skkn dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong giờ luyện nói nhằm nâng cao chất lượng môn ngữ văn ở THCS - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học
sinh trong giờ “Luyện nói” nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở
trường trung học cơ sở”.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn cấp trung học cơ sở
3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thơm

Nam (nữ): Nữ

Ngày tháng/năm sinh: 03/07/1976
Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Ngữ văn
Chức vụ, đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng trường THCS Chu Văn An
Điện thoại: 0168 352 8798
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu :
Tên đơn vị: Trường THCS Chu Văn An
Địa chỉ: Phường Sao Đỏ - Thị xã Chí Linh- Tỉnh Hải Dương
Điện thoại: 0320 3881 326
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Các thiết bị, đồ dùng hỗ trợ giảng dạy: máy tính, máy chiếu, video...
- Sự ủng hộ hợp tác của các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường.
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: tháng 10 năm 2014
HỌ TÊN TÁC GIẢ :

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Nguyễn Thị Thơm

1


kiến đối với mọi đối tượng là học sinh THCS.
2


Nội dung sáng kiến của tôi có sự kế thừa, phát huy những kinh nghiệm,
phương pháp dạy học đã được một số đồng nghiệp chia sẻ. Song điểm mới của
sáng kiến là trong mỗi giải pháp, tôi đã định hướng rõ những năng lực cần hình
thành cho học sinh qua giờ luyện nói bao gồm cả năng lực chung và năng lực
chuyên biệt. Những năng lực đó là: năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn; năng
lực sáng tạo; năng lực hợp tác; năng lực quản lý; năng lực giao tiếp tiếng Việt;
năng lực cảm thụ văn học; năng lực sử dụng công nghệ thông tin... Trong qua
trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh, giáo viên chỉ là
người tổ chức, điều khiển các hoạt động dạy học, học sinh tích cực học tập, học
sinh được bộc lộ, thể hiện năng lực. Học sinh là nhân vật trung tâm trong giờ
học. Với sáng kiến này, giáo viên dạy Ngữ văn các khối lớp ở tất cả các trường
THCS có thể áp dụng. Trong đó, giáo viên cần tuân thủ những biện pháp mà tôi
đã trình bày trong sáng kiến, đó là: xác định mục tiêu bài học, chuẩn bị tốt kế
hoạch dạy học, các phương tiện hỗ trợ dạy học, hướng dẫn học sinh chuẩn bị ở
nhà, kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh trước khi nói, linh hoạt tổ chức hoạt
động trong tiết học theo mô hình sân khấu hóa, nhận xét, đánh giá, rút kinh
nghiệm để khuyến khích học sinh giờ sau nói tốt hơn. Điều quan trọng là trong
tất cả các biện pháp đó, giáo viên đều phải định hướng hình thành năng lực cho
học sinh.
Việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trong giờ
luyện nói nhằm nâng cao chất lượng môn Ngữ văn ở trường THCS đã tạo sự
hứng thú, niềm say mê yêu thích môn học và rèn kĩ năng nói tốt nhất. Chính vì
vậy, áp dụng sáng kiến này trong dạy học sẽ góp phần nâng cao các năng lực
của học sinh, nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn.
Tôi mong muốn sáng kiến này sẽ được thực hiện ở tất cả các tiết luyện
nói trong chương trình Ngữ văn THCS. Vì vậy, giáo viên phải phát huy trí tuệ

học; tăng cường các hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa học và vận dụng kiến
thức vào thực tế”; “đổi mới mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh
giá chất lượng giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực, phẩm
chất người học”.
1.2. Định hướng dạy học môn Ngữ văn
Trong định hướng phát triển chương trình giáo dục phổ thông, môn Ngữ
văn được coi là môn học công cụ. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
của học sinh mà môn học Ngữ văn hướng đến là năng lực giải quyết vấn đề,
4


năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực quản lý, năng lực giao tiếp, năng
lực cảm thụ văn học,... Trong môn Ngữ văn, việc hình thành và phát triển năng
lực giao tiếp ngôn ngữ cho học sinh là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục
tiêu thế mạnh mang tính đặc thù của bộ môn.
1.3. Thực tế dạy học bộ môn
Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một trong những tư tưởng quan
trọng của chiến lược dạy học các môn ngôn ngữ ở trường phổ thông nói chung
và môn Ngữ văn nói riêng. Hoạt động giao tiếp là một trong những căn cứ để
hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng lực nghe,
nói, đọc, viết. Nếu nghe, đọc là những kĩ năng quan trọng của hoạt động tiếp
nhận thông tin thì nói, viết là những kĩ năng quan trọng của hoạt động bộc lộ,
truyền đạt thông tin cần được rèn luyện và phát triển trong nhà trường.
Luyện nói trong nhà trường giúp học sinh có thói quen nói trong những
môi trường giao tiếp khác nhau. Luyện nói tốt sẽ giúp cho học sinh có công cụ
giao tiếp hiệu qủa trong cuộc sống xã hội.
Tổng số các tiết “Luyện nói” trong chương trình Ngữ văn THCS là 10
tiết, cụ thể:
Khối
6

Tiết Luyện nói trong chương trình chủ yếu tập trung vào nội dung củng
cố lý thuyết, thực hành luyện tập trong phân môn Làm văn: Lớp 6 luyện nói kể
chuyện và miêu tả; lớp 7 luyện nói biểu cảm, phát biểu cảm nghĩ và nghị luận;
5


lớp 8, luyện nói tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm, thuyết minh; lớp 9
luyện nói tự sự kết hợp với nghị luận và miêu tả nội tâm, nghị luận xã hội và
văn học. Vì vậy, dạy tiết “Luyện nói” trong chương trình cần bám sát mục tiêu
về kiến thức, kĩ năng của chủ đề, của từng bài, thông qua đó góp phần củng cố,
khắc sâu kiến thức lý thuyết, hướng dẫn học sinh vận dụng lý thuyết vào thực
hành.
Mặc dù tiết “Luyện nói” có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng
lực giao tiếp, rèn cho học sinh có kĩ năng nói tiếng Việt tự tin, thành thạo, linh
hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, nhưng qua bảng thống kê ta thấy
số tiết “Luyện nói” trong chương trình Ngữ văn THCS còn ít, cách bố trí các
tiết trong từng khối cũng chưa thực sự hợp lý (có khối cách xa giữa hai tiết
khoảng 15 tuần, có những kiểu bài không có tiết “Luyện nói”). Học sinh một
lớp khá đông, vì vậy việc thực hành rèn kĩ năng nói cho học sinh còn hạn chế.
Đặc biệt qua giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp không phải chỉ có những tiết luyện
nói ở lớp 6 mà ngay cả lớp 9 kĩ năng nói của học sinh vẫn còn rất yếu.
Trong thực tế giảng dạy, mặc dù đã có sách nghiệp vụ hướng dẫn
phương pháp dạy kiểu bài, rất nhiều đồng nghiệp đưa ra những biện pháp để
dạy kiểu bài luyện nói nhưng hiệu quả chưa được như mong muốn. Đa số giáo
viên chỉ chú ý nhiều đến rèn kĩ năng viết cho học sinh để đạt kết quả cao trong
các đợt kiểm tra, thi cử nên chưa chú ý nhiều đến việc rèn kĩ năng nói cho học
sinh. Giáo viên chưa đầu tư thời gian nghiên cứu làm thế nào để giờ luyện nói
thực sự hiệu quả. Chính vì vậy, giờ học còn trầm, học sinh ngại nói, có tâm lý
ngượng ngùng, sợ bị người khác nhận xét…. Giáo viên thường sợ bắt thăm
phải tiết “Luyện nói” trong các đợt hội giảng, hội thi. Giáo viên dạy tiết ‘Luyện

hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; “tập trung
phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện
và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống đạo đức,
lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức
vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt
đời”. Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà trường
trung học cần được tiếp cận theo hướng đổi mới. Vì vậy, dạy học theo định
hướng phát triển năng lực là một tất yếu của các môn học nói chung và môn
Ngữ văn nói riêng trong chương trình THCS.
3. Thực trạng của vấn đề
7


Đối tượng học sinh cấp THCS đang ở lứa tuổi hiếu động, ham thích
những điều mới. Trong hoạt động dạy và học, vai trò của người thầy rất quan
trọng. Người thầy đóng vai trò chủ đạo, tổ chức các hoạt động nhằm tích cực
hóa các hoạt động của học sinh. Muốn trò học tốt trước tiên phải có thầy dạy
tốt. Chính vì thế, đòi hỏi người thầy phải thường xuyên trau dồi kiến thức
chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, tìm tòi đổi mới hình thức, phương pháp dạy
học sao cho phù hợp với đặc trưng môn học.
Việc đổi mới phương pháp dạy học thực sự được toàn ngành giáo dục
quan tâm và được nhiều giáo viên áp dụng trong các giờ dạy. Nhiều giờ dạy có
chất lượng cao, thực sự thu hút học sinh, đem lại không khí học tập sôi nổi, học
sinh tích cực hoạt động. Tuy nhiên có một thực tế mặc dù không còn mới mẻ
nhưng lại tồn tại và diễn ra dai dẳng, đó là các giờ dạy có chất lượng thực sự
chỉ tập trung vào các đợt hội giảng, các hội thi. Qua dự giờ “Luyện nói” của
đồng nghiệp, tôi thấy giáo viên đã chú trọng sử dụng phương pháp theo đặc
trưng bộ môn, phù hợp với kiểu bài, thực hiện đầy đủ các bước của giờ học.
Tuy nhiên, việc vận dụng phương pháp trong dạy học còn máy móc. Một số

4.1.2. Các năng lực chủ yếu
Để thực hiện tốt việc dạy học theo định hướng phát triển của học sinh
trong giờ luyện nói, mỗi giáo viên cần nắm chắc những năng lực mà môn học
Ngữ văn hướng đến, cụ thể như sau:
4.1.2.1. Năng lực giải quyết vấn đề
Thể hiện khả năng của mỗi người trong việc nhận thức, khám phá được
những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống mà không có định
hướng trước về kết quả va tìm các giải pháp để giải quyết những vấn đề đặt ra
trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tư duy, hợp tác trong việc lựa
chọn và quyết định giải pháp tối ưu. Quá trình đó được thực hiện bằng sự hứng
thú tìm tòi, khám phá cái mới, tinh thần trách nhiệm của cá nhân và sự phối
hợp, tương tác giữa các cá nhân. Đó chính là sự vận dụng tổng hợp của kiến
thức, kĩ năng, thái độ, tính sẵn sàng…thể hiện qua các hoạt động cụ thể.
4.1.2.2. Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học sinh trong
việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và
cuộc sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả
để thực hiện ý tưởng. Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, học sinh bộc lộ
óc tò mò, niềm say mê tìm hiểu khám phá.
9


Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê và khát khao được tìm
hiểu của học sinh, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức.
4.1.2.3. Năng lực hợp tác
Là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ để hoàn thành
công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau,
giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau. Khi làm việc cùng
nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp đỡ, lắng nghe
người khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ. Đây là

sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào những tình huống
phù hợp để đạt được mục đích. Trong bộ môn Ngữ văn, việc hình thành và phát
triển cho học sinh năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng,
cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù của môn học. Đây cũng là mục
tiêu chi phối trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo
quan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức
tiếng Việt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống. Năng lực giao
tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ở bốn kĩ năng cơ bản:
Nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các
tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống.
4.1.2.6. Năng lực cảm thụ văn học
Thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra được các giá trị
thẩm mỹ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống, thông qua những cảm
nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ,
hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện. Như vậy, năng lực cảm thụ thẩm mỹ
thường dùng với hàm nghĩa nói về chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân. Chỉ số này
mô tả khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc của
chính mỗi người, của người khác, của các nhóm cảm xúc. Năng lực cảm thụ
văn học là năng lực đặc thù của môn Ngữ văn gắn với tư duy hình tượng trong
việc tiếp nhận văn bản văn học. Quá trình tiếp xúc với tác phẩm văn chương là
quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tác phẩm và thế giới tâm
hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình. Từ đó học sinh biết rung
động trước cái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê
phán những hình tượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và
mơ ước cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Bên cạnh những năng lực chung được nêu trên mà môn Ngữ văn hướng
đến, trong những trường hợp nhất định của quá trình dạy học, những năng lực
11



cơ lan tràn trong học sinh hiện nay như: nói trống không, nói tục, nói đế, nói tiếng
12


lóng....Để thực hiện những định hướng đã đặt ra, chúng tôi đã tập trung vào những
biện pháp, giải pháp chính sau:
4.2.1. Biện pháp thứ nhất: Xác định mục tiêu bài học
Đây là bước quan trọng đầu tiên mà bất cứ giáo viên nào cũng phải làm để
xác định được các kiến thức kĩ năng, thái độ cần đạt để giờ học đảm bảo chuẩn
kiến thức kĩ năng. Bởi năng lực là tổ hợp đo lường được những kiến thức, kĩ năng
và thái độ mà người học cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối
cảnh thực và có nhiều biến động. Để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc có
thể đòi hỏi nhiều kiến thức, kĩ năng. Kiến thức, kĩ năng là cơ sở cần thiết để hình
thành năng lực trong một lĩnh vực hoạt động nào đó. Ngoài những điểm chung thì
mỗi tiết học “Luyện nói” đều cần hình thành những năng lực đặc thù riêng phù
hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh. Nếu không xác định được rõ ràng
mục tiêu bài học thì giáo viên sẽ không xây dựng được kế hoạch giảng dạy phù
hợp, tiết học sẽ mờ nhạt, không đạt được kết quả như mong muốn. Mục tiêu của
tiết “Luyện nói” ở lớp 6 sẽ khác lớp 7,8,9 vì đối tượng học sinh lớp 6 là lớp đầu
cấp mới làm quen với phương pháp học tập của cấp THCS và bước đầu làm quen
với tiết “Luyện nói”. Càng lên lớp cao, yêu cầu về kiến thức, các năng lực của học
sinh đòi hỏi cao hơn.
Ví dụ 1: Ngữ văn 6 - Tiết 29: Luyện nói kể chuyện
Khi dạy học tiết này, tôi xác định mục tiêu như sau:
* Về kiến thức: Học sinh vận dụng kiến thức về chủ đề, dàn bài, đoạn
văn, lời kể và ngôi kể để kể chuyện một cách chân thật.
* Về kĩ năng: Biết lập dàn ý và dựa vào dàn ý để trình bày rõ ràng, mạch
lạc; biết cách kể miệng một vấn đề; biết nói trước tập thể, nhận xét bài tập nói
của bạn.
* Thái độ: Tích cực tự giác trong học tập, yêu quý, trân trọng các thành

Giáo viên phải căn cứ vào đặc điểm tình hình học tập của học sinh lớp
mình (lớp học Giỏi, Trung bình, Khá, Yếu) để ra đề bài sao cho phù hợp với
đối tượng học sinh. Tuy nhiên do đặc trưng của tiết “Luyện nói” để khuyến
khích được học sinh học tập chủ động tích cực, hăng hái, giáo viên nên chọn
những đề mang tính vừa sức để tất cả học sinh có thể cùng nói được.
Ví dụ : Khi dạy bài “Luyện nói kể chuyện” tiết 29, lớp 6, tôi ra đề bài
“Em hãy tự giới thiệu về bản thân”. Khi dạy Tiết 56, tuần 14: Luyện nói phát
biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học Ngữ văn 7, tôi chọn ra đề bài “Phát biểu
cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Khi dạy tiết 54,
14


tuần 14 lớp 8: Luyện nói thuyết minh một thứ đồ dùng, tôi ra đề bài “Thuyết
minh về cái phích nước”. Sở dĩ tôi chọn đề bài này vì cái phích là đồ dùng rất
quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của các em, các em dễ quan sát và hiểu
rõ về công dụng chức năng của nó. Nên khi quan sát lập dàn ý và luyện nói các
em dễ dàng thực hiện hơn.
Căn cứ vào nội dung bài tập làm văn trước để ra đề bài đảm bảo nguyên
tắc tích hợp, tích cực ở học sinh. Ví dụ: Ở lớp 6 trước tiết “Luyện nói văn miêu
tả” tiết 96, tuần 24: Tả bằng miệng quang cảnh lớp học trong “Buổi học cuối
cùng”. Ở lớp 8, tiết 42, tuần 11: “Em hãy đóng vai Chị Dậu kể lại đoạn trích:
Tức nước vỡ bờ”. Hay khi dạy tiết 65, tuần 13 lớp 9: Luyện nói: Tự sự kết hợp
với nghị luận và miêu tả nội tâm, tôi chọn ra đề bài: Em hãy đóng vai Trương
Sinh kể lại chuyện Chuyện người con gái Nam Xương. Với đề bài này, các em
đã được học văn bản “Chuyện người con gái Nam Xương” ở tiết đọc - hiểu, các
em sẽ dễ dàng lập dàn bài và nói theo dàn ý nội dung câu chuyện theo ngôi kể
mới.
Còn có những tiết luyện nói kể chuyện, biểu cảm về sự việc, con người
trong đời sống thường ngày, học sinh phải có cách vận dụng, quan sát, tưởng
tượng, so sánh và nhận xét gắn với sinh hoạt hằng ngày. Ví dụ: Ở tiết 29, Ngữ

dàn ý để rút ra dàn ý chung của nhóm, luyện nói trước gương ở nhà, đến lớp
luyện nói trong nhóm và luyện nói trước lớp. Khi chia nhóm, tôi chú ý đến việc
chia đều các đối tượng học sinh để các em hỗ trợ nhau trong quá trình chuẩn bị.
Nội dung hướng dẫn học sinh chuẩn bị, tôi thường tiến hành ở cuối của tiết học
trước (khoảng 1 tuần trước tiết “Luyện nói”), với những câu hỏi, bài tập và đề
bài cụ thể:
Ví dụ : Với đề bài “Em hãy tự giới thiệu về bản thân”, tôi hướng dẫn học
sinh về nhà ôn lại lý thuyết văn kể chuyện: các bước tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý.
Đề bài “Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Chủ tịch Hồ Chí
Minh”, tôi nhắc học sinh về nhà ôn lại lý thuyết phát biểu cảm nghĩ.
Đề bài “Thuyết minh về cái phích nước”, tôi hướng dẫn các em vận dụng
kiến thức liên môn để giải quyết: kiến thức vật lí, công nghệ thông tin...
Với những tiết “Luyện nói” có đề bài thích hợp với nội dung văn bản đã
học, tôi yêu cầu học sinh phải học và nắm chắc kiến thức văn bản Ngữ văn như
sự việc, nhân vật, cốt truyện ...thì mới có thể lập dàn ý và nói chính xác được.
Ở tiết “Luyện nói văn miêu tả”: Tả bằng miệng quang cảnh lớp học trong
16


“Buổi học cuối cùng”. Tôi yêu cầu học sinh phải đọc kĩ văn bản, đọc kĩ đoạn
văn trong sách giáo khoa để nắm được nội dung văn bản, đoạn văn nói đến vấn
đề gì. Từ đó các em mới có thể vận dụng tả lớp học trong “Buổi học cuối cùng”
ấy để từ đó có căn cứ, có cơ sở tả lại thầy giáo.
Ở lớp 8, tiết 42, tuần 11: “Em hãy đóng vai Chị Dậu kể lại đoạn trích:
Tức nước vỡ bờ”. Trước hết, học sinh phải nắm lý thuyết văn kể chuyện kết
hợp với yếu tố biểu cảm. Nắm được nội dung đoạn trích: Nhân vật, tình huống,
hành động, lời nói của từng nhân vật. Từ đó dùng lời văn của mình để kể lại
(phải bám vào chi tiết chính trong văn bản ở SGK).
Hay khi dạy tiết 65, tuần 13 lớp 9: Luyện nói: Tự sự kết hợp với nghị
luận và miêu tả nội tâm, đề bài: Em hãy đóng vai Trương Sinh kể lại chuyện

Vì thế, đứng trước môi trường giao tiếp này nhiều học sinh vốn giao tiếp tự
nhiên bỗng trở thành lúng túng, ngượng nghịu, mất bình tĩnh dẫn đến thành
công không cao khi nói, nhất là với học sinh lớp 6.
Qua thực tế giảng dạy chương trình sách giáo khoa từ lớp 6 cho đến lớp
9, tôi thấy việc tổ chức giờ luyện nói cho lớp 6 là khó khăn nhất. Bởi các em
mới ở tiểu học lên, chưa quen với một tiết học được tách riêng ra 45 phút. Khâu
tổ chức của các em còn mang phong cách của các em nhỏ ở tiểu học: các em
thường không chuẩn bị dàn ý ở nhà mà chỉ nói như thói quen ở tiểu học (gần
như viết bài và học thuộc). Rút kinh nghiệm qua những giờ dạy của giáo viên,
trong giờ luyện nói đầu tiên của chương trình tiết 29- Luyện nói kể chuyện, tôi
phải mất nhiều thời gian của cuối tiết học trước để hướng dẫn học sinh cách lập
dàn ý chi tiết. Sau đó tôi hướng dẫn học sinh như sau:
+ Tham khảo dàn ý sơ lược trong sách giáo khoa.
+ Triển khai dàn ý đó thành dàn ý chi tiết của mình, tập nói ở nhà.
Khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà, giáo viên cũng đưa ra những
yêu cầu cụ thể về nội dung và kĩ năng luyện nói để học sinh có thể tự nhận xét,
đánh giá kĩ năng nói của mình cũng như các bạn trong nhóm.
Ví dụ: Về Nội dung: - Nói đúng chủ đề, đúng thể loại:
Về Kĩ năng: - Kĩ năng nói:
+ Tư thế, tác phong: đàng hoàng, tự tin, mắt nhìn thẳng vào người nghe.
+ Giọng nói: rõ ràng, truyền cảm, phát âm chuẩn( chú ý l-n).
+ Ngữ điệu: phù hợp, không nói như đọc.
+ Biểu cảm: kết hợp cử chỉ, nét mặt, ánh mắt,...
18


+ Biết mở đầu, kết thúc bài nói của mình.
- Kĩ năng nhận xét
Dựa vào yêu cầu, nhận xét về nội dung và kĩ năng trên hai phương diện
ưu điểm và nhược điểm ( nhận xét ưu điểm trước, nhược điểm sau)

học sinh.
4.2.4. Biện pháp thứ tư: Tổ chức hoạt động trong tiết học
Để đảm bảo thời gian cho việc học sinh luyện nói, giáo viên có thể linh
hoạt thực hiện các bước lên lớp, đi vào vấn đề trọng tâm cụ thể của tiết dạy.
Các phần khác phải thao tác nhanh vì học sinh đã chuẩn bị trước và giáo viên
cũng đã kiểm tra trước khi diễn ra tiết học. Tiết học luyện nói có ba phần: Phần
19


1 và phần 2 chỉ sử dụng 1/4 quỹ thời gian của tiết dạy còn lại dành cho phần 3:
Luyện nói.
Phần 1: Chuẩn bị: ( 5-7’)
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, tìm ý bằng những câu hỏi gợi mở.
- Trên cơ sở học sinh đã chuẩn bị bài ở nhà, giáo viên cho đại diện một
nhóm trình bày, các nhóm khác nhận xét và thống nhất dàn ý chung (giáo viên
chiếu dàn ý chuẩn lên màn hình).
Phần 2: Yêu cầu luyện nói: ( 2’)
Tất cả các tiết luyện nói ở các khối lớp đều nhằm giúp học sinh rèn luyện
tốt kĩ năng nói của bản thân trước tập thể (có cô giáo và các bạn học sinh), khác
với cách nói thông thường trong các giờ giải lao, trong các câu chuyện tâm sự
của các em với nhau với các thầy cô giáo. Vì thế, giáo viên cần quan tâm
hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị nội dung bài tốt để các em hình dung được
mình sẽ nói cái gì? (xác định đề tài theo đề bài giáo viên cho), nói với ai? (xác
định đối tượng giao tiếp), nói trong hoàn cảnh nào? (xác định hoàn cảnh giao
tiếp), nói để làm gì?( xác định mục đích giao tiếp) và nói như thế nào? (cách
thức giao tiếp).
Vì vậy, giáo viên cho học sinh nhắc lại yêu cầu, giáo viên chiếu lên màn
hình để cả lớp cùng theo dõi và làm cơ sở nhận xét.
- Nội dung: Nói đúng chủ đề, đúng thể loại
- Kĩ năng nói

chế.
Ở bước này tôi đặc biệt chú trọng đến kĩ năng nhận xét của học sinh. Tôi
đánh giá cao những lời nhận xét chính xác về cả nội dung và kĩ năng phần nói
của bạn trước lớp. Nhận xét tốt còn được đánh giá cao hơn nói tốt. Bởi vì, để
nhận xét bạn đòi hỏi học sinh phải tập trung theo dõi, phải có kiến thức, năng
lực nghe, đánh giá. Nhận xét bạn cũng là một cách học. Những ưu điểm, hạn
chế của bạn đều là bài học đáng quý đối với mỗi học sinh để tự rút kinh nghiệm
trong phần nói của mình vì “Học thầy không tày học bạn”, học cả kiến thức và
kỹ năng nói. Đây là một điểm mới mà nhiều đồng nghiệp chưa thực sự chú
trọng. Việc học sinh nhận xét bạn là được đánh giá lẫn nhau một cách khách
quan.
- Giáo viên cùng học sinh nhận xét, đánh giá cho điểm, tuyên dương học
sinh. Phần luyện nói trước lớp với đối tượng học sinh khá giỏi hoặc ở lớp 8,9
21


giáo viên có thể linh hoạt cho học sinh tự tổ chức. Chọn một học sinh có khả
năng để dẫn chương trình điều khiển các nhóm lên nói. Ở bước này kể cả học
sinh lên nói, học sinh nhận xét và học sinh dẫn chương trình đều được rèn kĩ
năng nói trước tập thể. Năng lực giao tiếp, cảm thụ văn học, sáng tạo, tự quản
ứng dụng công nghệ thông tin được thể hiện rõ nhất ở phần luyện nói trước lớp.
Khi nói phải tạo cho học sinh hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi như không
khí hào hứng trong lớp học, thái độ dễ hợp tác của những người cùng tham gia
giao tiếp, sự khuyến khích động viên kịp thời của giáo viên.
Khi tiếp xúc với các em lần đầu tiên, giáo viên cần thiết lập tốt mối quan
hệ, giúp học sinh thấy được sự gần gũi, thân tình nơi giáo viên. Điều này là cơ
sở giúp học sinh dễ dàng bộc lộ với giáo viên hơn trong những giờ học sau.
Giáo viên có thể làm quen với các em bằng cách giới thiệu về mình cũng
là cơ sở để các em theo đó mà tự giới thiệu bản thân về những điều đơn giản
như họ, tên, tuổi, sở thích,…Điều này không kém phần quan trọng, vì nếu làm

Muốn đạt được kết quả cao trong giờ luyện nói, giáo viên phải chủ động
phát huy kinh nghiệm của cá nhân, đồng nghiệp. Linh hoạt trong việc vận dụng
các kiến thức, đổi mới phương pháp dạy học theo nguyên tắc tích hợp, theo
hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, vận dụng sáng tạo lý thuyết
giao tiếp vào dạy các giờ luyện nói cũng như luyện nói cho học sinh trong các
giờ học khác.
Ở biện pháp này, những năng lực của học sinh đã được thể hiện cụ thể
qua việc trình bày sáng tạo thông qua các tiểu phẩm, các tình huống, hoạt động
hợp tác để xử lý tình huống, đặc biệt là năng lực cảm thụ và sử dụng ngôn ngữ
tiếng Việt.
4.2.5. Biện pháp thứ năm: Nhận xét đánh giá, động viên, rút kinh
nghiệm
Bên cạnh đánh giá việc trình bày của học sinh, giáo viên cũng nên lưu ý
cho học sinh những lỗi cần tránh trong nói tiếng Việt về chính âm, chính tả và
hướng dẫn các em nói diễn cảm, ngắn gọn, súc tích, hấp dẫn người nghe.
- Giáo viên nhận xét từng nhóm, cho điểm nhóm, có thể động viên cộng
điểm cho nhóm có bạn xung phong nói.
- Giáo viên tuyên dương sự chuẩn bị tốt, nói tốt của cá nhân, nhóm để
học sinh khác học tập.
- Động viên nhắc nhở những học sinh còn trầm chưa mạnh dạn để giờ
sau nói tốt hơn.
23


- Kết thúc giáo viên có thể hỏi học sinh: Qua giờ luyện nói, em thấy
muốn nói thành công em phải làm gì?
- Học sinh trả lời, giáo viên nhấn mạnh lại yêu cầu nội dung bài nói:
+Nói cái gì? (Xác định đề tài)
+Nói với ai? (Xác định đối tượng giao tiếp)
+Nói trong hoàn cảnh nào? (Xác định hoàn cảnh giao tiếp)

Em có thích học tiết “Luyện nói” không?

Không
5.1.2. Kết quả
+ Khảo sát sự hứng thú học tiết luyện nói
Kết quả

Tổng số

Lớp

học sinh

6A
7B
8C
9D
Tổng

30
30
30
29
119

Hứng thú
Số lượng
%
13
43,3

Tổng

Tổng
số HS

30
30
30
29
119

Giỏi
SL

Khá
%

5
3
1
0
9

16,7
10,0
3,3
0
7,6

SL


Yếu
SL

2
9
12
15
38

%

6,6
30,0
40,0
51,7
31,9

5.1.3. Nhận xét, đánh giá
- Qua khảo sát tôi thấy đa số các em không hứng thú với giờ học luyện
nói. Chính vì vậy chất lượng học tập bộ môn Ngữ văn chưa cao, học sinh đạt
điểm trung bình trở lên đạt khoảng 68,1 %. Qua thực tế điều tra trên, đi sâu tìm
hiểu nguyên nhân, tôi thấy có tình trạng trên là vì:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status