UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
DẠY TẬP ĐỌC THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH
TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH
Môn Tiếng Việt – Lớp 5
Năm học 2014 – 2015
1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Dạy Tập đọc theo hướng phát huy tính tích cực,
chủ động của học sinh
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 5 các trường tiểu học
3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Kim Oanh
Nữ
Sinh ngày: 12/ 8/ 1973
Trình độ chuyên môn: Đại học – Chuyên ngành Giáo dục Tiểu học
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phả Lại 2 – Chí Linh – Hải Dương
Điện thoại: 0979 967 339
4. Chủ đầu tư sáng tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Phả Lại 2
Phả Lại - Chí Linh - Hải Dương
5. Điều kiện áp dụng:
5.1 Giáo viên:
sách. Mà để đọc thông viết thạo thì phải gắn liền với đọc đúng đọc hay, rõ
ràng, lưu loát và đọc diễn cảm tốt. Muốn học sinh hiểu rõ được nội dung bài
đọc, cảm thụ được cái hay cái đẹp của bài đọc thì các em phải tích cực, chủ
động trong việc học các bài tập đọc. Để học sinh có được sự chủ động tích
cực trong học Tập đọc là một yêu cầu đòi hỏi người giáo viên phải có sự lao
động sáng tạo thì mới đạt được hiệu quả cao. Do vậy tôi đã lựa chọn đề tài
" Dạy Tập đọc theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh".
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
2.1. Điều kiện áp dụng:
- Giáo viên có trình độ đạt chuẩn trở lên, tâm huyết với nghề nghiệp.
Tích cực đổi mới phương pháp dạy học.
- Học sinh có đủ sách giáo khoa, đồ dùng học tập, có ý thức tích cực, tự
giác học và làm bài.
2.2 Thời gian áp dụng:
Sáng kiến được thực hiện áp dụng từ đầu năm học 2014 – 2015.
2.3 Đối tượng áp dụng sáng kiến
- Giáo viên và học sinh lớp 5 các trường tiểu học
3
3. Nội dung sáng kiến:
3.1 Điểm mới của sáng kiến:
- Rèn kĩ năng chủ động tích cực trong giờ tập đọc cho học sinh chính là
sự kết hợp giữa đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên và sự chủ động,
tích cực chiếm lĩnh kiến thức, phát triển tư duy của học sinh thông qua hoạt
động dạy và học.
- Đổi mới phương pháp dạy học là sự kết hợp giữa phương pháp dạy
học truyền thống với phương pháp dạy học hiện đại phù hợp với trình độ nhận
thức và năng lực tư duy của học sinh, làm cho quá trình học của học sinh diễn
ra nhẹ nhàng nhưng hiệu quả, phát huy được năng lực từng cá nhân, lòng say
bước đầu hình thành văn hóa đọc cho học sinh.
- Góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt.
4. Khẳng định giá trị và kết quả đạt được của sáng kiến
Những biện pháp mà tôi nêu trong đề tài đều dựa trên những cơ sở
nghiên cứu khoa học, đã được đem áp dụng thực hiện trong các tiết dạy Tập
đọc, kết hợp với kinh nghiệm của giáo viên đứng lớp sáng kiến đã đem lại
hiệu quả cao trong việc tạo hứng thú học tập, rèn luyện kĩ năng đọc và phát
huy tính tích cực, chủ động của học sinh góp phần thực hiện thành công việc
đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy
học phân môn Tập đọc nói riêng và môn Tiếng Việt lớp 5 nói chung.
5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến
- Để thực hiện áp dụng đề tài vào giảng dạy, nhà trường cùng tổ chuyên
môn tổ chức chuyên đề, thảo luận các biện pháp áp dụng trong từng phần của
tiết dạy Tập đọc, tổ chức tiết dạy mẫu, rút kinh nghiệm và triển khai trong các
tiết dạy Tập đọc.
- Đối với giáo viên phải nắm chắc đặc trưng phương pháp bộ môn Tập
đọc. Vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học trong
giảng dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Cần soạn bài chi tiết
bám sát đối tượng, hệ thống câu hỏi phải chặt chẽ, phát huy được tư duy
nhưng đảm bảo tính vừa sức. Không biến giờ tập đọc thành giờ giảng văn, hết
sức coi trọng đọc hiểu và đọc diễn cảm. Giúp học sinh hiểu văn bản, khơi gợi
cảm xúc, ý tưởng độc đáo để các em tự tìm ra cách đọc. Sử dụng tối đa và có
hiệu quả đồ dùng dạy học trong từng tiết dạy. Tạo không khí học tập sôi nổi,
vui tươi phấn khởi để giúp học sinh nắm bắt kiến thức, rèn luyện kĩ năng đọc.
5
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
tập cho học sinh để giờ học trở lên nhẹ nhàng song đạt hiệu quả cao. Phân
môn Tập đọc cũng không tách rời nội dung đó.
Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp, tôi cũng không khỏi băn khoăn,
trăn trở trước câu hỏi là mình cần đổi mới cách dạy học như thế nào để học
sinh phát huy được tính chủ động, tích cực trong giờ học Tập đọc để học sinh
không những biết đọc văn bản chính xác và diễn cảm mà cần được bồi dưỡng
tình yêu Tiếng Việt, có thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng
Việt. Từ những lý do trên đã thôi thúc tôi tìm hiểu, lựa chọn vấn đề “ Dạy
Tập đọc theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh”.
2. Cơ sở lí luận của vấn đề:
2.1 Hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh.
Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động
ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng
hoạt động tương ứng với bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Đọc là một hoạt
động ngôn ngữ, là hoạt động nhận tin. Hoạt động đọc chỉ xảy ra khi người đọc
nắm được chữ viết. Đọc là dùng mắt và cơ quan thị giác để chuyển các ký
hiệu chữ viết trong văn bản thành dùng âm thanh ngôn ngữ. Sau đó dùng các
thao tác tư duy để người đọc thông hiểu nội dung văn bản. Năng lực đọc và
biết đọc không phải tự nhiên mà có, nó phải được hình thành và rèn luyện dần
dần trong quá trình học đọc. Phân môn Tập đọc góp phần quan trọng vào việc
hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh.
2.2 Trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ, kiến thức đời
sống cho học sinh.
Những bài Tập đọc được chọn dạy trong chương trình lớp 5 là những
câu chuyện, bài thơ, bài văn được biên soạn theo từng chủ điểm cụ thể. Chính
vì thế các bài Tập đọc này cung cấp cho các em vốn từ ngữ phong phú theo
chủ điểm như: Việt Nam -Tổ quốc tôi; Cánh chim hòa bình; Con người với
thiên nhiên; Giữ lấy màu xanh; Vì hạnh phúc con người…….Mặt khác các bài
Tập đọc cũng là những bức tranh muôn màu, muôn vẻ về thiên nhiên, xã hội,
về phong tục tập quán, về truyền thống, kinh nghiệm sống… Cho nên các em
- Bài soạn môn Tập đọc đều theo khuôn mẫu có sẵn trong sách giáo
viên mà chưa có sự suy nghĩ tìm tòi sáng tạo.
- Do đặc trưng chung của môn Tiếng Việt nên học sinh đa số chỉ được
đọc đoạn văn, đoạn thơ mà ít được đọc cả văn bản. Việc đọc trong nhóm đôi
lại chỉ là hình thức mà chưa có hiệu quả vì thời gian đọc nhóm còn ít, cả lớp
8
cùng đọc do đó giáo viên không thể kiểm soát tất cả học sinh cùng lúc, đòi
hỏi học sinh phải có tính tự giác cao.
- Việc tìm hiểu bài chỉ gói gọn các câu hỏi trong SGK, lại được tìm
hiểu dưới hình thức giáo viên hỏi- học sinh trả lời. Do vậy với một số bài Tập
đọc việc tìm hiểu chỉ dựa vào các câu hỏi SGK là chưa sâu, chưa tìm hiểu hết
nội dung ý nghĩa của bài văn, bài thơ.
- Đối với một số văn bản nghệ thuật, học sinh ít được cảm nhận cái hay,
cái đẹp qua các biện pháp nghệ thuật dẫn đến việc học sinh chưa đọc được
diễn cảm.
- Giáo viên chỉ dựa vào sự hướng dẫn việc đọc diễn cảm trong Sách
giáo viên nên việc hướng dẫn của giáo viên đối với học sinh còn rời rạc,
chưa cụ thể. Việc đọc diễn cảm của học sinh chưa có hiệu quả. Trong 1 giờ
học có ít em đọc hay, đọc diễn cảm được văn bản đó.
3.2 Về phía học sinh:
- Thực tế chương trình biên soạn môn Tập đọc lớp 5, với mục đích là
cho các em được làm quen và tiếp xúc với nhiều loại văn bản khác nhau như:
Văn bản nghệ thuật, báo chí, khoa học... Trong văn bản nghệ thuật có cả trích
đoạn, kịch, thơ, văn xuôi... vậy làm thế nào để các em hiểu chủ động và tích
cực trong khi tìm hiểu bài để đọc được bài có sắc thái biểu cảm?
- Thực tế giảng dạy tôi nhận thấy đa số học sinh chỉ dừng lại ở mức độ
đọc đúng đoạn, bài Tập đọc, các em chưa biết thể hiện tình cảm của mình qua
bài đọc trong đó nguyên nhân chính là các em chưa chủ động, tích cực tiếp
Sĩ số
Đọc trôi chảy, đúng tốc độ, biết ngắt
nghỉ, đọc có diễn cảm
Đạt
Chưa đạt
sl
%
sl
%
Thực nghiệm
27
7
25,9
20
74,1
Đối chứng
27
7
25,9
triển kĩ năng đọc - hiểu lên mức cao hơn, nắm và vận dụng được một số khái
niệm như đề tài, cốt truyện, nhân vật tính cách... để hiểu ý nghĩa của bài và
phát triển một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn bài thơ.
Thấm nhuần mục đích trên, cùng với việc nghiên cứu, tìm hiểu trong
tài liệu hướng dẫn giảng dạy, tài liệu bồi dưỡng giáo viên, qua dự giờ trao đổi
với các bạn đồng nghiệp, tôi mạnh dạn đề ra một số giải pháp khắc phục thực
trạng của tiết dạy Tập đọc nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học
sinh trong việc tìm hiểu chiếm lĩnh kiến thức mới, rèn được các kĩ năng đọc
đạt được mục tiêu của phân môn Tập đọc như sau:
4.1 Giáo viên cần hiểu quan điểm về dạy học theo hướng phát huy
tính tích cực chủ động:
Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh được
hiểu:
Thứ nhất: Học sinh chính là chủ thể của hoạt động học, tích cực hoạt
động bằng hành động của chính mình để tìm ra kiến thức thì dạy học phát huy
tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh là người dạy không phải đặt
11
trước những kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa hay những bài giảng được
soạn theo một trình tự có sẵn mà học sinh được đặt vào những tình huống cụ
thể trong từng trường hợp cụ thể để tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám
phá.
Thứ hai: Lớp học được coi là cộng đồng của chủ thể, thông qua lớp
học với các hoạt động hợp tác học sinh không ngừng tự thể hiện mình. Đó
cũng là một nhu cầu nổi trội của con người. Với các tình huống học tập học
sinh tự đưa ra những cách giải quyết riêng và nêu chính kiến của mình trước
các bạn trong quá trình thảo luận. Qua đó học sinh phát huy được khả năng
giao tiếp ứng xử. Học bạn, hợp tác với bạn trong quá trình học tập người học
mới nâng mình lên một trình độ mới.
bài.
+ Nhận ra các mối quan hệ giữa các nhân vật, sự kiện trong bài.
+ Bước đầu biết đánh giá nhân vật, chi tiết và ngôn ngữ trong các bài
tập đọc có giá trị văn chương
+ Hiểu các kí hiệu, các dạng viết tắt, các số liệu trên sơ đồ, biểu đồ,
bảng hiệu,...
- Phát âm đúng các từ khó đọc, đọc rõ ràng, lưu loát từng đoạn và cả bài
văn, bài thơ, biết ngắt - nghỉ rõ nội dung đọc, ngắt nghỉ phù hợp theo thể thơ
của bài. Tốc độ đọc từng giai đoạn như sau:
Giữa học kì I ( sau 9 tuần): khoảng 100 tiếng/ phút.
Cuối học kì I ( sau 18 tuần): khoảng 110 tiếng/ phút.
Giữa học kì II ( sau 26 tuần): khoảng 115 tiếng/ phút.
Cuối học kì II ( sau 35 tuần): khoảng 120 tiếng/phút.
4.3 Hướng dẫn đọc
Để chuẩn bị cho tiết dạy Tập đọc mà phát huy tính tích cực, chủ động
của học sinh giáo viên cần nghiên cứu bài dạy một cách kỹ càng, soạn bài chi
tiết cho từng phần.
4.3.1 Đọc thành tiếng
Đọc thành tiếng là để củng cố kĩ năng đọc đúng do vậy giáo viên cần
nghe học sinh đọc để nắm được trình độ đọc từ đó nhận xét, gợi ý hướng dẫn
học sinh cách pháp âm, cách ngắt nghỉ hơi hay tốc độ đọc sao cho thích hợp,
giúp học sinh có khả năng đọc tốt hơn. Mặt khác đọc thành tiếng để luyện đọc
diễn cảm do vậy giáo viên căn cứ vào nội dung phong cách văn bản để dẫn
13
dắt, gợi mở học sinh tìm ra cách đọc thể hiện được giọng đọc từ đó ý thức
được cách đọc nhằm diễn tả nội dung một cách tốt nhất như:
- Đối với văn bản nghệ thuật: Giáo viên hướng dẫn đọc diễn cảm thông
- Dùng lời nói kết hợp chữ viết, ký hiệu và đồ dùng dạy học, hướng
dẫn học sinh cách nghỉ hơi, tốc độ đọc, giọng đọc thích hợp.
- Tổ chức cho học sinh đọc cá nhân bằng các hình thức đọc trong nhóm,
đọc trước lớp, nhận xét cách đọc, sửa lỗi phát âm hoặc lỗi thể hiện qua giọng
đọc cho học sinh.
4.3.2 Đọc thầm:
Đọc thầm với tốc độ nhanh và hiệu quả cao là mục đích, yêu cầu cơ
bản của hoạt động đọc nói chung, do vậy để việc đọc thầm đạt hiệu quả giáo
viên cần:
- Đọc thầm để tìm hiểu bài theo yêu cầu đề ra ( đọc câu nào, đoạn nào,
đọc để trả lời câu hỏi hoặc thực hiện bài tập đọc ngắn trong sách giáo khoa)
giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh nhằm định hướng rõ việc đọc
– hiểu ( đọc câu nào, đoạn nào, đọc để nhớ để biết, hiểu, nhớ hay suy nghĩ về
trao đổi về điều gì,..) từng bước hình thành cho học sinh thói quen tập trung
chú ý khi đọc thầm để thu nhận thông tin, để " nhập thân" và cảm thụ văn bản
nghệ thuật.
Ví dụ cho học sinh đọc thầm để phát hiện từ ngữ chỉ vẻ đẹp của thiên
nhiên trong đoạn thơ
Nhìn ra xa ngút ngát
Giữa ngút ngát cây trái
Bao sắc màu cỏ hoa
Dọc vùng rừng nguyên sơ
Con thác réo ngân nga
Không biết thực hay mơ
Ở đây học sinh đã ngắt nhịp sai tách "vàng ối" ra khỏi " Những tàu lá
chuối " dẫn đến đọc câu văn không diễn cảm không đúng cách ngắt giọng nên
người nghe không cảm nhận được những tàu lá chuối ở trong bài rất vàng và
đẹp.
Đối với câu văn này hướng dẫn học sinh ngắt như sau:
- Những tàu lá chuối vàng ối / như những đuôi áo, vạt áo.
Ngắt giọng biểu cảm là phương tiện tác động đến người nghe. Ngắt
giọng lôgic thiên về trí tuệ, ngắt gọng biểu cảm thiên về cảm xúc. Ngắt giọng
biểu cảm là chỗ nghỉ lâu hơn bình thường hoặc chỗ nghỉ không do lôgic ngữ
nghĩa mà do dụng ý của người đọc nhằm tạo ra một ấn tượng về cảm xúc, tạo
sự chú ý của người nghe góp phần tạo nên nghệ thuật cao hơn cho văn bản.
Không những học sinh hiểu được cách ngắt nhịp thơ, những câu văn dài
mà giáo viên cần hướng dẫn tiếp cho học sinh biết nhấn giọng ở những từ gợi
tả, gợi cảm. Chẳng hạn khi đọc một đoạn trong bài tập đọc " Kì diệu rừng
xanh".
Loanh quanh trong rừng,/ chúng tôi đi vào lối đầy nấm dại,/ một thành
phố nấm lúp xúp dưới bóng cây thưa..// Những chiếc nấm to bằng ấm tích/
màu sặc sỡ rực lên.
16
Tôi đã hướng dẫn cho học sinh khi đọc cần nhấn giọng các từ: loanh
quanh, nấm dại, lúp xúp, ấm tích, sực sỡ, rực lên
Hay đối với các bài thơ Cao Bằng ( Tập 2 trang 41) tôi hướng dẫn cách
ngắt nghỉ và nhận giọng ở các từ in đậm như:
Cao Bằng,/ rõ thật cao!
Rồi đến chị rất thương
Rồi dần / bằng bằng xuống
17
Đối với câu Hành tinh này….. là của chúng ta! cần đọc kéo dài vì việc
kéo dài ở câu thơ sẽ gây sự chú ý cho người nghe hiểu được hành tinh này là
của chúng ta, chúng ta phải giữ gìn, bảo vệ nó.
- Cường độ đọc có giá trị diễn cảm . Cường độ phối hợp với cao độ sẽ
tạo ra giọng vang như khi đọc đoạn thơ:
Trái đất này là của chúng mình,
Quả bóng xanh bay giữa trời xanh
Bồ câu ơi, cánh chim gù thương mếm...
Cùng bay nào cho trái đất quay!
Cùng bay nào cho trái đất quay!
Mỗi giáo viên cũng như học sinh cần hiểu rằng "đọc diễn cảm" không
phải là đọc sao cho "điệu", thiếu tự nhiên, dựa vào ý thích chủ quan của người
đọc. Đọc diễn cảm là sử dụng ngữ điệu để phô diễn cảm xúc của bài đọc. Vì
vậy phải hoà nhập được với câu chuyện, bài văn, bài thơ, có cảm xúc mới tìm
thấy ngữ điệu thích hợp. Chính các văn bản, bài thơ quy định ngữ điệu cho
chúng ta chứ không phải chúng ta tự đặt ra ngữ điệu .
4.6 Hướng dẫn học sinh phân biệt lời kể của tác giả với lời nhân vật,
phân biệt lời của các nhân vật khi đọc văn bản:
Cho học sinh biết phân biệt lời kể của tác giả với lời nhân vật, phân biệt
lời của các nhân vật phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và tính cách của từng nhân
vật. Chẳng hạn như người già, trẻ em, người tốt, kẻ xấu. ..
Ví dụ: Qua bài tập đọc "Chuyện một khu vườn nhỏ" có đoạn viết:
Thu cầu viện ông:
- Ông ơi, đúng là có chú chim vừa đỗ ở đây bắt sâu và hót nữa ông
nhỉ ! .
Ông nó hiền hậu quay lại xoa đầu cả hai đứa:
- Dùng vật thật để giải nghĩa:
Ví dụ như giải nghĩa từ " trành" ( Bài Hạt gạo làng ta – tập 1 trang 139)
Nên cho học sinh quan sát cái xảo dụng cụ đan bằng tre, nứa, đáy phẳng có
thành, dùng để vận chuyển đất đá..
- Đặt câu với từ ngữ đó.
Ví dụ để giải nghĩa từ rô bốt ( Bài Người gác rừng tí hon, tập 1 – trang
124) giáo viên cho học sinh đặt câu với từ đó
- Dùng hình ảnh để giải thích.
19
Ví dụ như giải thích từ " giáo đường" nên cho học sinh quan sát bức
tranh hoặc ảnh về nhà thờ Thiên chúa giáo
- Miêu tả sự vật, hoạt động, trạng thái, đặc điểm hoặc tinh chất được gọi
tên bằng từ ngữ đó.
- Dùng bài tập trắc nghiệm nhỏ để giải thích từ
Ví dụ để giải nghĩa từ " ngọc phả" ( Bài Phong cảnh đền Hùng, tập 2
trang 69) dùng bài tập như sau
Từ " ngọc phả" trong bài có ý nghĩa gì?
a. Tấm gỗ sơn son thếp vàng, có khắc chữ Hán hoặc chữ Nôm cỡ lớn,
thường treo ở giữa gian nhà thờ hoặc để trang trí
b. Sách ghi chép lai lịch, thân thế, sự nghiệp của những người trong
gia đình được mọi người kính trọng, tôn thờ.
c. Sách ghi chép lai lịch, thân thế, sự nghiệp của những người được
người đời kính trọng, tôn thờ.
Với bài tập như vậy học sinh dễ dàng hiểu được nghĩa của từ " ngọc
phả" và còn phân biệt được "ngọc phả" với "gia phả".
4.7.2 Nắm vững câu hỏi tìm hiểu bài.
Dựa vào các câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa được biên soạn mà
được ý nghĩa của câu ca dao, đồng thời qua đó giáo dục học sinh ý thức yêu
quê hương, nhớ cội nguồn dân tộc, nhắc nhở mọi người dù đi đâu làm gì cùng
không quên được ngày giỗ Tổ mùng 10 thàng 3 âm lịch hằng năm.
4.7.3 Tổ chức học sinh trả lời câu hỏi ( làm bài tập) tìm hiểu bài:
Giáo viên có thể áp dụng các biện pháp như:
- Tổ chức cho làm việc cá nhân với phiếu bài tập rồi nêu kết quả bài
làm.
- Tổ chức làm việc theo cặp, nhóm.
- Tổ chức trao đổi với học sinh, học sinh sửa lỗi cho học sinh hoặc tổ
chức cho học sinh giải đáp các thắc mắc, góp ý, đánh giá cho nhau trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ tìm hiểu bài.
Tóm lại qua áp dụng dạy học theo bài soạn như trên tôi nhận thấy:
- Tiết học sôi nổi song vẫn đi đúng quy trình, học sinh được tự mình
đọc nhiều hơn, những em đọc yếu được đọc trước lớp, các em đó khắc phục
được lỗi đọc sai ngay nhờ sự giúp đỡ của bạn bè, của thầy giáo. nhiều em đó
tìm được cách đọc diễn cảm hay, sáng tạo phù hợp với nội dung, thể hiện
21
được tâm trạng người đọc và làm nổi rõ các biện pháp nghệ thuật của tác giả
qua giọng đọc truyền cảm.
- Hoạt động tư duy của các em được làm việc liên tục trên tinh thần tự
giác, đốc lập vì vậy các em hiểu bài ngay tại lớp, thực hiện được khả năng
đọc, viết và sử dụng ngôn từ áp dụng vào làm bài tập.
- Không khí lớp học sôi nổi. Các em tự đánh giá được mình và được
bạn, tự thấy được khả năng của mình so với bạn.
- Nêu cao tinh thần hợp tác trong nhóm của học sinh.
- Dạy theo phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
giáo viên đã khẳng định được vai trò là người tổ chức, điều khiển cho học sinh
sl
%
sl
%
sl
%
Thực nghiệm
27
15
55,5
12
44,5
20
74,0
7
hỏi tìm hiểu bài, giờ học sôi nổi hơn. Nhiều học sinh đã tự tin đọc các bài tập
đọc trong sách giáo khoa mà còn tự tin đọc và đọc có cảm xúc các văn bản
ngoài sách giáo khoa.
Còn với lớp đối chứng tôi nhận thấy không khí học trầm lắng hơn, số
lượng học sinh đọc to rõ ràng ít, số lượng học sinh chưa biết ngắt nghỉ câu dài
còn nhiều và đa phần các em chưa biết đọc diễn cảm bài vì các em chưa chủ
động tích cực tìm hiểu cách đọc, tìm hiểu kiến thức nên các em chưa hiểu bài,
việc đọc bài của các em mới chỉ dừng lại ở mực độ đọc nhận diện văn bản chứ
chưa thực sự hiểu văn bản.
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng
Để sáng kiến được nhân rộng tôi thấy rằng:
- Đối với giáo viên phải thực sự tích cực đổi mới phương pháp dạy học.,
luôn đặt người học lên trên hết
- Giáo viên phải tạo được hứng thú cho người học thông qua các hình
thức dạy học tích cực.
- Học sinh ham học, thực sự chủ động trong việc tiếp thu kiến thức
- Lớp học có đủ cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học như tranh ảnh...
- Nhà trường tổ chức chuyên đề để giáo viên trong cùng khối áp dụng, rút
kinh nghiệm.
- Phụ huynh quan tâm đến việc học của học sinh.
23
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Từ thực trạng còn nhiều học sinh chưa thực sự tích cực, chủ động trong
việc rèn kĩ năng đọc, kĩ năng đọc của học sinh chưa đạt được mục tiêu của
phân môn đề ra tôi đã áp dụng đồng bộ các biện pháp:
- Tìm hiểu phương pháp dạy học tích cực, chủ động trong giảng dạy
mới, phát triển của xã hội.
- Nên mạnh dạn khắc phục những mặt còn tồn tại của nội dung chương
trình sách giáo khoa, sách bài tập một cách hợp lý . Chúng ta không nhất thiết
sử dụng hoàn toàn các bài tập mà sách giáo khoa đưa ra. Giáo viên cần có sự
điều chỉnh lại cho hợp lý để làm sao mỗi yêu cầu của mỗi bài tập đưa ra phù
hợp với từng đối tượng học sinh. Có như thế chúng ta mới phát hiện được
hứng thú của học sinh trong học tập đồng thời tạo điều kiện để các em phát
triển hết năng lực của chính bản thân mình.
2.2 Đối với các cấp lãnh đạo:
Tổ chức nhiều hơn nữa các chuyên đề, bồi dưỡng, nâng cao trình độ
cho đội ngũ giáo viên.
Trên đây, tôi vừa trình bày một số các biện pháp giúp học sinh phát huy
tính tích cực, chủ động khi học phân môn Tập đọc ở lớp 5. Qua nghiên cứu và
áp dụng, tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạy học
Tiếng Việt ở Tiểu học. Hơn nữa, tôi muốn trình bày ý kiến của mình để các
đồng nghiệp tham khảo, đóng góp ý kiến xây dựng để tôi thành công hơn
trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ
của mình, góp phần vào việc đào tạo thế hệ trẻ có tri thức tốt, có phương pháp
làm việc khoa học, linh hoạt, sáng tạo trở thành lực lượng lao động tốt trong
công cuộc Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Chí Linh, tháng 2 năm 2015
25