………………………………………..3
2.3. Đối tượng áp dụng sáng kiến………………………..................................3
3. Nội dung sáng kiến…………………………………………………………3
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến………………………..3
5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến………….3
MÔ TẢ SÁNG KIẾN………………………....……………………................4
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến……………………………………………...4
1.1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………4
1.2. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………… 5

5. Kết quả đạt được……………………………………………….......13-14-15
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng…………………………………..15
7. Bài học kinh nghiệm....................................................................................16
KẾT

LUẬN



KHUYẾN

NGHỊ…………………………………………..17
1. Kết luận…………………………………………………..……………17-18
2. Khuyến nghị…………………………………………………....................18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………19
MỤC LỤC……………………………………………………….……….19-20
Ghi chú những từ viết tắt trong bài sáng kiến:
- Giáo dục mầm non (GDMN)
- Cơ sở vật chất (CSVC)
- Xã hội hóa giáo dục (XHHGD)
- Nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục (NDCSGD)
- Đồ dùng, đồ chơi (ĐDĐC)
- Chiến sĩ thi đua cơ sở (CSTĐCS)
- Cán bộ giáo viên nhân viên (CBGVNV)
- Giáo dục (GD)
- Giáo viên (GV)
- Cán bộ quản lí (CBQL)
- Hiệu trưởng (HT)
- Mầm non (MN)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status