UBND THỊ XÃ CHÍ LINH
TRƯỜNG TIỂU HỌC SAO ĐỎ 2
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHÁ, GIỎI GIẢI CÁC BÀI
TOÁN VỀ DẤU HIỆU CHIA HẾT
MÔN: TOÁN LỚP 4
Năm học 2014 - 2015
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Hướng dẫn học sinh khá, giỏi giải các bài toán về dấu hiệu
chia hết
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Toán lớp 4
3. Tác giả:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Phong
Nữ
- Sinh ngày: 01/10/1974
- Trình độ chuyên môn: Đại học
- Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên- Trường Tiểu học Sao Đỏ 2 - Thị
xã Chí Linh- Tỉnh Hải Dương
- Điện thoại: 0975526717
4 . Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Phong
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Sao Đỏ 2
6 . Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Giáo viên phải nghiên cứu kĩ chương trình môn Toán của khối lớp 4,
5; cũng như các dạng bài tập về dấu hiệu chia hết…; phải xác định rõ mục
đích, yêu cầu, phương pháp và những kiến thức đã học có liên quan để chuẩn
-> Vậy nảy sinh ý tưởng giới thiệu thêm dấu hiệu chia hết cho 6, 10,
15; phân dạng, tìm tòi cách giải các bài toán về dấu hiệu chia hết->học sinh có
cơ hội được phát triển năng lực phù hợp trình độ nhận thức từng em.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
2.1. Điều kiện áp dụng sáng kiến
- Giáo viên: Nắm chắc hệ thống kiến thức toán học tiểu học; biết phân
loại mức độ dễ khó của các bài toán, phân loại cho đối tượng học sinh; tích
cực đổi mới phương pháp dạy học, lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp
đối tượng học sinh; tâm huyết, tận tụy với nghề, ham tìm hiểu, học hỏi.
- Học sinh: Hứng thú về toán học. Lên xếp lớp theo năng lực. Phải có
đủ sách vở, đồng dùng phục vụ cho việc học toán.
- Cơ sở vật chất: Phòng học rộng rãi, đủ ánh sáng; đủ bàn ghế…
2.2. Thời gian áp dụng sáng kiến
- Tháng 9/2014 đăng kí, tháng 12 thực hiện, tháng 1 kiểm chứng và tiếp
tục áp dụng đến giờ.
2. 3. Đối tượng áp dụng sáng kiến
- Học sinh lớp 4, 5, nhất là các em học sinh có năng lực về toán học.
3. Nội dung sáng kiến
3.1. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến
Sáng kiến này lần đầu tiên được áp dụng trong khối lớp, trường tôi dạy,
3
trước đó chưa có tài liệu cụ thể nào được triển khai.
Tính sáng tạo của sáng kiến ở chỗ, giúp các em học sinh khá- giỏi biết
chia các bài toán về dấu hiệu chia hết thành các dạng cụ thể( 6 dạng), biết
cách phân tích tìm hướng giải với từng dạng một.
3.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến
Khi các em gặp một bài toán liên quan đến dấu hiệu chia hết( một trong
lẻ, học sinh làm khá thuần thục. Nhưng khi làm các bài tập đòi hỏi phải xét
nhiều dấu hiệu chia hết cùng một lúc thì các em lúng túng. Ngay bản thân
sách giáo khoa cũng không mở rộng ra các dấu hiệu chia hết cho 6, 10, 15…
Nên khi học sinh làm bài tập gặp các bài toán dạng này các em không làm
được, một số ít thì biết mày mò ra đáp án song rất chậm.
- Khi dạy tới phần phân số: Rút gọn phân số, so sánh phân số…học
sinh lúng túng không biết cả tử số và mẫu số cùng chia hết cho mấy để mà rút
gọn. Thực tế các em chỉ việc vận dụng các dấu hiệu chia hết vào để tìm là sẽ
biết.
- Mặt khác trên thực tế giảng dạy, bản thân tôi gặp rất nhiều bài toán
cần vận dụng các dấu hiệu chia hết vào để giải nhưng nó lại ở các dạng khác
nhau như: Tìm, viết các số tự nhiên theo dấu hiệu chia hết nào đó; điền tiếp
chữ số vào một số nào đó để được số chia hết cho….; các bài toán vận dụng
tính chất chia hết của một tổng và một hiệu; các bài toán về phép chia có dư...
Nếu các bài toán này được tập hợp và phân dạng theo trình độ nhận thức từ dễ
đến khó, sau đó tìm cách giải với từng dạng thì tốt biết mấy. Học sinh sẽ được
luyện tập theo dạng và nắm cách giải với mỗi dạng đó. Trong quá trình được
học tập, được va chạm với những bài toán đó, các em học sinh có năng lực có
cơ hội được rèn luyện, được tư duy toán học, được phân tích, tổng hợp các dữ
kiện bài toán để tìm tòi ra đáp số…Từ đó năng lực toán học của các em sẽ
được phát triển.
1.2. Từ những khó khăn khi dạy các bài toán nâng cao về dấu hiệu chia
hết của đồng nghiệp
- Thực ra không phải ai cũng có nhiều thời gian để mày mò chứng
minh, tìm cách giải cho các bài toán khó. Bản thân giáo viên còn chưa nắm
được cách làm thì nói gì đến việc dạy cho học sinh.
- Từ đó dẫn đến việc ngại dạy toán khó cho các em -> Vậy nảy sinh ý
5
toán với phân số…( dựa vào dấu hiệu chia hết để rút gọn, tính nhanh, để so
6
sánh phân số…). Việc học tốt, học sâu các bài toán về dấu hiệu chia hết tạo
điều kiện, tiền đề, là bàn đạp cho các em học tốt các kiến thức về sau như đã
nói. Điều đó thể hiện sự sắp xếp khoa học và hợp lí của nội dung chương
trình, phù hợp với đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh tiểu học. Đồng
thời cũng thể hiện mức độ trừu tượng hóa, khái quát hóa cao của dạng toán về
dấu hiệu chia hết.
Đặc trưng của dạng toán này là học sinh phải nắm vững các dấu hiệu
chia hết từ những trường hợp đơn lẻ đến những dấu hiệu chia hết cho các số
cùng một lúc; nắm vững cách lập số, các tính chất của 4 phép tính (+, -, x, : số
tự nhiên); khả năng diễn đạt đúng, khả năng tư duy, khả năng suy luận lôgic,
khả năng tổng hợp, phân tích, khái quát… được rèn luyện ở mức cao, tạo điều
kiện cho các em, nhất là các em học sinh khá, giỏi phát huy khả năng sáng
tạo, năng khiếu toán học của mình. Đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp
dạy học phù hợp.
3. Thực trạng của vấn đề
3.1.Việc dạy của giáo viên
-Trình độ giáo viên đáp ứng yêu cầu của cấp học, song một số giáo
viên đầu tư cho việc tìm hiểu, nghiên cứu nội dung, phương pháp dạy chưa
nhiều. Do vậy ở một số nội dung dạy, giáo viên không chuyển tải hết ý đồ của
bài tập trong sách giáo khoa.
-Một số giáo viên ngại đổi mới phương pháp giảng dạy, còn nặng về
giảng giải ít đưa ra các tình huống có vấn đề để kích thích hứng thú học tập,
tìm tòi kiến thức cho học sinh. Giáo viên còn nặng về việc cung cấp kiến thức
mà chưa chú trọng đến việc luyện tập thực hành của học sinh.
-Khi dạy về các dấu hiệu chia hết có thể chỉ rút ra những dấu hiệu chia
SL
%
SL
%
khảo
4E
20
2
10%
7
35%
11
55%
0
0%
4D
20
3
15%
8
40%
9
45%
0
0%
Nhìn vào kết quả khảo sát tôi thấy trình độ, khả năng nhận thức của hai
Lớp
lớp là ngang nhau.
Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tìm số vừa chia hết cho 5 vừa chia hết cho 2.
Số chia hết cho 5 nhưng không chia hết cho
2).
- Muốn tìm số vừa chia hết cho 5 vừa chia hết cho 2 em làm như thế
nào?
(Dựa vào dấu hiệu chia hết cho 2 và dấu hiệu chia hết cho 5 để tìm số).
- Muốn tìm số chia hết cho 5 nhưng không chia hết cho 2 em làm như
thế nào?
(Dựa vào dấu hiệu chia hết cho 5 để tìm số).
Bài giải
a. Theo đề bài, các số chia hết cho 2 có chữ số tận cùng bằng 0 và 8.
Các số chia hết cho 5 có chữ số tận cùng bằng 0; 5.
Vậy những số vừa chia hết cho 2, vừa chia hết cho 5 phải có chữ số tận
cùng bằng 0.
Đó là các số: 660; 3000.
b. Số chia hết cho 5 nhưng không chia hết cho 2 phải có chữ số tận
cùng bằng 5.
Đó là các số: 35, 945.
9
Giáo viên giới thiệu dấu hiệu chia hết cho 10: Một số vừa chia hết cho
2,
vừa chia hết cho 5 thì chia hết cho 10. (Vì 10 = 2x5).
Bài toán 2: Tìm x biết: 230 < x < 250, x chia hết cho 3 và 5.
Phân tích đề:
- Bài toán cho biết gì? (230 < x < 250, x chia hết cho 3 và 5).
- Bài toán hỏi gì? (Tìm x).
- Muốn tìm xem cần chú ý điều gì? Và ?
- Bài toán hỏi gì? (Lập được bao nhiêu số có 4 chữ số khác nhau: Chia
hết cho 2, chia hết cho cả 5 và 9).
- Muốn lập được các số có 4 chữ số khác nhau chia hết cho 2; 5; 9 em
làm như thế nào?
(a. Dựa vào dấu hiệu chia hết cho 2 để chọn chữ số tận cùng. Lập số.
b. Dựa vào dấu hiệu chia hết cho 5 để chọn chữ số tận cùng. Sau đó
vận dụng dấu hiệu chia hết cho 9 để lập số).
Bài giải
a. Số chia hết cho 2 có chữ số tận cùng bằng 0; 2; 4; 6; 8.
Theo đầu bài, mỗi số có 4 chữ số khác nhau chia hết cho 2, nên chữ số
tận cùng của số đó phải bằng 0.
Các số có 4 chữ số khác nhau lập được là:
1350
3150
5130
1530
3510
5310
b. Số có 4 chữ số khác nhau chia hết cho 5 và 9 có chữ số tận cùng
bằng 0; 5 và tổng các chữ số này chia hết cho 9.
Ta có: 1 + 0 + 3 + 5 = 9; 9 chia hết cho 9.
Vậy các số lập được là:
1035
mãn điều kiện: Chia hết cho 3, chia hết cho 9, chia hết cho 3 và 5 em phải làm
gì?
(Vận dụng dấu hiệu chia hết cho 3; 9 để lập số).
Dựa vào dấu hiệu chia hết cho 5 để chọn chữ số tận cùng. (Kết hợp với
kết quả ở phần a để lập số).
Bài giải
a. Số chia hết cho 3 thì tổng các chữ số đó phải chia hết cho 3.
Ta có:
2 + 3 + 4 = 9; 9 chia hết cho 3.
4 + 5 + 3 = 12; 12 chia hết cho 3.
Vậy các số lập được thỏa mãn điều kiện đầu bài là:
234
345
243
354
324
435
342
453
432
543
cho 3 (Vì tổng các chữ số của 2 số đó là: 3 + 4 + 5 = 12; 12 chia hết cho 3)
Vậy các số chia hết cho 3 và 5 lập được là: 345; 435.
4.2.3. DẠNG 3: Dùng dấu hiệu chia hết để điền các chữ số chưa biết
trong 1 số.
Đây là dạng bài tập cho một số mà trong đó có một, hai, ba … chữ số
chưa biết. Yêu cầu học sinh tìm các chữ số đó dựa vào dấu hiệu chia hết.
Để làm dạng bài tập này, yêu cầu học sinh phải biết kết hợp giữa dấu
hiệu chia hết với phương pháp loại trừ để làm bài. Qua đó phát triển tư duy
lôgic, óc tưởng tượng sáng tạo cho học sinh.
Bài toán 5: Thay x, y vào trong số A =
để được số chia hết cho
2, 5, 9.
Phân tích đề:
- Bài toán cho biết gì? (Cho A =
)
- Bài toán hỏi gì? (Thay x, y để được số chia hết cho 2, 5, 9)
- Muốn thay x, y để được số chia hết cho 2, 5, 9 em làm như thế nào?
(Dựa vào dấu hiệu chia hết cho 2, 5 để xác định chữ số tận cùng y.
Dùng phương pháp loại trừ và dấu hiệu chia hết cho 9 để tìm chữ số x).
Bài giải
Ta có A vừa chia hết cho 2, vừa chia hết cho 5 nên y = 0.
Ta được số A = 6 x80
A chia hết cho 9 nên (6 + x + 8 + 0) chia hết cho 9.
Hay (14 + x) chia hết cho 9.
Suy ra x = 4. Vậy số phải tìm là: 6480.
Bài toán 6: Viết thêm vào bên phải và bên trái số 15 mỗi bên một chữ
hiệu. Yêu cầu học sinh không cần làm tính mà chỉ cần vận dụng tính chất chia
hết của một tổng hoặc một hiệu để làm bài.
Một số tính chất:
1. Nếu a và b đều chia hết cho 3 thì:
a+ b chia hết cho 3.
a – b chia hết cho 3.
2. Nếu a chia hết cho 3 nhưng b không chia hết cho 3 (hoặc b chia hết
cho 3 nhưng a không chia hết cho 3 thì:
a+ b không chia hết cho 3.
a – b không chia hết cho 3.
14
Các trường hợp chia hết cho 2; 5; 9;… tương tự.
Bài toán 7: Không làm phép tính, hãy xem xét các tổng và hiệu dưới
đây có chia hết cho 3 hay không?
a. 7461 + 8574
b. 454 + 3210
c. 5481 – 4326
d. 63174 – 11430 – 2514
Phân tích:
Nhận xét tổng các chữ số của mỗi số trong từng biểu thức xem các số
đó có chia hết cho 3 hay không, từ đó rút ra kết luận.
Bài giải
a. Ta có: 7461 và 8574 đều chia hết cho 3.
(Vì 7 + 4+ 6 + 1 = 18; 18 chia hết cho 3.
8 + 5 + 7 + 4 = 24; 24 chia hết cho 3).
Nên (7461 + 8574) chia hết cho 3.
b. Ta có 321 chia hết cho 3.
Bài giải
Ta thấy, số vở phát thưởng cho mỗi học sinh đạt giải nhất, nhì, ba là 10;
8; 6. Những số này đều chia hết cho 2.
Vì vậy số vở phát thưởng cho mỗi loại giải phải là một số chia hết cho
2.
Suy ra, tổng số vở phát thưởng cũng là một số chia hết cho 2.
Mà 245 không chia hết cho 2. (Vì chữ số tận cùng bằng 5).
Vậy bạn liên đội trưởng đã tính sai.
4.2.5. DẠNG 5: Các bài toán về phép chia có dư.
Để làm được các bài tập ở dạng này học sinh phải nắm được các tính
chất về phép chia có dư kết hợp với suy luận loogic để làm.
Giáo viên giới thiệu một số tính chất về phép chia có dư:
1. Nếu a chia cho 2 dư 1 thì chữ số tận cùng của a phải là 1; 3; 5; 7 hoặc
9.
2. Nếu a chia cho 5 dư 1 thì chữ số tận cùng của a phải là 1 hoặc 6.
Tương tự, trường hợp dư 2 thì chữ số tận cùng phải là 2 hoặc 7.
Trường hợp dư 3 thì chữ số tận cùng phải là 3 hoặc 8.
Trường hợp dư 4 thì chữ số tận cùng phải là 4 hoặc 9.
16
3. Nếu a và b có cùng số dư khi chia cho 2 thì a-b chia hết cho 2.
Tương tự, ta có trường hợp chia hết cho 3; 4; 5; hoặc 9.
4. Nếu a chia cho b dư b-1 thì a + 1 chia hết cho b.
5. Nếu a chia cho b dư 1 thì a – 1 chia hết cho b.
Bài toán 9: Cho B =
. Hãy thay x, y bởi những chữ số thích hợp
phải vận dụng tất cả các thao tác của tư duy vào giải toán.
Bài toán 10: Loan có ít hơn 20 quả táo. Biết rằng, nếu Loan đem số táo
đó chia đều cho 5 bạn hoặc chia đều cho 2 bạn thì cũng vừa hết. Hỏi Loan có
bao nhiêu quả táo?
Phân tích đề:
- Bài toán cho biết gì? (Loan có ít hơn 20 quả táo, số táo đó chia đều
cho 5 bạn hoặc chia đều cho 2 bạn thì cũng vừa hết).
- Số táo đó chia đều cho 5 bạn hoặc chia đều cho 2 bạn thì cũng vừa hết
nghĩa là thế nào? (Số táo đó vừa chia hết cho 2 vừa chia hết cho 5).
- Bài toán hỏi gì? (Loan có bao Nhiêu qủa táo?).
- Muốn biết Loan có bao nhiêu quả táo em làm như thế nào?
(Dựa vào dấu hiệu chia hết cho 2 và 5, xác định chữ số tận cùng, xác
định số táo cụ thể).
Bài giải
Theo đề bài, số táo của Loan chia đều cho 5 bạn hoặc 2 bạn thì cũng
vừa hết nên số táo đó phải có tận cùng là chữ số 0.
Mặt khác số táo đó nhỏ hơn 20 quả.
Vậy số táo đó là 10 hoặc 0 quả.
Nếu là 0 quả thì không có số táo để chia.
Vậy số táo của Loan là 10 quả.
Đáp số 10 quả.
Bài toán 11: Trong dịp đầu xuân, cô giáo chia kẹo cho các bạn lớp 4A.
Biết rằng cô có nhiều hơn 150 cái kẹo nhưng chưa đầy 180 cái. Cô tính, nếu
chia cho mỗi em 5 cái kẹo thì thiếu 15 cái. Nếu chia cho mỗi em 4 cái kẹo thì
thừa 20 cái. Hỏi số kẹo cô mang đến lớp là bao nhiêu cái?
Phân tích đề:
- Bài toán cho biết gì? (Cô có nhiều hơn 150 cái kẹo nhưng chưa đầy
180 cái. Nếu chia cho mỗi em 5 cái kẹo thì thiếu 15 cái. Nếu chia cho mỗi em
4 cái thì thừa 20 cái).
- Nếu chia cho mỗi em 5 cái kẹo thì thiếu 15 cái. Nếu chia cho mỗi em
a. Hãy viết các số tròn chục có 4 chữ số khác nhau và chia hết cho 3.
b. Hãy viết các chữ số có 4 chữ số khác nhau và chia hết cho 2; 5; 9.
Bài 4: Tìm số có 3 chữ số biết rằng số đó chia hết cho cả 3 và 5, khi
đọc xuôi cũng như đọc ngược số đó đều có giá trị như nhau.
19
Bài 5: Viết chữ số thích hợp vào dấu * để được số:
a. 743* là số chẵn và chia hết cho 3.
b. 16** chia hết cho các số 2; 3; 5.
Bài 6: Cho
là số chẵn có 5 chữ số, trong đó a và b là 2 chữ số
khác nhau. Tìm a và b để
chia hết cho các số 2; 3; 5.
Bài 7: Viết thêm vào bên phải số 31 hai chữ số để được số.
a. Chia hết cho 6.
b. Chia hết cho 10.
c. Chia hết cho 15
Bài 8: không tính giá trị của biểu thức ,có thể nói chắc chắn giá trị của
mỗi biểu thức sau chia hết cho số nào trong các số 2;3;5;9? Vì sao?
a. 475+25.17
b. 414+4.36
c.318+912x8
-Lớp thực nghiệm: 4D
-Lớp đối chứng: 4E
Bài dạy: Dấu hiệu chia hết cho 3.
Sau một thời gian dạy thực nghiệm. Tôi đã tiến hành khảo sát chất
lượng học sinh khá - giỏi của 2 lớp: Lớp 4D do tôi dạy thực nghiệm, lớp 4E là
lớp đối chứng.
Tôi ra một đề kiểm tra cho học sinh khá, giỏi hai lớp như sau:
*Bài 1: Điền vào chỗ chấm số thích hợp để chia hết cho 3:
350 < … < … < … < 360.
*Bài 2:
a. Viết 3 số có 5 chữ số chia hết cho 9.
b. Viết 3 số có 5 chữ số sao cho mỗi số đó vừa chia hết cho 5 vừa chia
hết cho 9.
*Bài 3: Không làm phép tính, hãy xem xét hiệu dưới đây có chia hết
cho 3 hay không?
5481 – 4326
Kết quả đạt được
Điểm 9-10
Điểm 7-8
Điểm 5-6
Điểm dưới 5
em
%
em
%
em
%
em
%
HS
có sáng tạo, linh hoạt hơn ở các bài toán khó và khả năng diễn đạt lưu loát
hơn( Bài 2,3). Các em rất tự tin khi gặp các bài toán thuộc dạng này.
Về phía giáo viên: Nắm chắc các dạng toán về dấu hiệu chia hết, có
phương pháp giải một cách khoa học hợp lôgic.
Dựa trên kết quả này, tôi mạnh dạn đánh giá rằng sáng kiến đưa ra đã
có hiệu quả thực sự, góp phần nâng cao chất lượng dạy học sinh khá-giỏi( học
sinh có năng lực). Với sáng kiến đưa ra, sau khi học xong về các dấu hiệu
chia hết, học sinh đã tổng hợp được các bài toán về dấu hiệu chia hết thành
từng dạng bài với các cách giải cho từng dạng, học sinh đã mở rộng thêm
được nhiều dấu hiệu chia hết khác mà trong sách giáo khoa không đề cập đến.
Trên cơ sở đó học sinh học tiếp sang phần phân số, số thập phân sẽ thuận lợi
hơn nhiều.
6. Điều kiện để sáng kiến nhân rộng:
+ Lớp học trên 5 buổi /tuần sẽ thuận lợi hơn.
+ Đối tượng học sinh nhận thức đồng đều, nhất là các lớp có năng lực
học tập khá( lớp đội tuyển).
+ Phân công giáo viên dạy chuyên sâu theo khối lớp.
+Giáo viên phải đầu tư thời gian nghiên cứu bài vở, đọc thêm tài liệu
để hiểu sâu sắc từng dạng toán về dấu hiệu chia hết.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận:
22
Khi chưa được phân dạng toán về các dấu hiệu chia hết và chưa được
hướng dẫn cách giải từng dạng, học sinh chỉ nắm được các quy tắc có trong
+ Dạng 4: Các bài toán về vận dụng tính chất chia hết của một tổng và
một hiệu.
+ Dạng 5: Các bài toán về phép chia có dư.
+ Dạng 6: Giải các bài toán có lời văn theo dấu hiệu chia hết.
-Xét mối liên quan giữa dạng toán này với một số dạng toán khác để từ
đó củng cố kiến thức từng phần cho học sinh.
-Động viên khuyến khích học sinh nhằm khơi dậy lòng ham học, tính
tích cực, tự giác học của học sinh. Tạo cho lớp học không khí thi đua học tập.
-Giáo viên kết hợp với các lực lượng giáo dục khác trong dạy học nhằm
đạt kết quả cao.
Kết quả áp dụng các giải pháp trên, các em giải các bài tập về dấu hiệu
chia hết nhanh nhạy và thuần thục hơn, khả năng tư duy, khả năng phân tích
tổng hợp các dữ kiện bài toán tốt hơn và ít giải sai hơn.
2. Khuyến nghị:
2.1. Đối với giáo viên:
Tâm huyết với nghề.
Thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
2.2. Đối với nhà trường:
Áp dụng tốt các chuyên đề của Sở, Phòng. Hàng tháng tổ chức các
chuyên đề để giáo viên trao đổi kinh nghiệm trong tổ chuyên môn, trong
trường, để các đồng chí chưa có kinh nghiệm dạy học sinh giỏi được học hỏi,
giao lưu với các đồng chí có kinh nghiệm nhằm trau dồi năng lực bản thân.
Nên phân công giáo viên có năng lực dạy chuyên các môn: dạy theo
lớp để có điều kiện theo dõi, điều chỉnh, phát huy năng lực học tập của học
sinh.
2.3. Đối với phòng giáo dục:
Cần tổ chức chuyên đề bồi dưỡng học sinh khá-giỏi theo định hướng
mới để giáo viên các trường có điều kiện trao đổi, tọa đàm về phương pháp