Chỉ đạo dạy học Tiếng Việt theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ dạy - Pdf 15


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CHỈ ĐẠO DẠY HỌC TIẾNG VIỆT THEO
HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHỦ
ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ DẠY


phương pháp dạy học phù hợp và hiệu quả nhất cho từng đối tượng cụ thể, trên
tinh thần“ nhẹ nhàng, tự nhiên và chất lượng”. Vai trò của GV quyết định chất
lượng dạy học.
Vì vậy, hơn bao giờ hết, mục đích đầu tiên là nâng cao chất lượng đội ngũ
GV làm động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng HS.
Nói đến trường học là nói đến hoạt động dạy của đội ngũ giáo viên và hoạt
động học của học sinh. Đó là hoạt động coi trọng người học là phát huy tính tích
cực chủ động, sáng tạo của học sinh. Các em được coi là chủ thể trong quá trình
khám phá chiếm lĩnh kiến thức. Các em được bộc lộ và khẳng định mình. Từ đó,
việc học sẽ có sức lôi cuốn, sinh động hơn nhằm phát huy tính tự giác, khả năng

độc lập sáng tạo. Sẽ là cơ hội để các em vận dụng những hiểu biết, những kinh
nghiệm sống của bản thân vào việc giảiquyết các nhiệm vụ học tập đạt kết quả
cao hơn. Chính vì vậy, là cán bộ quản lí trường Tiểu học, tôi nhận thức sâu sắc
trách nhiệm của mình trước tinh thần đổi mới phương pháp dạy học nói chung,
môn Tiếng Việt nói riêng. Nhiệm vụ thiêng liêng này đã trở thành tâm huyết
trong tôi đòi hỏi tôi ngày càng cao. Một trong những cách thức mà tôi thực hiện
là lựa Chọn phương pháp chỉ đạo phùhợp tình hình thực tế, nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên.
Vậy lựa chọn như thế nào và cách thức lựa chọn ra sao là một vướng mắc,
đang khiến tôi luôn trăn trở. Tôi hoàn toàn không có tham vọng đề cập hết toàn
bộ bình diện các môn học mà ở đây, tôi muốn được đi sâu vào hoạt động của
nhân vật trung tâm trong nhà trường Tiểu học đối với hoạt động học tập môn
Tiếng Việt. Đó là: “Chỉ đạo dạy học TiếngViệt theo hướng phát huy tính tích
cực chủ động của Học sinh trong giờ dạy”.
III. Tình hình thực trạng:
1. Tình trạng chung:
- Là GV, ai cũng đều cảm nhận được niềm hạnh phúc khi được dạy những HS
hào hứng học tập, khao khát đón nhận những kiến thức mới và trái lại, thật là bất
hạnh nếu phải dạy những HS không hề để ý, hoặc coi học tập là gánh nặng.

đối tượng TB, YK không theo được hoặc có cũng rất khó khăn. Giáo viên chủ
yếu quan tâm đến việc hoàn thành hết số bài trong sách giáo khoa. Chính vì vậy,
HS đối tượng TB,YK phải tiếp thu thụ động thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ,
dẫn đến không hiểu bài.
Việc rèn luyện kỷ năng HS thường bị lấn thời gian, có khi lại cực đoan thả cho
HS mò mẫm không biết dựa trên kiến thức cũ (đã biết) để tìm kiến thức chưa
biết.
Đó là chưa nói đến việc giảm sút tinh thần trách nhiệm, tinh thần tâm huyết
của GV do mặt trái của cơ chế thị trường tác động.
IV.Nhận thức tính tích cực chủ động của học sinh trong hoạt động học tập:
1.Tính lí luận:
- Lí luận Giáo Dục học đã chỉ rõ: “Bằng hoạt động học tập, mỗi HS tự hình
thành và phát triển nhân cách của mình, không ai có thể làm thay mình được”…
GS PTS Trần Bá Hoành đã chứng minh: “Con người chỉ thực sự nắm cái mà
chính mình đã dành được bằng hoạt động của bản thân. Học sinh sẽ thông hiểu
và ghi nhớ những cái gì đã trải qua hoạt động nhận thức tích cực của mình, trong
đó các em đã phải có những cố gắng trí tuệ”….
- Những nghiên cứu về tâm lí học, giáo dục học cho phép phân biệt 3 cấp độ:
*) Sao chép bắt chước: HS được tích luỹ dần thông qua việc bắt chước hoạt
động của giáo viên và bạn bè. Trong hành động bắt chước cũng có sự gắng sức
của thần kinh và cơ bắp.
*) Tìm tòi thực hiện: Học sinh tìm cách độc lập giải quyết, bài tập nêu ra, mò
mẫm những cách giải khác nhauvà thực hiện để tìm ra lời giải hợp lí nhất.

*) Sáng tạo: HS nghĩ ra cách giải mới, độc đáo, hoặc cấu tạo những bài tập
mới, hoặc cố gắng tự lắp đặt những thí nghiệm để chứng minh bài học. Đương
nhiên mức độ sáng tạo của học sinh có hạn nhưng đó là mầm mống để phát triển
tính sáng tạo về sau.
- IA Cai Rốp viết: “Giảng dạy không phải là nhồi cho HS một mớ kiến thức.
Các em không phải cái bình chứa kiến thức mà kiến thức cũng không phải là


B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Để một giờ dạy theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của HS đạt được
hiệu quả cao không chỉ là khâu tổ chức HS hoạt động trên lớp mà khâu nghiên
cứu, soạn bài hết sức quan trọng. Đây là hai yếu tố cần phải được coi trọng một
cách bình đẳng về trí tuệ của người thầy.
I. Phát hiện lí do vướng mắc:
- Trong thực tế dự giờ của GV đồng nghiệp, tôi rất cảm động trước sự tận tuỵ
của GV đối với HS: giảng giải cặn kẽ từng bài một , tranh thủ truyền đạt vốn
hiểu biết và kinh nghiệm của mình say sưa. Học sinh cố hiểu và nhớ những bài
GV vừa giảng, trả lời những câu hỏi GV nêu ra. Thế nhưng, lớp học vẫn không
lấy được không khí tích cực chủ động hoạt động của HS.
Lại có những giờ dạy, GV chuẩn bị rất công phu, tâm thế học sinh vẫn sẵn
sàng đón nhận giáo viên hướng dẫn thực hành, với những thiết bị Đ.D.D.H khoa
học nhưng trong khoảnh khắc thời gian ngắn HS đã mệt mỏi.
- Những thực tế ở dạng bài dạy này, đều thể hiện sự hạn chế cả 2 khâu: Nghiên
cứu bài dạy, soạn bài lên lớp và quá trình hướng dẫn HS hoạt động trong giờ
học. Đây là 2 quá trình diễn ra 2 giai đoạn tại hai thời điểm khác nhau nhưng lại
có cùng một mục đích. Nghiên cứu - Soạn bài tốt sẽ là điều kiện, là cơ sở đồng
thời là phương tiện, nội dung cơ bản đầy đủ, cơ hội cho quá trình diễn ra hoạt
động của HS dưới sự hướng dẫn của GV. Và ngược lại. Bởi vậy, đây là 2 quá
trình biện chứng, luôn hỗ trợ lẫn nhau.
- Từ đó, việc xác định những mặt hạn chế về kết quả của những giờ dạy ở dạng
này chủ yếu là do: Việc nghiên cứu- Soạn bài không đảm bảo được khả năng xác
định trọng tâm bài theo chuẩn kiến thức kỷ năng. Kiến thức bài dạy chưa dựa
vào kiến thức cũ làm cơ sở khám phá trọng tâm bài mới.
Vậy, chỉ đạo việc giáo viên nghiên cứu bài soạn như thế nào để phát huy tính
tích cực chủ động của học sinh?
II. Thiết kế bài soạn :
1. Lựa chọn thay thế các giữ liệu trong SGK mà xa lạ với học sinh:

Mỗi bài dạy Tiếng Việt lớp 4,5 chủ yếu qua 2 mảng kiến thức:
- Hình thành khái niệm kiến thức.
- Luyện tập thực hành.
1.2. Ví dụ: Dạy bài: Dấu hai chấm (Trang 22 – Sách TV tập1- L4)
1.2.1. Yêu cầu: HS nắm được :
- Dấu hai chấm báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là lời nói của nhân vật
hoặc lời giải thích cho bộ phận đứng trước
- Khi báo hiệu lời nói của nhân vật, dấu hai chấm được dùng phối hợp với
dấu ngoặc kép hay dấu gạch đầu dòng.
1.2.2. Dự liệu hình thành khái niệm:
a. Dự liệu trong SGK: Trong các câu văn, câu thơ sau đây, dấu hai chấm có
tác dụng gì?

Chủ Tịch HCM nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm
sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Nguyện vọng đó chi phối mọi
ý nghĩ và hành động trong suốt cuộc dời của Người.
- Với cách trình bày SGK dễ hiểu và nội dung đoạn văn trích lời nói của Bác Hồ
giản dị, gần gủi , dễ hiểu nhưng tư duy khái quát, tổng hợp đối với HS đại trà lớp
4,5 là việc khó.
- Để hoạt động của các em nhẹ nhàng, tự nhiên, tôi thiết kế thay thế dự liệu như
sau:
b. Lựa chọn thay thế các giữ liệu trong SGK mà xa lạ với học sinh:
*) Ví dụ 1: GV hỏi: Cả lớp ta đã làm bài chưa?
Bạn An lớp trưởng trả lời: thưa cô, cả lớp ta làm bài rồi ạ.
GV: Lời đáp của bạn An đã thành câu chưa? Em nhắc lại?
HS: Bạn An nói thưa cô, cả lớp ta làm bài rồi ạ.(Chưa đưa dấu hai chấm vào
câu), học sinh chép vào giấy nháp.
GV: Để thể hiện rõ lời nói của bạn An, cần đặt dấu câu nào trước đó? Em hãy
hoàn thành vào giấy nháp.

giải thích cho bộ phận đứng trước.
GV kết luận: Dấu hai chấm báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là lời nói của
nhân vật hoặc lời giải thích cho bộ phận đứng trước.
*) Ví dụ3: Đến đây, HS có thể tự chủ giải quyết được yêu cầu bài. Cho học sinh
thảo luận nhóm, tìm kiến thức hoàn thành câu hỏi.
GV: Cả lớp làm bài vào giấy nháp:
*) Trong các câu sau, mỗi dấu hai chấm có tác dụng gì?
Mẹ ân cần hỏi:
- Con đã làm xong bài tập chưa?
- Con làm bài tập chưa xong mẹ ạ. Đêm qua, con cố giải nốt mà vẫn không
tìm được đáp số bài: “ Vừa gà, vừa chó, bó lại cho tròn, hai mươi sáu con, một
trăm chân chẵn”
GV: Trường hợp này, có gì khác với ví dụ1, ví dụ 2? (HS khá, giỏi).
HS: … khác là: Có dấu gạch ngang(-), dấu ngoặc kép(“ ” ).
GV: Nhờ có dấu gạch ngang mà giúp em hiểu thêm điều gì?
HS: ……Vừa lời nói nhân vật thông qua người dẫn, vừa lời nói trực tiếp của
người nói.
GV: Rất giỏi. Đây là kiến thức mà bài sau các em sẽ được tìm hiểu kĩ hơn.
Hôm nay, yêu cầu các em hiểu rằng: “Dấu hai chấm được dùng phối hợp với
dấu ngoặc kép và dấu gạch ngang đầu dòng.
GV: Qua 3 ví dụ, ai rút ra được ghi nhớ của bài học?
Cho HS trình bày theo tư duy hiểu bài, giáo viên tóm lại chốt kiến thức trọng
tâm:
- Dấu hai chấm báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là lời nói của nhân vật
hoặc lời giải thích cho bộ phận đứng trước.

- Khi báo hiệu lời nói của nhân vật, dấu hai chấm được phối hợp với dấu
ngoặc kép hay dấu gạch ngang đầu dòng.
Đây chính là kiến thức cần ghi nhớ đối với bài học này.
Các ví ví dụ trên đây khẳng định thêm rằng: Việc thay thế các giữ liệu SGK

lĩnh kiến thức mới, rèn luyện kỷ năng ….

- Bám vào QĐ/16/BGD & ĐT mỗi loại kiến thức được trình bày trong sách
giáo khoa là một câu hỏi. Trên cơ sở câu hỏi này(SGK) giáo viên nghiên cứu lập
hệ thống câu hỏi phù hợp đối tượng HS tạo tình huống có vấn đề kích thích HS
tư duy mới phát huy được tính tích cực của học sinh. Tôi đã chú trọng các bước
sau đây:
a. Câu hỏi rèn luyện HS kỷ năng suy luận:
Dạy học phân hoá đối tượng HS tạo cơ sở thuận lợi cho HS có cơ hội tự độc
lập suy nghĩ. Nhưng nếu chỉ đưa ra những Y/c phù hợp mức độ đối tượng HS thì
chưa đủ. Vậy làm thế nào?
Dạy cho Các em biết giải quyết các bài tập trước hết phải tập cho các em biết
phát hiện loại kiến thức nào đã biết, suy luận đến kiến thức liên quan đến y/c bài
tập.
*) Ví dụ: Khi dạy bài Ôn tập từ ghép – Lớp 5.
(Trích phần: Phân biệt từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ.)
a1. Những kiến thức đã biết làm cầu cho việc khám phá kiến thức mới:
*) Từ ghép chính phụ:
- Từ ghép có gì giống và khác với từ đơn? Đều là từ có nghĩa từ vựng nhưng
từ đơn (1 tiếng), từ ghép (2 tiếng).
GV: Em hãy xét nghĩa 2 từ sau: Sân bay, đánh bại( Kiến thức cũ: Cách giải
nghĩa)
+) Sân bay: Bãi đất rộng có thiết bị chuyên dùng để máy bay đỗ và lên
xuống.
+) Đánh bại: Làm cho địch bị huỷ diệt hay tổn thất. Bị thất bại hoàn toàn.
Trên cơ sở HS nắm được nghĩa 2 từ này, GV hướng dẫn HS tìm kiến thức
mới( Từ ghép chính phụ)
GV: Khi nghĩa từ “Sân bay” được tách ra 2 yếu tố “Sân” và “bay” thì 2 từ
đơn này, sẽ có 2 nghĩa khác nhau như thế nào?
+) “Sân”: Vẫn giữ được nghĩa từ ghép (Là khoảng đất rộng dùng sử dụng… )

ghép chính phụ trên đây.
Điều đáng chú ý là phát hiện được dấu hiệu khác nhau: Nghĩa 2 yếu tố từ
ghép “Tươi” “tốt” không có yếu tố nào phụ (Cả 2 yếu tố đều có nghĩa như nhau,
không có yếu tố chính và yếu tố phụ) nên không phải là từ ghép chính phụ.
GV: Ai suy luận được nét khác biệt? Vì sao? (2 Yếu tố đều có nghĩa)
GV: Hai yếu tố xét trên đều có nghĩa như nhau, nghĩa là bình đẳng với nhau về
nghĩa.
Vậy là các yếu tố trong đó bình đẳng với nhau về nghĩa gọi là loại từ ghép gì?
HS: Đây là loại từ ghép đẳng lập.
HS tự kết luận: Từ ghép đẳng lập là từ ghép trong đó các yếu tố bình đẳng
với nhau về nghĩa.
GV: Giỏi lắm.
Mở rộng thêm: Khi ta đảo trật tự các thành tố trong từ ghép đẳng lập, nghĩa
của từ ghép không thay đổi, (VD: Tươi tốt (tốt tươi), đi đứng (đứng đi)… )
a2. Phân biệt sự khác nhau từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập:

Từ ghép chính phụ. Từ ghép đẳng lập.

+) Thành tố chính luôn luôn đứng trước, +) Cả 2 thành tố đều có nghĩa.
thành tố phụ luôn luôn đứng sau. +) Các thành tố không phụ
thuộc vào nhau.

+)Thành tố phụ luôn phụ thuộc vào thành +) Đảo được trật tự các thành
tốchính. tố.

Với cách làm này, HS sẽ đi từ kiến thức đã biết để tìm kiến thức mới.Việc nắm
chắc bài dễ dàng hơn. HS nào cũng tự thấy biết thêm, tự độc lập suy nghĩ, phát
huy tính tích cực chủ động của HS.
b. Câu hỏi rèn luyện kỷ năng độc lập suy nghĩ:
Hệ thống câu hỏi càng nâng lên mức cao hơn, đẩy tư duy của HS mở rộng hơn.

một tín hiệu bằng âm thanh, sắc thái của từ đã thay đổi.
“ Trống” (4): Chỉ một kí hiệu trong bài tập, không có dấu hiệu gì.
“Trống(5): Phần diện tích đất bỏ không .
Như vậy, từ những sự vật hiện tượng HS hiểu rõ nghĩa các từ “ trống” nằm trong
từng ngữ cảnh, làm cơ sở nâng lên một mức mới cao hơn.
GV hỏi: Các từ “Trống” trong từng ngữ cảnh trên, những từ nào có nghĩa khác
nhau?
HS trả lời: “Trống”(1)(2)(3).
GV hỏi: Vì sao nghĩa các từ đó lại có sự khác nhau?
“ Trống”(1): Chỉ đồ vật………… Phát ra âm thanh trầm vang xa.
“ Trống”(2): Tín hiệu… …. …….Bằng âm thanh trầm vang xa.(nghĩa
chuyển)
“ Trống”(3): Tín hiệu… ……… Bằng âm thanh trầm vang xa. .(nghĩa
chuyển)
(Nghĩa chuyển khác nhau) (Giống nhau)
Nghĩa các từ này, có chung một nghĩa gốc( điểm giống nhau) và có các sắc thái
khác nhau( Điểm khác nhau). Từ nào biểu thị có sự khác nhau, được gọi là nghĩa
chuyển .
GVkết luận: Từ một nghĩa gốc (Một từ), được biến đổi nhiều sắc thái khác
nhau (nhiều từ) gọi là các nghĩa chuyển. Vì thế, người ta gọi là: Từ nhiều
nghĩa.
Nhìn vào ví dụ- HS cũng có thể diễn đạt bằng tư duy một cách chính xác.
Từ đồng âm:
GV hỏi: Nghĩa các từ “trống”(1)(2)(3) với từ “trống” (4)(5) có gì khác nhau ?
HS trả lời: “ Trống”(1): Chỉ đồ vật…….Phát ra âm thanh trầm vang xa.
“Trống” (4): Chỉ một kí hiệu trong bài tập, không có dấu hiệu gì.
“Trống(5): Phần diện tích đất bỏ không
Vì vậy: Khác: +) Không liên quan về nghĩa, nghĩa khác nhau hoàn toàn.
Giống: +) Đọc lên cùng giống âm thanh.
Kết luận: Nhiều từ khác nhau về nghĩa, giống nhau về vỏ âm thanh gọi là từ

3. Tổ chức hoạt động trò chơi trong giờ học:
Hệ thống câu hỏi không chỉ để phát triển tư duy lô gích mà trong Tiếng Việt đôi
khi cũng cần quan tâm đến các hoạt động tích cực trong tập do sự tương tác lẫn
nhau. Có khi đẩy lên đến cơ hội thư dãn vẫn phát triển tư duy tự nhiên. Ngoài
các hoạt động khám phá kiến thức, các em học sinh tiểu học rất nhạy cảm với
các hoạt động tập thể. Vì vậy, trong từng tiết học, nên cố gắng thiết kế trò chơi.
Đặc biệt là các em HS lớp 1,2,3. Một trong những trò chơi đạt hiệu quả cao về
phát triển vốn từ vựng và rèn luyện kỉ năng đọc sách, dễ hoạt động lại tiện lợi.

Có thể dùng bảng con HS, tổ chức ngay sau giờ dạy. Đó là trò chơi “rung
chuông vàng”. Sau đây tôi xin thống kê bộ câu hỏi bài tập môn Tiếng Việt trò
chơi “rung chuông vàng dành cho lớp 1,2,3.
3.1. Lớp 1:
Câu 1: Nghe – Tìm từ thuộc ý nghĩa cho trớc:
Loài hoa mà khi nở hương thơm toả ngát khắp nhà, nụ hoa xinh xinh, trắng
ngần, tên gọi Ngọc ngà duyên dáng. Đó là hoa gì?
Đáp án: Hoa Ngọc Lan.
Câu 2: Trong bài: Mưu chú Sẻ – TVL1-Tập 1-Trang70.
Khi Sẻ bị Mèo chụp được, Sẻ đã nói với mèo:
Thưa anh, ……….Sao anh không rửa mặt?…………
Mèo đặt Sẻ xuống…………Sẻ vụt bay đi.
Em hãy tìm một từ dùng để khen Sẻ? Đáp án: Nhanh trí.
Câu 3: Khi bị đứt tay bé không khóc… Lúc mẹ về bé mới khóc.
Từ nào nói lên điều đó? Đáp án: Nũng nịu.
- Câu thơ: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn……”- Là một trong những câu
thơ ca ngợi loại hoa gì? Đáp án: Hoa sen.
Câu 4: Khi phạm lỗi, trước mặt người bạn tốt, ta thường tỏ thái độ nh thế nào?
Đáp án: Ngượng nghịu, bối rối,
xấu hổ.
Câu 5: Đây là loài vật , khi dang rộng đuôi, xoè tròn như một cái quạt lớn có

Câu 15: Hãy tìm tiếng có vần “uôi”, “uôn”trong câu văn sau:
“Nhưng muốn cho nhanh
Cắt đuôi khỏi hết!
Đáp án: Tiếng: “Đuôi,” “muốn”
Câu 16: Em hãy điền tiếp dòng thơ nối tiếp để hoàn chỉnh câu thơ, trong bài tập
đọc: Tặng cháu – T/VL1- Tập 2.
“Mong cháu ra công mà học tập
Mai…………………………… ”
Đáp án: Mai sau cháu giúp nớc non nhà.
Câu17: Em hãy tìm các tiếng có nguyên âm đôi, chỉ hoạt động giờ chơi trên sân
trường?
Đáp án: Ví dụ: Đuổi bắt, luồn , lượn, liến
thoắng,khiêng, liệng…
Câu 18: Hai dòng thơ nào có trong bài: “ Mẹ và cô”, chọn A,(hoặc B)?
A, “Hai mái nhà của con
Là mẹ là cô giáo”

B, “Hai chân trời của con
Là mẹ và cô giáo”. Đáp án: B.
Câu 19: Tìm tiếng có nhiều con chữ nhất? Đáp án: Nghiêng…
Câu 20: Người sinh ra bố em gọi là gì? Đáp án: Ông bà n
ội
Câu 21: Những người trong gia đình em được gọi là gì?

Đáp án: Người thân
Câu 22: Âm cờ có các cách viết nào?
Đáp án: C, K
3.2. Lớp 2:
Câu 1: Đoạn văn sau đây:
“Đàn bê ăn quanh quẩn ở bên anh. Giống như những đứa trẻ quấn quýt bên


Điền vào chỗ chấm chấm, diễn đạt hoàn chỉnh câu văn sau:
Trong vườn, cành đào ……… nhú những lộc non ……
Câu văn trên, thuộc bài thể loại văn gì?
Đáp án: Các từ: Khẳng khiu, xanh biếc.
Thể loại văn:Tả ngắn về bốn mùa.
Câu 7: Nghề mà luôn luôn chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh cho mọi người. Đó
là nghề gì?
Đáp án: Nghề YTế.
Câu8: Những từ ngữ nào trong câu văn sau chỉ thời tiết?
“ Mưa dầm dề, mưa sướt mướt ngày này qua ngày khác.”
Đáp án: Mưa.
Câu 10: Cho trước các từ: Sợ hãi, lo lắng, hồi hộp, hốt hoảng.
Em hãy chọn từ trái nghĩa với từ: “Bình tĩnh”.
Đáp án: Hồi hộp, Hốt hoảng( hoảng hốt).
Câu11: Em hãy điền dấu câu thích hợp vào dấu chấm chấm:
Sau giờ làm việc….Bác Hồ thường chăm sóc cây…cho cá ăn.
Đáp án: Dấu phẩy.
Câu 12: Cho biết các thành phần câu đơn giản sau :
CN/ VN.
TN/ CN/VN.
Em hãy xác định kết cấu các câu trên thuộc kiểu câu gì?
Đáp án: Câu đơn.
Câu 13: Em hãy đặt câu hỏi cho bộ phận gạch chân trong các câu sau:
Chúng em lao động rất tích cực
Cành bàng xanh biếc toả bóng mát.
Đáp án:Câu hỏi: Ai? Cái gì?
Câu14: Em hãy tìm các từ ngữ trả lời cho câu hỏi:
Là gì? “Bạn Bắc là học sinh giỏi”.
Làm gì? “Cô giáo đang giảng bài”.

Em hãy viết tiếp câu văn, ghi lại kết quả của cuộc hành trình này
Đáp án: Trời phải cho mưa xuống trần gian
Câu 6: Nghe- Trích đoạn sau:… Mở đầu cuộc gặp, các em hát tặng bài hát”
“Kìa con bướm vàng” bằng tiếng Việt. Rồi các em giới thiệu những vật sưu tầm
được như đàn Tơ Rưng, cái nón, tranh cây dừa, cảnh xích lô,…Các em còn vẽ
quốc kỳ Việt Nam và nói được bằng tiếng Việt: “ Việt Nam Hồ Chí Minh”.
Đoạn trích văn trên của bài tập đọc nào?
Đáp án: Gặp gỡ ở Lúc- Xăm- Bua- T/V L3-Tập 2-Trang98.
Câu 7: Nghe- đoạn trích sau đây:
“Ê- Đi -Xơn là một nhà bác học vĩ đại. Bằng lao động cần cù và óc sáng tạo kì
diệu, ông đã cống hiến cho loài người hơn một ngàn sáng chế, góp phần làm
thay đổi cuộc sống trên trái đất chúng ta.”
Em hãy đặt tên cho bài văn trên đây?

Đáp án: Ê-Đi-Xơn(Nhà bác học vĩ đại, nhà khoa học tài
giỏi….)
Câu 8: Cho trước 2 từ: “Trường sơn”, “trường sa”. Em hãy chọn 1 từ chỉ ý
nghĩa sau đây: Đây là dãy núi cao chạy suốt miền trung nước ta.
Đáp án: Trường sơn
Câu9: Em hãy sắp xếp các từ sau đây tạo thành những câu văn đơn giản:
“Trâu”, “cây”, “ăn”, “ra”, “cỏ”, “hoa
Đáp án: Trâu ăn cỏ. Cây ra hoa.

Câu 10: Em hãy tìm từ chỉ : Số đo độ rộng của bề mặt sự vật?
Đáp án: Diện tích.
Câu 11: Em hãy tìm từ chỉ : Khoảng không gian vô tận chứa trái đất và các vì
sao?
Đáp án: Vũ trụ.
Câu 12: Tìm danh từ trong câu văn sau: “ Trời mây bát ngát.”
Đáp án: Trời, mây.

Biện pháp này, tôi đã dịp trình bày trong SKKN năm trước (2011-2012) nên
tôi không lặp lại trên bài viết này nữa.
Tuy nhiên, tôi vẫn thấy với biện pháp này, sẽ phát huy rất tốt những kinh
nghiệm chất lượng cao, có tác dụng thiết thực đến chất lượng toàn diện của HS
cho đến hiện nay.
IV/ Kết quả đạt được:
Với cách làm này, hoạt động dạy học Tiếng học trường tôi đã tháo gỡ được
những vướng mắc, thoát ra khỏi sự lúng túng về đổi mới phương pháp dạy học,
phát huy tính tích cực chủ động của HS.
Sau thời gian thực hiện các biện pháp trên đây, giờ lên lớp nhẹ nhàng hơn, tự
nhiên hơn, kết quả chất lượng HS tăng nhanh hơn.
Chất lượng thực chất của HS: HS ham học, thích đến trường, tích cực thi
đua.
Tỉ lệ học lực môn các loại của lần thi KTĐK lần 2 so với KTĐK lần 3 như
sau: XL học lực

Toán Tiếng Việt
KTĐKlần 2 KTĐKlần3 KTĐKlần 2 KTĐKlần3
Giỏi 37% 44,3% 44,9% 53.6%
Khá 36,7% 31,9% 40,7% 34,5%
TB 18,8% 17% 13,9% 12%
Yếu kém 7,1% 7,0% 3,0% 1,2%

V/ Bài học kinh nghiệm:
Chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học mới theo tinh thần phát huy tính tích
cực chủ động độc lập của học sinh”. phải đi sát vào cách dạy của từng bài. Giải


phát huy tính tích cực chủ động của Học sinh
nâng cao hiệu suất giờ lên lớp phân môn Luyện Từ và câu .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status