skkn rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 - Pdf 37

PHẦN 1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:

Rèn chữ viết cho học sinh lớp 1
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt
3. Tác giả: Nguyễn Thị Hà

Nam (nữ): Nữ

Ngày tháng/ năm sinh: 07/08/1976
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
Tổ trưởng tổ 1, trường tiểu học Bắc An
Điện thoại: 0968647906
4. Đồng tác giả: Không
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Bắc An - Thị xã Chí LinhTỉnh Hải Dương.
Điện thoại: 03203887034
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Bắc An - Thị xã Chí
Linh- Tỉnh Hải Dương.
Điện thoại: 03203887034
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Giáo viên lớp 1 trường tiểu học Bắc An.
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: năm học 2013-2014

HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Nguyễn Thị Hà


sẽ có điều kiện ghi chép bài học của tất cả các môn học được tốt hơn .

2


PHẦN 2:
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1.1 Dựa vào nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị
lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế.
1.2. Dựa vào mục tiêu giáo dục tiểu học:
Giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và
lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản
Hình thành và phát triển những cơ sở nền tảng nhân cách con người
Sản phẩm của GDTH có giá trị cơ bản, lâu dài, có tính quyết định đối
với cuộc đời mỗi con người
Bất kì ai cũng phải sử dụng các kĩ năng nghe, nói, đọc viết và tính toán
được học ở tiểu học để sống để làm việc
Trường tiểu học là nơi đầu tiên dạy trẻ em biết yêu gia đình, quê
hương, đất nước và con người, biết đọc, biết viết biết làm tính, biết tìm hiểu
tự nhiên, xã hội và con người.
1.3 Thực hiện việc đổi mới theo thông tư 30.
Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến
khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp
học sinh phát huy tất cả khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan.
Đánh giá toàn diện học sinh thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến
thức, kĩ năng và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục

linh hoạt, cách ứng sử đúng mức, hợp đạo lý với tự nhiên, con người và xã
hội, tăng cường sức khoẻ và thường xuyên rèn luyện thân thể, có đầy đủ phẩm
chất, ý chí và ước mơ đem sức mình làm cho cuộc sống bản thân, gia đình,
đất nước trở nên giàu có, lành mạnh, hạnh phúc, đáp ứng được những nhu cầu
phù hợp với yêu cầu của xã hội trong thời đại mới. Do đó chúng ta phải dạy
cho học sinh đầy đủ các môn học theo phương pháp đổi mới đã được quy
định trong trường Tiểu học. Song môn Tiếng Việt là một trong những môn
học chiếm nhiều thời lượng nhất trong chương trình nó bao gồm các phân
4


môn như: Học vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Kể chuyện ….Trong đó phân
môn Tập viết được coi là một trong những phân môn có tầm quan trọng đặc
biệt nhất là đối với học sinh lớp Một. Học vần, Tập đọc giúp các em đọc
thông, Tập viết giúp các em viết thạo. Đọc thông, viết thạo có quan hệ mật
thiết với nhau cũng như dạy Tập viết, Học vần, Tập đọc không thể tách rời
nhau. Viết đúng mẫu chữ rõ ràng và nhanh học sinh sẽ có điều kiện ghi chép bài
học của tất cả các môn học được tốt hơn .
Tập viết là một phân môn có tính chất thực hành. Trong chương trình
không có tiết học lý thuyết, chỉ có các tiết rèn luyện kĩ năng. Tính chất thực
hành có mục đích của việc dạy học Tập viết cũng góp phần khẳng định vị trí
quan trọng của phân môn này ở trường Tiểu học.
Ngoài ra Tập viết còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học
sinh có những phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, tỉ mỉ, tinh thần kỉ luật
và óc thẩm mĩ. Bởi vậy mà người xưa thường dùng thành ngữ: '' Văn hay, chữ
tốt '' để khen những học trò giỏi và câu: " Văn dai như chão, chữ vuông như
hòm" để chê những học trò yếu, kém. Rõ ràng từ xa xưa chữ viết đã được coi
trọng chẳng kém gì nội dung văn chương. Chữ viết đẹp, dễ xem gây được
thiện cảm cho người đọc. Chữ viết phần nào cũng phản ánh ý thức rèn luyện,
óc thẩm mĩ và tính nết của người viết. Để khẳng định tầm quan trọng của chữ

thiếu nét, viết không đúng dòng kẻ, không bám dòng, khoảng cách giữa các
nét trong một chữ và giữa các chữ với chữ chưa đúng qui định. Điều đó ảnh
hưởng không nhỏ đến chất lượng học Tiếng Việt nói riêng và học các môn
khoa học khác nói chung. Tất cả những vấn đề vừa nói ở trên cũng do rất
nhiều nguyên nhân: Một phần do tính cẩu thả của học sinh khi viết, một phần
là do thiếu sự quan tâm của giáo viên chủ nhiệm chưa cải tiến phương pháp
giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Là một giáo viên trực
tiếp giảng dạy và chủ nhiệm lớp 1 đã nhiều năm. Với tình hình thực tế và kết
quả thi vở sạch chữ đẹp của lớp trong những năm qua, khiến tôi vẫn trăn trở,
day dứt làm thế nào để nâng chất lượng chữ viết của học sinh lên cao nữa?
Chính vì vậy mà tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu và đưa ra sáng kiến “ Rèn chữ
viết cho học sinh lớp Một ”.

6


3. Thực trạng về việc rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 ở phân môn Tập
viết.
Tập viết thuộc giai đoạn đầu của kĩ năng viết. Vì vậy trọng tâm của
việc dạy Tập viết là dạy viết chữ cái và liên kết các chữ cái để ghi tiếng. Vì
thế, ở lớp 1 ( giai đoạn cuối ) song song với việc rèn viết chữ hoa, học sinh
còn được rèn viết văn bản. Từ việc giới hạn nhiệm vụ của việc dạy tập viết ở
Tiểu học có nhiệm vụ quan trọng và cụ thể là: Dạy học sinh những khái niệm
cơ bản về đường kẻ, dòng kẻ, toạ độ viết chữ, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ
cái, vị trí dấu thanh...đến các khái niệm liên kết nét chữ hoặc liên kết chữ
cái ...Từ đó hình thành cho các em những biểu tượng về hình dáng, độ cao, sự
cân đối, tính thẩm mĩ. Mặt khác, dạy Tập viết còn dạy học sinh xác định được
khoảng cách, vị trí, cỡ chữ trên vở kẻ ô li để hình thành cho trẻ kĩ năng viết
đúng mẫu, đúng cỡ và đẩy nhanh dần tốc độ viết, tiến tới viết đẹp. Ngoài ra,
tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở, cách trình bày bài viết ... cũng là một kĩ


Chữ loại C
SL
%
0
0


1B

23

10

43.5

12

52.2

1

4.3

3.2 Nguyên nhân
Qua thực trạng điều tra, khảo sát học sinh lớp 1D nói riêng và học sinh
lớp 1B của trường tôi đa số các em viết chưa đúng mẫu chữ; kĩ thuật viết chữ
chưa chính xác, ánh sáng phòng học chưa đủ nên các em chưa xác định rõ
điểm đặt bút, điểm kết thúc chữ trên dòng kẻ, chưa có mẫu chữ to rõ nét từng
nét chữ nên nét chữ rộng hơn quy định ô ly , độ cao chữ cái không đảm bảo

sinh. Hơn nữa, do bút to quá cỡ tay cầm bút của học sinh khiến các em khó
điều khiển ngòi bút khi viết chữ.
Cho nên trong buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đưa ra những quyển
vở, bút chì, bút mực để phụ huynh tham khảo. Riêng bảng con thì tôi thống
nhất toàn lớp để tránh tình trạng của em này thì có ô to, bảng của em kia thì
có ô nhỏ sẽ gây khó khăn khi dạy Tập viết.
4.2. Sử dụng các đồ dùng trực quan khi dạy học Tập viết:
4.2.1 Những đồ dùng dạy Tập viết hiện nay:
Trong luyện viết cho học sinh thì đồ dùng trực quan có tác dụng không
nhỏ, nó hỗ trợ và là phương tiện giúp cho việc luyện viết của học sinh. Những
đồ dùng này nhằm mục đích là giúp học sinh khắc sâu những biểu tượng về
chữ viết, có ý thức viết đúng mẫu và tạo không khí sôi nổi, phấn chấn trong
quá trình dạy viết chữ theo hướng “Đổi mới phương pháp dạy học”. Đồ dùng
trực quan có thể sử dụng trong quá trình dạy bài mới, luyện tập hoặc củng cố
bài học.
* Mẫu chữ trong khung chữ phóng to theo bảng mẫu chữ hiện hành treo
trên lớp. Bảng mẫu chữ cần cố định thường xuyên để giáo viên có thể chủ
động sử dụng khi cần thiết không chỉ trong giờ Tập viết mà ngay trong cả
những môn học khác khi có học sinh viết chưa đúng mẫu chữ.
* Bộ mẫu chữ in theo quy định cho giáo viên.
4.2.2 Đồ dùng tự làm đạt hiệu quả trong việc dạy - học Tập viết:
Để việc dạy Tập viết có hiệu quả, giáo viên có thể nghiên cứu tự làm
các loại đồ dùng trực quan rất hữu ích cho việc dạy học Tập viết như: chữ
mẫu phần từ ứng dụng để học sinh nhìn rõ cách viết, điểm đặt bút từ đâu đến
đâu để viết cho liền mạch và giúp cho thao tác của giáo viên được nhanh hơn.
9


Hay loại đồ dùng tự làm cũng rất tiện lợi cho các loại bảng con có đính
nam châm ở sau để viết trực tiếp lên bảng cho học sinh lên viết để học sinh


Ví dụ: Trong bài Tập viết Tuần 13“Nhà trường, buôn làng, hiền lành” (lớp 1),
khi hướng dẫn học sinh viết từ “buôn làng”, giáo viên dùng que chỉ và đưa ra
hệ thống câu hỏi:
+ (?) Các con nhìn lên bảng và cho cô biết đây là từ gì? (buôn làng)
+ (?) Từ buôn làng gồm mấy chữ ?
+ (?) Nêu độ cao của từng con chữ ?
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh viết nét chữ, nối từng con chữ, khoảng
cách giữa các con chữ với nhau, khoảng cách giữa các chữ trong một từ
với nhau.
4.2.2.2 Đồ dùng viết hoàn chỉnh một chữ cái bằng cách di chuyển nam
châm (dùng để hướng dẫn các nét tạo thành con chữ):
* Mục đích sử dụng của đồ dùng: Giúp học sinh điều chỉnh 1 chữ cái đúng
yêu cầu từ điểm đặt bút đến điểm kết thúc.
* Cách làm đồ dùng:
- Một tờ bìa cứng khổ A4 có in sẵn mẫu chữ hoa hoặc thường theo đúng quy
định.
- Hai viên nam châm tròn, một viên có dán giấy màu đỏ ở trên, một viên để
nguyên.
* Cách sử dụng đồ dùng:
Giáo viên dùng thao tác viết ở phía sau tờ bìa bằng cách di chuyển viên
nam châm không có giấy màu đỏ. Di chuyển viên nam châm đúng theo quy
trình viết một con chữ từ điểm đặt bút đến điểm kết thúc nét bút để viên nam
châm có dán giấy màu đỏ phía trước đúng khi giáo viên viết một con chữ cái.
Ví dụ: Hướng dẫn bài Tập tô “Chữ A, Ă, ”
Giáo viên giảng: Từ điểm đặt bút ở đường kẻ ngang thứ 3, viết nét móc
ngược (trái) từ dưới lên, nghiêng về bên trái và lượn ở phía trên, dừng bút ở
đường kẻ 6. Từ điểm dừng bút của nét 1, chuyển hướng bút viết nét móc
ngược phải, dừng bút ở đường kẻ ngang 2, (vừa nói, giáo viên vừa di chuyển
viên nam châm ở phía sau tờ bìa).

nếu cầm bút sát ngòi hoặc quá xa ngòi bút thì việc điều khiển bút khi viết sẽ
12


khó khăn, làm cho chữ xấu mà mực dễ bị ra tay, ra vở. Còn vở viết khi viết
bài, tôi cũng luôn hỏi lại học sinh cầm bút và cách đặt vở. Những yếu tố
tưởng chừng không quan trọng nhưng thực chất đã góp phần tích cực vào việc
rèn chữ cho học sinh.
4.4. Rèn kỹ năng viết cho học sinh:
4.4.1 Xác định dòng kẻ trong vở Tập viết
Khi dạy Tập viết cho học sinh cần yêu cầu học sinh nắm vững được vị
trí các đường kẻ trong vở Tập viết. Năm học 2009 - 2010 theo yêu cầu của
giáo viên trực tiếp giảng dạy Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành vở Tập viết
lớp 1 có dòng kẻ ô li để học sinh dễ viết và viết đúng kĩ thuật hơn. Nhưng
giáo viên phải cho học sinh nắm chắc đâu là đường kẻ ngang, đâu là đường kẻ
dọc, đâu là đường kẻ ngang trên, đâu là đường kẻ ngang dưới.
4.4.2. Kĩ thuật quan trọng để thực hiện viết chữ đúng mẫu như:
* Xác định điểm đặt bút:
Điểm đặt bút là điểm bắt đầu khi viết một nét trong chữ cái. Điểm đặt
bút có thể nằm trên đường kẻ ngang hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.
Ví dụ: Điểm đặt bút nằm trên đường kẻ ngang thứ hai bao gồm tất cả
các nét xiên như khi viết các chữ: b, h, i, k, l, p, t, u, ư, y.
Điểm đặt bút nằm trên đường kẻ ngang thứ nhất là khi ta viết các chữ:
s, r.
Điểm đặt bút không nằm trên đường kẻ ngang bao gồm tất cả các nét
tròn như khi ta viết các chữ: a, ă, â, o, ô, ơ, d, đ, g. Điểm đặt bút của các chữ
này bao giờ cũng nằm thấp hơn so với đường kẻ ngang thứ ba về phía bên
phải của chữ. Còn khi viết chữ v, x thì điểm đặt bút cũng nằm thấp hơn so với
đường kẻ thứ ba nhưng lại ở bên trái của chữ. Riêng chữ e, ê thì điểm đặt bút lại
nằm trong dòng kẻ thứ nhất.

được nhấc bút mà phải di ngòi bút chạy ngược lại nét đã viết rồi mới thực
hiện viết nét thứ hai. Như khi viết các chữ: h, k. n, m. p.
8.4.3. Yêu cầu học sinh nắm vững tên gọi của các nét cơ bản
14


Ngay từ bài học đầu tiên học sinh đã được học các nét cơ bản. Tất cả
các nét cơ bản tôi chia thành bốn nhóm như sau:
- Nhóm 1: Các nét sổ: Nét sổ thẳng:

|

Nét gạch ngang:
Nét xiên trái:
Nét xiên phải:
- Nhóm 2: Các nét móc: Nét móc xuôi:
Nét móc ngược:
Nét móc hai đầu:
Nét móc hai đầu thắt giữa:
Nét gút :
- Nhóm 3: Các nét cong : Nét cong trái:
Nét cong phải:
Nét cong tròn khép kín:

o

-Nhóm 4: Các nét khuyết: Nét khuyết xuôi :
Nét khuyết ngược:
Trong những bài học đầu tiên học sinh cần nắm chắc và viết thành thạo
các nét cơ bản. Để học sinh dễ nhớ và dễ viết xét cấu tạo nét chữ, hình dáng

với nhau. khi viết chữ a, nét cơ bản đầu tiên là phải viết nét cong tròn khép
kín sau đó mới viết nét móc ngược, khi viết nét móc ngược thì bản thân nét
móc phải nằm trùng lên bên phải của nét tròn, độ cao của nét móc ngược phải
cao bằng dòng kẻ mà ta vừa viết nét tròn. Hoặc khi hướng dẫn học sinh viết
các nhóm chữ có nét tròn như: o, a, c cần hướng dẫn học sinh điểm đặt bút
đầu tiên của chữ phải đúng khi đưa bút để viết các nét cong phải lượn sao cho
các nét cong thật chuẩn đúng mẫu chữ và đúng qui trình viết thì chữ viết mới
đẹp.
Hoặc khi dạy viết các nhóm chữ l, b, h, k. Nhóm chữ cái này đều
giống nhau là có nét khuyết xuôi muốn viết được các chữ cái này đẹp trước
hết giáo viên phải hướng dẫn học sinh viết nét khuyết xuôi thật thẳng và đẹp
16


đặc biệt là nét cắt của chữ phải nằm đúng giữa dòng kẻ. Học sinh viết thật đẹp
nét khuyết xuôi rồi mới hướng dẫn các em nối tiếp các nét còn lại để tạo
thành chữ. Khi hướng dẫn cho học sinh viết giáo viên phải hướng dẫn tỉ mỉ
từng nét, học sinh phải được luyện viết nhiều lần trên bảng con để giáo viên
uốn nắn và sửa sai sau đó mới cho học sinh viết vào vở. Có như vậy chữ viết
mới đúng mẫu, các nét chữ mới đẹp Nếu không các em sẽ viết nét khuyết
xuôi không thẳng hoặc khoảng cách giữa các nét không cân đối dẫn tới kết
quả chữ viết không đẹp.
Ngoài các chữ cái ra còn dấu của các chữ, các chữ cái có dấu như: ă, â,
ô, ơ, ê, i, ư. Và một số dấu ghi thanh đó là:
Thanh huyền : (

)

Thanh sắc :


chữ và khoảng cách của chúng.
Có trường hợp phải mở rộng phần cuối nét móc của chữ cái đứng trước
để nối với chữ cái đứng sau cho phù hợp.
Ví dụ các phụ âm đầu nối với chữ e như: me tre, le, xe, đe...
Cũng có trường hợp khi viết phải điều chỉnh phần cuối nét móc của chữ
cái đứng trước hẹp hơn để nối với chữ cái đứng sau như nối với n, m. Ví dụ
như: im, iêm, en, ên......
Cũng có trường hợp khi viết phải điều chỉnh cả phần cuối nét của chữ
cái đứng trước và cả điểm đặt bút của chữ cái đứng sau như: Khi viết chữ: be,
ve, bi, vi, oe, .....
Cũng có trường hợp khi viết không thực hiện được yêu cầu viết liền
mạch mà phải ước lượng bằng vị trí điểm đặt bút để viết chữ cho đúng như
khi viết chữ: : ca nô, cô ca, ba, má …
Đối với học sinh lớp Một khi hướng dẫn các em viết liền mạch trong
một vần gồm ba đến bốn chữ cái, giáo viên cần phải cho học sinh nắm chắc
cách nối các chữ cái rồi mới thực hiện viết bài vào bảng, vào vở.
Trong các bài tập viết ở phần âm học sinh được hướng dẫn rất tỉ mỉ.
Sang phần vần chủ yếu là củng cố cách viết các chữ và củng cố hình dáng
chữ.
Bước sang giai đoạn học Tập đọc ngoài yêu cầu tập nối chữ trong vần
( ở các trường hợp trên). Tuỳ từng trường hợp mà vận dụng vào chữ viết. Học
sinh còn phải học cách ghi các dấu của các chữ cái và dấu thanh của chữ.
Giáo viên cần hướng dẫn cụ thể tuỳ từng chữ có thể viết liền mạch phần nào
còn phần nào phải nhấc bút nhưng với yêu cầu phải viết hết các chữ cái trong
một chữ rồi mới đặt dấu thanh sau.
Ví dụ: Khi viết từ: tiếng việt

18




Thứ sáu ngày 8 tháng 11 năm 2013
Tập Viết
Cái kéo, trái đào, sáo sậu , líu lo, hiểu bài, yêu cầu.

Tiết 1

Thứ sáu ngày 20 tháng 12 năm 2013
Tập viết
Thanh kiếm , âu yếm , ao chuôm, bánh ngọt...

Tiết 2:

Ghi chú: Giáo án được trình bày đóng sau phần phụ lục.

5. Kết quả đạt được
Qua quá trình dạy thực nghiệm rèn chữ viết cho học sinh theo phương
pháp đề xuất ở trên, cùng với sự đánh giá sát sao và theo dõi chặt chẽ cũng
như kiểm tra thường xuyên bài viết của học sinh.
Kết quả thực nghiệm ở lớp 1D và lớp đối chứng 1B qua bài viết của
học sinh cụ thể như sau:
Lớp

Sĩ số

Chữ loại A
Chữ loại B
Chữ loại C
SL
%

6.1 Sáng kiến Rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 đã được thực hiện
trong trường tôi và đã thu được kết quả tốt, đã được Hội đồng Khoa học trong
nhà trường đánh giá cao. Nếu các biện pháp của sáng kiến này được áp dụng
20


và triển khai rộng rãi với tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình, có sự kiên trì,
say mê của các đồng chí giáo viên trực tiếp đứng lớp trong các nhà trường
tiểu học trong địa bàn thị xã hoặc các trường tiểu học địa bàn khác, tôi tin
chắc chắn rằng sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc rèn chữ viết cho học sinh
lớp 1.
6.2 Nắm chắc được vai trò quan trọng của môn Tập viết nên những việc
làm trên đã được tôi tiến hành một cách thường xuyên trong các tiết Tập viết
và các tiết học khác. Nếu so với đầu năm, nhiều em còn viết ẩu, viết xấu, viết
sai chính tả thì đến nay khi áp dụng sáng kiến này đem lại kết quả cao trong
việc rèn chữ viết cho học sinh lớp 1. Chữ viết của học sinh lớp tôi tương đối
đều, bài viết sạch đẹp: tốc độ viết của học sinh đã nhanh hơn, tỉ lệ viết đúng
chính tả và viết đẹp của học sinh cũng nâng lên. Cụ thể :
- Nhiều em viết chữ đúng chính tả, mẫu chữ chuẩn, đẹp, sạch.
- Chữ viết của các em tương đối đều, thẳng hàng, đúng mẫu chữ quy định và
đạt được tốc độ yêu cầu đối với học sinh lớp 1 theo từng giai đoạn.
- Vở viết của học sinh sạch và đẹp, không nhàu nát, bài viết cẩn thận.
- Lớp đạt lớp Vở sạch chữ đẹp.

21


PHẦN 3:
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết quả của sáng kiến mang lại:

viên.
- Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để học hỏi kinh nghiệm của các
đồng nghiệp, các trường có phong trào “Vở sạch – Chữ đẹp” tiêu biểu.
2.2- Đối với giáo viên:
- Cần quan tâm đúng mức đến việc rèn chính tả cho các em học sinh, thường
xuyên rèn cho các em các thao tác viết đúng chính tả.
- Bản thân giáo viên cũng cần phải có ý thức trong việc luyện chính tả, thói
quen phát âm chuẩn, bởi giáo viên chính là tấm gương để các em học sinh học
tập.
- Thường xuyên rèn luyện để có chữ viết mẫu chuẩn
- Chuẩn bị đồ dùng dạy học một cách cẩn thận, có chọn lọc và sáng tạo
2.3- Đối với học sinh
- Luôn đầy đủ đồ dùng học tập theo quy định của nhà trường.
- Luôn luôn có ý thức và thói quen rèn chữ viết, chính tả không chỉ rèn trong
vở tập viết, chính tả mà còn rèn ở tất cả các vở ghi, không chỉ rèn trên lớp mà
còn rèn ở nhà và rèn cả trong giao tiếp.
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đưa ra nhằm nâng cao chất lượng
“Rèn chữ viết cho học sinh lớp 1”. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến và bổ sung của các đồng nghiệp, các chuyên gia, các đồng chí lãnh đạo
giúp tôi hoàn thành kinh nghiệm này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

23


Môc lôc
Tiểu mục
Nội dung
PHẦN 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
PHẦN 2: MÔ TẢ SÁNG KIẾN.

4.6

Giáo án dạy minh họa

5
6
PHẦN 3:
1
2

Kết quả đạt được
Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết quả của sáng kiến mang lại:
Khuyến nghị và đề xuất:

24


Thứ sáu ngày 8 tháng 11 năm 2013
Tiết 1 :Tập Viết

Cái kéo, trái đào, sáo sậu , líu lo, hiểu bài, yêu cầu.
I. Mục tiêu :
- Hs đọc và viết đúng các chữ: Cái kéo, trái đào, sáo sậu, líu lo, hiểu bài, yêu
cầu; viết kiểu chữ viết thường cỡ vừa theo vở tập viết 1, tập 1.
- Giúp học sinh viết đúng cỡ chữ, nối đúng nét giữa các con chữ, ghi dấu
thanh đúng vị trí.
- Rèn học sinh tính cẩn thận, thẩm mĩ.
II.Đồ dùng dạy học.

- Độ cao các con chữ trong từ cái kéo?
- Khoảng cách giữa các tiếng trong
- cái kéo
một từ?
- chữ cái; c, a, i, e, o cao 2 li,
- GV viết mẫu- vừa viết vừa nói
chữ cái k cao 5 li
- Cho học sinh xem chữ mẫu.
- một chữ cái o
- Cho học sinh viết vào bảng con.
- Quan sát
* Dạy tương tự với những từ còn lại
3. Viết vào vở
- Viết trên bảng con
- Hướng dẫn học sinh cách cầm bút,
cách đặt vở, tư thế ngồi viết.
- bảng con
- Cho học sinh viết từng dòng vào vở.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status