skkn một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho HS lớp 3 - Pdf 37

PHẦN 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời
văn cho học sinh lớp 3.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Nội dung, chương trình môn Toán ở Tiểu học và nội dung, chương trình
môn Toán lớp 3.
- Các biện pháp giải toán lời văn.
Lớp 3D và 3B trường Tiểu học Phả Lại 2.
3. Tác giả:
Họ và tên: Trương Thị Thúy

Nam (nữ): Nữ

Ngày tháng/năm sinh: 08 – 6 - 1968
Trình độ chuyên môn: Đại học – Chuyên ngành GD Tiểu học
Chức vụ, đơn vị công tác: Tổ trưởng chuyên môn
Trường Tiểu học Phả Lại 2
Điện thoại: 0944 256 128
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Phả Lại 2
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Sáng kiến được áp dụng đối với tất cả GV dạy Tiểu học.
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: 20/9/2014.

NGƯỜI VIẾT

XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG

Trương Thị Thúy

1


lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3”, và kiểm nghiệm qua thực tế
giảng dạy để trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp.
Sáng kiến này áp dụng trong điều kiện thực tế của nhà trường và áp dụng
với tất cả GV dạy Tiểu học. Thời gian tôi bắt đầu áp dụng sáng kiến và kiểm
nghiệm thực tế ở năm học 2014-2015 với đối tượng là HS lớp 3, trường Tiểu
học nơi tôi công tác.
Bản sáng kiến có những điểm mới của vấn đề nghiên cứu so với các giải
pháp cũ thực hiện là:
- HS được luyện giải các bài toán có lời văn một cách bài bản, có hệ
thống.
- Phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
- Làm cho giờ học diễn ra nhẹ nhàng, hiệu quả.
Sáng kiến này có thể áp dụng rộng rãi đối với tất cả GV, HS tiểu học trong
toàn quốc. Trong sáng kiến này, ngoài cơ sở lí luận và điều kiện thực tế tôi còn
đưa ra các giải pháp cơ bản sau:
2


Giải pháp thứ nhất: GV tìm hiểu, nắm chắc nội dung, chương trình, mục
tiêu, yêu cầu của môn Toán đối với cấp Tiểu học và đối với lớp mình dạy nói
riêng.
Giải pháp thứ hai: GV nắm vững quy trình giải bài toán có lời văn
Giải pháp thứ ba: Ôn tập, hệ thống lại kiến thức giải toán có lời văn đã học
Giải pháp thứ tư: Phát hiện lỗi sai của HS để đưa ra biện pháp sửa phù hợp
Giải pháp tứ năm: Hướng dẫn HS giải các bài toán có lời văn lớp 3 theo
bài bản để khắc phục những lỗi sai; trên cơ hướng dẫn HS, GV đưa ra những
lưu ý cần thiết giúp HS lưu ý khi giải toán;
Giải pháp thứ sáu: Rèn kĩ năng tính toán chính xác khi giải toán;
Giải pháp thứ bảy: Rèn tư duy sáng tạo cho HS năng khiếu khi giải toán.
Bằng các giải pháp cụ thể trên, sáng kiến đã có giá trị thiết thực trong việc

toán” để GV trong các trường có điều kiện cùng trao đổi thảo luận.

3


PHẦN 2: MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1.1. Mục tiêu của xã hội
Mục tiêu của nước ta là đưa đất nước trở thành một nước có nền Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để đáp ứng được yêu cầu của xã hội, đòi hỏi phải có
một lớp người có sức khỏe, có trình độ chuyên môn vững vàng, biết áp dụng
những kiến thức, kết quả của khoa học vào thực tiễn cuộc sống hằng ngày. Vì
vậy vấn đề đặt ra cho các nhà làm công tác giáo dục là phải đổi mới công tác
giáo dục và giảng dạy để góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục.
Trong đó phương pháp dạy học kích thích sự tìm tòi, đòi hỏi sự tư duy của học
sinh (HS) được đặc biệt chú ý.
Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học là làm thế nào để HS phải
thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trở tìm tòi suy nghĩ và sáng tạo
trong quá trình lĩnh hội tri thức, để có được tri thức ấy, nhằm phát triển và hoàn
thiện tri thức của mình. Trong giáo dục môn Toán góp phần thực hiện mục tiêu
giáo dục Tiểu học theo đặc trưng và khả năng của môn Toán. Cụ thể chuẩn bị
cho HS những tri thức, kỹ năng toán học cơ bản, cần thiết cho việc học tập
hoặc bước vào cuộc sống lao động.
Nhằm đáp ứng được những yêu cầu của xã hội đặt ra, ngành giáo dục và
đào tạo phải có những cải tiến, điều chỉnh, thay đổi về nội dung, chương trình
đồng thời đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp. Trong Luật giáo duc
Khoản 2, điều 124 đã ghi: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng
lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học

- Bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn
đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần
gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; chăm học và hứng thú học tập
toán; hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa
học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
1.4. Thực tế của nhà trường
Ở trong trường Tiểu học nơi tôi công tác, trong những năm học gần đây
đã áp dụng đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn toán nói riêng
nhưng hiệu quả chưa cao, qua theo dõi, tình trạng thực tế hiện nay cho thấy HS
thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn. Một số em còn chưa biết tóm tắt
bài toán, chưa biết phân tích đề để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp để
trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic. Vậy làm thế nào để nâng cao
chất lượng giải toán có lời văn?
Bản thân tôi đã nhiều năm dạy học, trăn trở, nghiên cứu qua thực tế
giảng dạy của mình tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất
lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3”, và kiểm nghiệm qua thực tế
giảng dạy để trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp.
2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
2.1. Cơ sở lí luận
Nếu Tiểu học là cấp học nền tảng, là nền móng vững chắc cho các cấp học
khác thì lớp Một, lớp Hai, lớp Ba là viên gạch đầu tiên để có được nền móng
vững chắc đó, làm cho chất lượng ở các lớp sau cũng tốt hơn.
Giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn
toán ở bậc tiểu học. Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với
nội dung của số học và số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản và
các yếu tố đại số, hình học có trong chương trình. Vì vậy, việc giải toán có lời
văn có một vị trí quan trọng thể hiện ở các điểm sau: Các khái niệm và các quy
tắc về toán trong sách giáo khoa, nói chung đều được giảng dạy thông qua việc
giải toán. Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng các kiến thức, rèn
luyện kỹ năng tính toán. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo

việc dạy và học môn toán là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Giải bài toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài
toán thông qua những câu văn về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc có
liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày. Cái khó của bài toán có lời
văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố về lời văn đã che
đậy bản chất toán học của bài toán. Làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ
các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm được những câu lời giải
phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán.
Việc dạy - học giải toán có lời văn giúp học sinh biết cách vận dụng
những kiến thức về toán, được luyện kĩ năng thực hành với những yêu cầu
được thể hiện một cách đa dạng, phong phú. Qua đó học sinh được phát triển tư
duy, rèn luyện phương pháp giải toán hợp và khả năng diễn đạt (phân tích vấn
đề, giải quyết vấn đề, trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ nói và viết,….)
Chính vì vậy, giải toán có lời văn với học sinh lớp 3 là một yêu cầu cao và
khó. Nó được coi là một tiêu chuẩn cơ bản đánh giá trình độ hiểu biết và năng
lực vận dụng các kiến thức toán học của học sinh lớp 3.
Ngoài ra, qua việc dạy học sinh giải các bài toán lời văn giáo viên còn có
thể : Giúp học sinh từng bước phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp suy
nghĩ và kĩ năng suy luận loogic, khêu gợi và tập dượt khả năng phỏng đoán tìm
tòi.
- Giúp học sinh tập trung vận dụng các kiến thức toán học vào cuộc sống.
- Rèn luyện cho học sinh những thói quen và đức tính tốt của một người
lao động như: ý trí tự lực vượt khó, tính cẩn thận, chu đáo, cụ thể, làm việc có
kế hoạch, có kiểm tra kết quả cuối cùng, từng bước hình thành và rèn luyện
thói quen, khả năng suy nghĩ độc lập, linh hoạt, khắc phục cách suy nghĩ máy
móc, rập khuôn, xây dựng lòng ham thích tìm tòi, sáng tạo.
6


2.2. Cơ sở thực tiễn

mỗi giờ học.
3. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
3.1. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện
Khi áp dụng sáng kiến tôi thấy có những thuận lợi và khó khăn như sau:
3.1.1. Thận lợi:
- Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường; Chuyên môn của nhà
trường.
- Đa số GV hiểu rõ tầm quan trọng của việc dạy học giải toán có lời văn.
- GV nắm được phương pháp và hình thức dạy học giải toán có lời văn.
- Học sinh được học hai buổi/ngày. Đa số học sinh có ý thức học tập tốt.
3.1.2. Khó khăn
Việc dạy của giáo viên:
- Giáo viên phối kết hợp các phương pháp dạy học chưa linh hoạt.
- Bài giảng chưa thực sự thu hút học sinh.
7


- Một số GV chưa , chưa nắm bắt hết ý đồ của sách giáo khoa, chưa nắm
hết kiến thức chuẩn kiến thức, kỹ năng cần cung cấp cho HS, chưa xác định
được kiến thức trọng tâm của tiết học, môn học, mục tiêu cần đạt của nội dung
chương trình, chưa chú trọng nhiều đến cải tiến phương pháp giảng dạy, phù
hợp với HS của lớp mình, xem nhẹ nội dung giải toán có lời văn, chưa thật sự
dành nhiều thời gian nghiên cứu kĩ bài trước khi lên lớp, thiếu sự nhiệt tình, ít
quan tâm đến hình thức trình bày bài giải, mới chỉ chú ý đến việc HS tìm ra kết
quả đúng mà chưa chưa làm cho HS hiểu tại sao phải làm như vậy cũng như
chưa có phương pháp chung khi dạy giải toán, dẫn đến học sinh thường viết
câu lời giải và trình bày bài ở vở một cách tùy tiện, cẩu thả. Một số giáo viên
thường máy móc phân tích, hướng dẫn không đúng trọng tâm của bài làm mất
nhiều thời gian học của HS.
Việc học của học sinh:

không chấm điểm bằng điểm số, không xếp loại tốt, khá, trung bình, yếu mà chỉ
nhận xét bằng lời. Thực hiện theo tinh thần ấy nên tôi khảo sát bài làm của 30
8


HS lớp 3D là lớp sẽ chọn áp dụng các giải pháp của sáng kiến, cho kết quả như
sau:

Bài làm
Bài làm
Sai phép tính Sai cả phép
Lớp
số
đúng, trình đúng, sai tên hoặc sai câu
tính và câu
bày sạch
đơn vị
lời giải
lời giải
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
3D
30
11

đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần
gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; chăm học và hứng thú học tập
toán; hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa
học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
4.1.2. Mục tiêu dạy học môn toán lớp 3
Môn Toán lớp 3, giúp HS:
- Biết đếm các số trong phạm vi 100 000.
- Biết đọc, viết, so sánh và sắp xếp các số các số trong phạm vi 100 000
theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại.
- Biết thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 100 000;
- Biết tính giá trị biểu thức số (có hoặc không có dấu ngoặc);
- Biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính;
9


- Biết tìm một trong các phần bằng nhau của một số (trong phạm vi các
phép chia đơn giản đã học);
- Biết đo và ước lượng các đại lượng: độ dài, khối lượng, thời gian, tiền
Việt Nam thường gặp trong cuộc sống hàng ngày;
- Biết đọc, viết, so sánh các đơn vị đại lượng đã học; mối quan hệ giữa các
đơn vị cùng đại lượng; biết chuyển đổi các đơn vị đo;
- Biết sử dụng lịch và đồng hồ khi đo thời gian, nhận biết bước đầu về thời
điểm và khoảng thời gian; biết sử dụng tiền Việt Nam trong sinh hoạt hàng
ngày….
- Có hiểu biết ban đầu về diện tích của một hình và đơn vị đo diện tích
(cm2);
- Biết thêm về hình chữ nhật và hình vuông: nhận biết các yếu tố của một
hình (góc, cạnh, đỉnh) và đặc điểm của hình chữ nhật, hình vuông. Biết tính chu
vi và diện tích của hình chữ nhật và hìmh vuông;
- Bước đầu vận dụng các kiến thức, kĩ năng của môn Toán để giải quyết

- Đại lượng và đo đại lượng
- Yếu tố hình học
- Yếu tố thống kê
- Giải bài toán có lời văn
Trong năm mạch kiến thức thì các bài toán lời văn đươc sắp xếp xen kẽ
với các mạch kiến thức khác.
Nội dung chủ yếu dạy học giải toán có lời văn trong Toán 3 bao gồm:
- So sánh hai số hơn kém nhau một số đơn vị;
- Bài toán liên quan đến rút về đơn vị;
- So sánh số lớn gấp mấy lần số bé;
- Tìm một trong các phần bằng nhau của một số;
- Gấp một số lên nhiều lần;
- Giảm đi một số lần;
- So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn;
- Giải bài toán bằng hai phép tính;
- Giải bài toán có nội dung hình học (tính chu vi, diện tích hình chữ nhật,
hình vuông).
Kế thừa bài toán có lời văn ở lớp 1, 2; mở rộng, phát triển nội dung giải
toán phù hợp với sự phát triển nhận thức của HS lớp 3.
Đặc biệt là các bài toán giải bằng hai phép tính là dạng toán lời văn mới
đối với học sinh.
Dạng bài giải toán hợp lớp 3 được sắp xếp theo hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn “chuẩn bị học sinh bước vào giải toán hợp”, học
sinh được làm quen với các “tình huống” của bài toán có hai câu hỏi a và b.
Giai đoạn 2: Giai đoạn “chính thức học giải toán hợp”. Giai đoạn này học
sinh biết thế nào là bài toán hợp (cấu tạo của bài toán gồm hai phần: giả thiết
(bài toán cho biết gì) và kết luận (bài toán hỏi gì), muốn đạt được yêu cầu của
bài toán thì các em phải tự đi tìm cái mà bài toán không yêu cầu tìm ở phần kết
luận đây là một bước giải mới đối với học sinh lớp 3.
4.2. Giải pháp thứ hai: GV nắm vững quy trình giải bài toán có lời

trừ, chủ yếu là các bài toán thêm bớt một số đơn vị. Loại toán này đơn giản
nhưng cũng phải củng cố cho các em nắm vững thì mới làm được các bài toán
lớp trên.
Ví dụ 1:
Nhà Hà có 6 con gà, mẹ mua thêm 3 con gà. Hỏi nhà Hà có mấy con gà?
Ví dụ 2: Đàn vịt có 4 con ở trên bờ và 5 con ở dưới ao. Hỏi đàn vịt có bao
nhiêu con?
Ví dụ 3: Lớp 1A có 36 bạn, trong đó có 16 bạn nam. Hỏi lớp 1A có bao
nhiêu học sinh nữ?
Ví dụ 4: Nhà Hùng có 8 con gà, mẹ đem bán 5 con gà. Hỏi nhà Hùng còn
mấy con gà?
Đây là những bài toán có dữ kiện cụ thể. Các em cần suy nghĩ làm tính
cộng hay tính trừ là đúng và chú ý dựa vào câu hỏi mà trả lời cho đúng.
Hệ thống lại kiến thức ở lớp 2:
Ở lớp Hai các em được ôn lại các dạng toán lớp Một và luyện thêm các
dạng toán mới. Giải các bài toán bằng một phép tính cộng hoặc trừ hoặc nhân
hoặc chia (trong đó có các bài toán về nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị; bài toán
nhân, chia).
Ví dụ 1: Thùng to đựng 72lít dầu. Thùng bé đựng được ít hơn thùng to 17
lít dầu. Hỏi thùng bé đựng được bao nhiêu lít dầu?
Ví dụ 2: Chị hái được 18 quả hồng. Mẹ hái được nhiều hơn chị 12 quả
hồng. Hỏi mẹ hái được bao nhiêu quả hồng?
Ví dụ 3: Có 45 kg gạo chia đều vào 5 túi. Hỏi mỗi túi có bao nhiêu ki- lô gam gạo?
12


Ví dụ 4: Người ta trồng 40 cây chuối thành các hàng bằng nhau, mỗi hàng
có 5 cây. Hỏi trồng được bao nhiêu hàng như thế?
Ví dụ 5: Mỗi đĩa đựng 3 quả cam. Hỏi 9 đĩa như thế đựng được bao nhiêu
quả cam?

bài toán, chưa tìm ra bài toán cần tìm gì?, một số em khả năng diễn đạt còn
hạn chế. Mặt khác, có một số học sinh trả lời miệng thì đúng nhưng khi viết lại
lúng túng và diễn đạt sai.
Thực tế cho thấy khi dạy mảng kiến thức này, giáo viên các lớp chưa thật
sự đi sâu vào phương pháp tìm lời giải, mỗi cô lại hướng dẫn trình bày một
kiểu, một cách khác nhau, dẫn đến sự bất hợp lí. Qua quá trình giảng dạy, tôi
thấy học sinh thường mắc một số lỗi như sau:
- Lỗi viết câu lời giải chưa đúng ở bước giải thứ nhất:
Ví dụ 1 (bài 3- trang 50): Bao gạo nặng 27kg, bao ngô nặng hơn bao gạo
5 kg. Hỏi cả hai bao có tất cả bao nhiêu ki- lô- gam gạo và ngô?
13


Với bài toán trên, có một số học sinh viết câu trả lời ở bước giải thứ nhất
như sau:
- Bao ngô nặng hơn bao gạo số ki – lô –gam là:
- Cả hai bao đựng số ki- lô- gam là:
Ví dụ 2 (bài 2 – trang 119): Một đội công nhân phải sửa quãng đường dài
1215m, đội đã sửa được

1
quãng đường. Hỏi đội công nhân đó còn phải sửa
3

bao nhiêu mét đường nữa?
Với bài toán trên, một số học sinh viết câu lời giải ở bước giải thứ nhất
như sau:
-

1

3 × 95 = 285 (m)
Ví dụ 5: Một số học sinh viết phép tính ở bước giải thứ nhất như sau:
550 : 6 = 425 (gạch)
2550 : 6 = 425 (phòng)
4.5. Giải pháp tứ năm: Hướng dẫn HS giải các bài toán có lời văn lớp
3 theo bài bản để khắc phục những lỗi sai
14


4.5.1. Lựa chọn cách trình bày tóm tắt hợp lý
Như chúng ta đã biết, phần tóm tắt bài toán không phải là một thành phần
trong khâu trình bày bài giải, nhưng là phần quan trọng giúp học sinh có cái
nhìn tổng thể về toàn bộ nội dung bài toán, từ đó tìm được mối liên hệ cần thiết
giữa cái đã cho và cái phải tìm. Qua đó, giúp các em biết lựa chọn phép tính
thích hợp. Đối với lớp 3 (cũng như đối với học sinh tiểu học nói chung), sử
dụng sơ đồ đoạn thẳng để tóm tắt là hợp lí nhất. Sơ đồ đoạn thẳng không những
giúp các em có một cái nhìn khái quát về bài toán mà còn giúp các em nhận ra
cái đã biết, cái phải tìm và mối liên hệ giữa chúng. Trong những trường hợp
không thể sử dụng được sơ đồ đoạn thẳng thì ta mới nên dùng quy ước bằng lời
để tóm tắt.
Một điều giáo viên cần ghi nhớ là để học sinh làm tốt các bài toán hợp thì
giáo viên cần hướng dẫn học sinh rèn luyện tốt kĩ năng giải các bài toán đơn.
Vì vậy, việc rèn cho học sinh thuần thục khâu tóm tắt các bài toán đơn (chủ yếu
bằng sơ đồ đoạn thẳng) là không thể thiếu. Việc thuần thục khâu tóm tắt bài
toán đơn không những giúp học sinh nhanh chóng tìm ra lời giải, mà nó còn là
cơ sở giúp học sinh có kĩ năng tóm tắt và giải các bài toán hợp.
Các ví dụ minh họa:
Bài toán 1 (bài 3- trang 50): Bao gạo nặng 27kg, bao ngô nặng hơn bao
gạo 5 kg. Hỏi cả hai bao có tất cả bao nhiêu ki- lô- gam?
Học sinh đọc thầm và trả lời câu hỏi

Đã sửa :

1
quãng đường.
3

15


Còn : …..m?
Hoặc tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau:
1215m
Đã sửa
?m
Bài toán 3 (bài 4 – trang 103): Một cửa hàng buổi sáng bán được 432l
dầu, buổi chiều bán được gấp đôi buổi sáng. Hỏi cả hai buổi cửa hàng bán được
bao nhiêu lít dầu?
Học sinh đọc thầm và trả lời câu hỏi:
- Bài toán cho biết gì? (buổi sáng bán được 432l dầu, buổi chiều bán được
gấp đôi buổi sáng)
- Bài toán hỏi gì? (Cả hai buổi cửa hàng bán được bao nhiêu lít dầu?)
Từ đó tôi hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán như sau:
Tóm tắt:
432 l dầu
Buổi sáng
? lít dầu
Buổi chiều:
Bài toán 4: Một sân vân động hình chữ nhật có chiều rộng là 95m và
chiều dài gấp 3 lần chiều rộng. Tính chu vi sân vận động đó?
Học sinh đọc thầm và trả lời các câu hỏi:

giúp đỡ các em.
4.5.2. Hướng dẫn HS viết câu lời giải (Câu trả lời):
Ở lớp Ba, các bài toán hợp chỉ dừng lại ở 2 bước tính. Vấn đề mấu chốt
khi dạy HS giải các bài toán này nằm ở chính đặc điểm của dạng toán. Đó là
làm sao cho HS nhận biết được đó là một bài toán hợp (bài toán phải giải bằng
2 phép tính). Thực tế cho thấy, rất nhiều HS sau khi đọc xong một đề toán hợp,
không biết rằng bài toán cần phải giải bằng 2 bước tính. Thế là tóm luôn câu
hỏi để đặt câu trả lời, để rồi chẳng biết phải chọn phép tính nào cho đúng. Để
giúp HS tránh được sai sót này, giáo viên cần xây dựng một hệ thống câu hỏi
để giúp HS đi tìm lời giải của bài toán. Đây chính là quá trình phân tích bài
toán để tìm câu trả lời. Nói chính xác là để tìm đúng thứ tự của 2 bước tính.
Quá trình phân tích bài toán hai phép tính ta tách một bài toán hợp (mà HS
chưa giải được) thành 2 bài toán đơn (loại toán mà HS quá quen thuộc). Điều
này sẽ giúp HS dễ dàng giải chính xác bài toán.
Quá trình phân tích bài toán để tìm lời giải phải theo kiểu đi ngược từ câu
hỏi đến cái đã cho. Nhưng trong thực tế, rất nhiều giáo viên đều có chung
phương pháp là hướng dẫn học sinh đi xuôi từ cái đã cho đến câu hỏi.
Ví dụ:
Bài toán 1 (bài 3- trang 50): Bao gạo nặng 27kg, bao ngô nặng hơn bao
gạo 5 kg. Hỏi cả hai bao có tất cả bao nhiêu ki- lô- gam gạo và ngô?
GV thường hướng dẫn học sinh giải từng bước như sau:
- Bài toán cho biết gì ? (Bao gạo nặng 27kg, bao ngô nặng hơn bao gạo 5
kg)
Vậy muốn biết ngô nặng bao nhiêu ki – lô- gam em làm thế nào?
Lấy 27 + 5 = 32 (kg)
Bây giờ đã biết bao gạo nặng 27kg, bao ngô nặng 32kg. Vậy muốn biết cả
hai bao nặng bao nhiêu ki – lô - gam, em làm thế nào ?
Lấy 27 + 32 = 59 (kg)
Thực tế, cách trên rất dễ thực hiện, nó vừa làm cho bài giảng trở nên nhẹ
nhàng, lại vừa làm cho HS đỡ mệt óc vì không phải động não nhiều. Đó chính

(Lấy số ki – lô - gam ở bao gạo cộng với số li – lô - kam ở bao ngô)
- Số kg ở bao gạo đã biết chưa ? ( Biết rồi: 27kg)
Số kg ngô biết chưa ? (Chưa)
- Vậy muốn biết số kg ở bao ngô em làm thế nào?
(Lấy số kg ở bao gạo cộng với 5)
Vậy để giải bài toán này, trước hết ta phải đi tìm cái gì?
(Trước hết ta phải tìm số kg ngô ở bao ngô)
- Em đạt câu lời giải cho bước tính thứ nhất: (Bao ngô nặng số ki – lô –
gam là:)
- Còn câu lời giải ở bước tính thứ hai, các em chỉ cần dựa vào câu hỏi của
bài toán để viết câu lời giải: (Cả hai bao gạo và ngô nặng số ki – lô – gam là:)
- Quá trình suy nghĩ trên không những giúp HS tách được bài toán đã cho
thành hai bài toán đơn (loại toán các em đã quá quen thuộc) mà còn giúp các
em biết cần phải suy nghĩ từ đâu và thứ tự thực hiện các bước như thế nào.
Bài toán 2: (trang 119- Toán 3): Một đội công nhân phải sửa quãng
đường dài 1215m, đội đã sửa được

1
quãng đường. Hỏi đội công nhân đó còn
3

phải sửa bao nhiêu mét đường nữa?
Hướng dẫn học sinh suy nghĩ như sau:
- Bài toán cho biết gì? (Đội công nhân phải sửa quãng đường dài 1215m,
đội đã sửa được

1
quãng đường)
3


- Vậy muốn biết số lít dầu bán trong buổi chiều ta làm thế nào? (Ta lấy số
lít dầu bán trong buổi sáng nhân với 2)
- Đặt câu lời giải cho bước tính thứ nhất:
(Số lít dầu cửa hàng bán trong buổi chiều là: Hoặc Buổi chiều cửa hàng
bán được số lít dầu là)
- Còn câu lời giải ở bước tính thứ hai, các em chỉ cần dựa vào câu hỏi của
bài toán để viết câu lời giải:
(Số lít dầu cửa hàng bán được trong cả hai buổi là: Hoặc Cả hai buổi cửa
hàng bán được số lít dầu là:)
Bài toán 4: Một sân vân động hình chữ nhật có chiều rộng là 95m và
chiều dài gấp 3 lần chiều rộng. Tính chu vi sân vận động đó?
Hướng dẫn học sinh suy nghĩ như sau:
Bài toán cho biết gì? (sân hình chữ nhật: chiều rộng 95m, chiều dài gấp 3
lần chiều rộng)
Bài toán hỏi gì? (tính chu vi sân vận động đó?)
Muốn tính chu vi sân vận động đó ta làm thế nào? (Ta lấy chiều dài cộng
với chiều rộng rồi nhân với 2)
Chiều rộng biết chưa? (biết rồi: 95m)
Chiều dài biết chưa? (chưa biết)
Khi giải bài toán này, trước hết ta phải tìm cái gì? (tìm chiều dài sân vận
động đó)
Tìm chiều dài sân vận động ta làm thế nào? (ta lấy chiều rộng nhân với 3)
Đặt câu lời giải cho bước tính thứ nhất: (Chiều dài sân vận động là:)
19


Còn câu lời giải ở bước tính thứ hai, các em chỉ cần dựa vào câu hỏi của
bài toán để viết câu lời giải: (Chu vi sân vận động đó là:)
Với HS lớp 3 bước đầu các em làm quen với toán lời văn giải bằng hai
bước tính như vậy, tôi thấy dựa vào cách hướng dẫn như vậy HS mới hiểu và

4.5.4. Trình bày bài giải
Khi đã tìm được cách giải bài toán thì việc cuối cùng cần làm là trình bày
bài giải. Phần trình bày bài giải các bài toán hợp (ở lớp 3) bao gồm 2 câu lời
giải, 2 phép tính và đáp số. Hầu hết các bài toán có lời văn đều có chung một
cấu trúc trình bày bài giải: Sau mỗi câu lời giải là một phép tính tương ứng,
cuối cùng ghi đáp số ở góc bên phải. Giáo viên hướng dẫn học sinh trình bày
sao cho vừa khoa học, vừa đẹp mắt hay nói cách khác là mang tính thẩm mỹ
cao. Tôi đã hướng dẫn học sinh trình bày như sau:
Chữ “bài giải” viết ở giữa dòng.
Câu trả lời viết cách lề 1 ô (nếu câu trả lời ngắn có thể cách lề 2 hoặc 3 ô
cho cân đối ở giữ dòng), chữ đầu câu viết hoa, cuối câu ghi dấu “:”
20


Phép tính cách lề 2 ô hoặc cân đối ở giữa dòng; chú ý viết đúng khoảng
cách giữa số, dấu phép tính không quá dày hoặc quá thưa; khoảng cách bằng
một con chữ o là vừa đủ.
Đáp số viết dưới dấu bằng của phép tính thứ hai.
GV nhắc nhở, yêu cầu HS trình bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là được, chú ý
câu trả lời ở các bước phải đầy đủ, không viết tắt; viết chữ và số phải đẹp.
Ví dụ :
Bài giải
Số viên gạch lát nền mỗi căn phòng là:
2550 : 6 = 425 (viên)
Số viên gạch lát nền 7 căn phòng là:
425 x 7 = 2975 (viên)
Đáp số: 2975 viên gạch.
Ví dụ
Chiều dài sân vận động là:
95 x 3 = 285 (m)


giải thường có 2 phần: Phần 1 ghi cái cần tìm, phần 2 ghi phạm vi cái cần tìm
biểu thị.
Ví dụ:
Số lít dầu / đựng ở thùng thứ hai:
Cái cần tìm
Phạm vi cái cần tìm biểu thị
Khi hướng dẫn HS đặt câu lời giải, nhiều GV không chú ý đến điều này
nên không có quy định cụ thể. Vì vậy mới xảy ra tình trạng HS trả lời theo cảm
tính, lúc thế này, lúc thế khác. Đương nhiên, trừ những trường hợp nội dung
câu trả lời chỉ có một phần (Phần 1) thì mỗi phép tính thường có 2 cách trả lời,
có thể đặt phần 2 lên trước, phần 1 để sau (hoặc ngược lại).
Để có sự nhất quán, GV cần hướng dẫn HS và quy định rõ ràng là đặt
phần 1 (cái cần tìm) lên trước rồi mới đến phần 2 (phạm vi cái cần tìm biểu
thị).
Ví dụ: Nên trả lời:
Số lít dầu đựng ở thùng thứ hai là:
Hoặc:
Thùng thứ hai đựng được số lít dầu là:
Cách trả lời nào cũng đúng, nhưng trả lời theo cách thứ nhất không những
khúc triết, rõ ràng hơn mà còn giúp học sinh ghi đúng ngay tên đơn vị (danh
số) sau khi thực hiện phép tính.
Khi viết câu lời giải, giáo viên cũng cần lưu ý học sinh không được viết tắt
các đơn vị đo lường. (VD: Không được viết “kg” mà phải viết là “ki - lô gam”, không viết “m” mà phải viết là “mét”, không viết “l’’ mà viết “líl”…),
các đơn vị này chỉ viết tắt khi đứng sau một số thực (VD: 5kg, 10m, 124l…).
Bên cạnh việc hướng dẫn HS viết câu lời giải đúng, GV cũng cần lưu ý
hướng dẫn viết tên đơn vị (danh số) ở kết quả phép tính và ở đáp số cho phù
hợp. Các danh số thường là 1 đơn vị kép (chỉ lượng và chỉ tên) như: con gà, cái
thuyền, kg gạo,…Khi ghi danh số sau kết quả mỗi phép tính, ta chỉ cần ghi đơn
vị chỉ lượng đứng trước là: con, cái, kg,…Nhưng khi ghi đáp số ta cần phải ghi

toán. Điều này sẽ giúp các em hạn chế sai sót trong quá trình làm bài và cũng là
điều kiện để rèn luyện kỹ năng tính toán, tính cách cẩn thận cho học sinh.
Giúp các em ghi nhớ, xác định phép tính khi thực hiện, thông thường
thì:
- Nhiều hơn một số đơn vị: Làm tính cộng
- Ít hơn một số đơn vị: Làm tính trừ
- Gấp một số lên nhiều lần: Làm tính nhân
- Giảm đi một số lần: Làm tính chia
- So sánh số lớn hơn số bé bao nhiêu đơn vị: Làm tính trừ
- So sánh số bé ít hơn số lớn bao nhiêu đơn vị: Làm tính trừ
- So sánh số lớn gấp mấy lần số bé: Làm tính chia
- So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn: Làm tính chia như “So sánh số
lớn gấp mấy lần số bé” và thêm một câu kết luận.
Sau khi rèn luỵên một số bài toán cơ bản, để phát triển tư duy của học
sinh, tôi nâng cao hơn một bước bằng cách thông qua bài toán “gốc”có dạng
trên tôi cho học sinh nâng cao tư duy lên một bước với những dữ kiện trên mà
cách giải lại làm ngược lại với phép tính trên.
Đối với các bài toán có nội dung hình học:
Yêu cầu HS trước tiên phải hiểu và thuộc công thức tính chu vi, diện tích
và biết vận dụng vào từng trương hợp, kết hợp với vốn sống, vốn hiểu biết của
mình.
Ví dụ:
Mỗi viên gạch hình vuông có cạnh 20cm. Tính chu vi hình chữ nhật ghép
bởi 3 viên gạch như thế?
Muốn tìm được chu vi hình chữ nhật ghép bởi ba viên gạch hình vuông
cạnh 20 cm, ta phải tìm chiều dài, và chiều rộng là bao nhiêu?
Chiều rộng? (Chiều rộng chính là cạnh viên gạch hình vuông)
Chiều dài? (Chiều dài chính là cạnh của 3 cạnh viên gạch hình vuông ghép
lại)
Từ đó ta tìm được chu vi hình chữ nhật.

Tính chiều dài hình chữ nhật, biết nửa chu vi hình chữ nhật là 60m và
chiều rộng là 20m.
Sau khi hướng dẫn học sinh giải, để những HS có năng khiếu phát huy
khả năng tư duy của mình, GV có thể nâng cao thêm một bước bằng bài toán.
Ví dụ 2: Tính chiều dài hình chữ nhật, biết chu vi hình chữ nhật là 60m và
chiều rộng là10m.
Những HS giỏi sẽ phát hiện ra cần phải tìm nửa chu vi hình chữ nhật trước
rồi tiếp tục giải như bài toán trên.
Ví dụ 3: Một cửa hàng có 26550kg xi măng, cửa hàng đã bán được

1
số xi
3

măng đó. Hỏi cửa hàng còn lại bao nhiêu kg xi măng?
GV hướng dẫn giải bài toán theo các đối tượng HS như sau:
Bước 1: Đọc và phân tích đề bài
- GV Gọi 2 HS đọc đề bài, cả lớp đọc thầm
- Bài toán cho biết gì? (có 26550kg xi măng, đã bán

1
số xi măng)
3

- Bài toán hỏi gì? (Cửa hàng còn lại bao nhiêu kg xi măng)
Bước 2: Thiết lập mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm
- Tóm tắt nội dung bài toán (2 HS tóm tắt nội dung bài
- Bán được

1

26550 : 3= 8850 (kg)
- Muốn tìm số xi măng còn lại ta làm thế nào? (Lấy số xi măng có ban đầu
trừ đi số xi măng đã bán).
Đối với đối tượng HS năng khiếu GV cần hướng dẫn HS quan sát sơ đồ,
lập luận được số xi măng còn lại gấp 2 lần số xi măng đã bán. Vậy khi tìm số xi
măng còn lại ta chỉ lấy số xi măng đã bán nhân với (3-1)
Lưu ý diễn đạt câu lời giải bằng nhiều cách khác nhau.
Khuyến khích HS khá giỏi làm gộp các phép tính.
Bước 4: HS trình bày bài giải
Cách 1:
Cửa hàng đã bán số ki- lô -gam xi măng là:
26550 : 3= 8850 (kg)
Cửa hàng còn lại số ki- lô -gam xi măng là:
26550 – 8850 = 17700 (kg)
Đáp số: 17700kg xi măng
Cách 2 (HS năng khiếu):
Cửa hàng đã bán số ki- lô -gam xi măng là:
26550 : 3= 8850 (kg)
Cửa hàng còn lại số ki- lô -gam xi măng là:
8850 x (3 – 1) = 17700 (kg)
Đáp số: 17700kg xi măng
Bước 5: Kiểm tra
Kiểm tra lại bài giải xem đã đúng với câu hỏi của bài toán chưa, kết qủa
có đúng chưa, đơn vị có đúng không?
Có thể cho HS nêu thêm các cách viết câu lời giải khác nhau.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status