Sáng kiến kinh nghiệm: Một Số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho HS lớp 5A Trường tiểu học TT Hương Sơn - Pdf 47

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

BÁO CÁO NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Họ tên tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Trình độ chuyên môn: Đại học tiểu học.
Chức vụ: Giáo viên – Chủ tịch công đoàn.
Đơn vị công tác: Trường tiểu học TT Hương Sơn- huyện Phú Bình.
1. Lĩnh vực áp dụng của sáng kiến.
Sáng kiến thuộc lĩnh vực chuyên môn Tiểu học ( Môn Toán). Áp dụng trong việc
rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5A – Trường Tiểu học Thị trấn Hương
Sơn, nhằm giúp học sinh lớp 5A có khả năng đọc và phân tích đề bài, từ đó hiểu và giải
được bài toán có lời văn đúng và chính xác. Đáp ứng yêu cầu cơ bản của phân môn Toán,
góp phần nâng cao chất lượng môn Toán nói chung. Khi các em học sinh đã hiểu và giải
được bài toán có lời văn ở tất cả các dạng toán đã học thì đó cũng là tiền đề để các em nhận
biết, chiếm lĩnh và tiếp thu kiến thức ở tất cả các môn học khác trong nhà trường và nâng
cao sự hiểu biết xã hội.
2. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến.
2.1. Sự cần thiết thực hiện sáng kiến.
Chúng ta đang bước vào những năm đầu thế kỉ XXI. Trong giai đoạn hiện nay Giáo
dục – Đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân. Trong hệ thống
giáo dục quốc dân giáo dục Tiểu học là cấp học quan trọng nhất được xem là cơ sở ban đầu
đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông.
Để thực hiện mục tiêu giáo dục “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài”
đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng đất nước thì trước tiên
phải thực hiện được mục tiêu của bậc tiểu học “Nhằm hình thành cơ sở ban đầu nhân cách
con người Việt Nam”.


Chương trình toán của tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rất lớn. Toán học góp
phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học

này lâu nay đã làm bao thế hệ thầy cô phải trăn trở suy nghĩ tìm lời giải. Xuất phát từ yêu
cầu quan trọng của môn học và từ thực tế học sinh là động lực để tôi nghiên cứu và chọn
viết đề tài:
“1 Số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho HS lớp 5A Trường
tiểu học TT Hương Sơn”.
2.2. Mục đích của việc thực hiện sáng kiến.
Năm học 2014 – 2015, với những trăn trở về chất lượng môn toán đặc biệt là giải toán
có lời văn của học sinh lớp 5A – Trường Tiểu học TT Hương Sơn. Tôi tiến hành làm sáng
kiến kinh nghiệm với mục đích như sau:
- Tìm hiểu nội dung, chương trình và những phương pháp đúng để giảng dạy toán có
lời văn.
- Tìm hiểu những kĩ năng cơ bản cần trang bị để phục vụ việc giải toán có lời văn
cho học sinh lớp 5.
- Khảo sát và hướng dẫn giải cụ thể một số bài toán, một số dạng toán có lời văn ở
lớp 5, từ đó đúc rút kinh nghiệm, đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao chất lượng dạy
học và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu giải toán.
- Tìm hiểu thực trạng việc giải toán có lời văn của học sinh lớp 5A, những nguyên
nhân gây nên tình trạng học sinh lớp 5A giải toán có lời văn chậm và còn thiếu chính xác
câu lời giải chưa đúng, trình bày bài giải chưa hợp lý.....
- Tìm và đề xuất những biện pháp khắc phục thực trạng để rèn kỹ năng giải toán cho
học sinh lớp 5A đạt hiệu quả cao nhất.
3. Mô tả nội dung của sáng kiến.
3.1. Tính mới( chưa làm)
3.2. Tính khoa học.
Giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn toán ở bậc
tiểu học. Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nội dung của số học và
số học tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản và các yếu tố đại số , hình học có
trong chương trình.



2. Ôn tập về các phép tính số tự nhiên.


3. ÔN tập dấu hiệu chia hết cho 2.3.5.9.
4. Phân số ôn tập, bổ sung.
5. Ôn tập các phép tính về phân số.
6. Số thập phân.
7. Các phép tính về số thập phân.
8. Hình học-chu vi, diện tích, thể tích của một hình.
9. Số đo thời gian-Toán chuyển động đều.
3.3. Tính thực tiễn.
3.3.1Thực trạng của học sinh
Năm học 2014 – 2015 tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 5A.
* Tổng số học sinh: 32 em
Nam: 9 em.

Nữ: 22 em

Dân tộc: 1 em Khuyết tật: 0
Ngay từ đầu năm, khi lựa chọn sáng kiến này, để nắm bắt được tình trạng chất lượng học
toán và đặc biệt là giải toán có lời văn của học sinh lớp 5A, tôi đã lập kế hoạch và bắt tay
vào điều tra thực trạng chất lượng học sinh bằng cách kiểm tra khảo sát ngẫu nhiên 32 em
học sinh trong lớp.
Bài toán số 1:
( Dạy vào ngày 19/9/2014)
Số lít nước mắm loại I nhiều hơn số lít nước mắm loại II là 12l. Hỏi mỗi loại có bao
nhiêu lit nước mắm, biết rằng số lít nước mắm loại I gấp 3 lần số lít nước mắm loại II ?
- Kết quả thu được như sau:
Số HS
điều


7

Tỉ lệ
21,9%

đạt

Tỉ lệ

12

37,5%

Bảng thống kê số lỗi học sinh mắc phải trong khi giải toán:
Các lỗi sai

Số học sinh mắc lỗi

Tỉ lệ


- Sai câu lời giải:

12

37%

- Sai phép tính giải:


32

HS làm
bài tốt
5

HS
Tỉ lệ

làm bài

Tỉ lệ

khá
15,6%

8

HS làm

HS làm

bài đạt

bài không

yêu cầu

đạt



21,9%

- Sai về trình bày bài giải:

3

9,4%

- Sai về cách thực hiện các phép tính trong bài giải:

5

15,6%

- Sai về cách ghi các danh số đơn vị trong bài giải:

5

15,6%

* Bài toán số 3
( Dạy vào ngày:29/9/2014)
Tính chu vi mảnh đất hình chữ nhật, biết chiều dài gấp 2 lần chiều rộng và hơn chiều
rộng 15 m.


- Kết quả thu được như sau:
Số HS
điều


đạt

Tỉ lệ

15

46,9%

Tỉ lệ

5

15,6

Bảng thống kê số lỗi học sinh mắc phải trong khi giải toán:
Các lỗi sai

Số học sinh mắc lỗi

Tỉ lệ

- Sai câu lời giải:

9

28,1%

- Sai phép tính giải:


+ Học sinh chưa nghiên cứu kỹ đầu bài toán nên xác định không đúng dạng bài tập dẫn
đến giải sai bài tập.
+ Không biết thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho và diễn đạt bằng ngôn ngữ hoắc tóm
tắt hay minh họa bằng sơ đồ hình vẽ…
+ Lập kế hoạch giải bài toán sai không đúng yêu cầu bài tập.
+ Thực hiện các phép tính chưa đúng theo kế hoạch giải bài toán
+ Câu lời giải chưa đúng với phép tính giải.


+ Danh số đơn vị chưa đúng còn nhầm lẫn.
+ Trình bày bài giải chưa đúng yêu cầu.
Từ thực trạng học sinh còn nhiều hạn chế như vậy đã làm cho tiết học toán trở thành một
gánh nặng, một thách thức đối với giáo viên tiểu học. Ý nghĩ cho rằng toán là một phân
môn khó dạy, khó học và khó đạt hiệu quả cao đã là nhận thức chung của nhiều thầy cô
giáo.
Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng học toán của học sinh không đạt yêu
cầu cao? Qua quá trình giảng dạy lớp 5 tôi nhận thấy học sinh học yếu môn toán là do
nhiều nguyên nhân.
3.3.2 Nguyên nhân của thực trạng
Qua quá trình giảng dạy và điều tra thực trạng của giáo viên và học sinh lớp 5 trường
tiểu học TT Hương Sơn Tôi nhận thấy có những nguyên nhân cơ bản sau dẫn đến thực
trạng các em học sinh lớp 5 giải toán có lời văn lại gặp nhiều khó khăn như vậy:
a, Nguyên nhân khách quan
- Đa số học sinh con gia đình làm nông nghiệp, điều kiện và thời gian học tập có hạn
- Phụ huynh ít quan tâm tới việc học tập của học sinh
- Các cấp các nghành ở địa phương còn nghèo, chưa thực sự quan tâm động viên các em
kịp thời
-Tại tệ nạn xã hội dẫn đến nhiều em ham chơi không chịu học.
b, Nguyên nhân chủ quan
*Giáo viên:

đến việc sửa sai cho học sinh ở mọi lúc, mọi nơi, chưa hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể để các em tự
phát hiện lỗi sai và sửa chữa. Việc động viên uốn nắn chưa kịp thời dẫn đến các em còn
mắc nhiều lỗi khi làm toán.
* Từ những lí do trên, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy các em, tôi suy nghĩ làm
sao tìm ra biện pháp giảng dạy phù hợp để giúp học sinh học tập làm văn tốt hơn.
3.3.3 Các biện pháp đã áp dụng để rèn kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5A
Xuất phát từ thực trạng và nguyên nhân trên, đồng thời thấy rõ vai trò, nhiệm vụ của
một giáo viên đang đứng trên bục giảng, tôi mạnh dạn đưa ra các giải pháp sau đây, hy
vọng sẽ nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5A.
1. Tạo hứng thú học tập cho học sinh
Có nhiều hình thức để giúp học sinh say mê hứng thú trong học tập. Vì vậy tôi luôn tìm
tòi các hình thức để thay đổi trong mỗi giờ học toán, tạo cho học sinh những cảm hứng bất
ngờ từ đó học sinh hứng thú hơn và kích thích tư duy của học sinh.
Toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế. Nội dung bài toán được thông qua
nhữmg câu nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, có liên quan đến cuộc sống
thường sảy ra hàng ngày. Cái khó của bài toán có lời văn là phải lược bỏ những yếu tố về
lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán, hay nói cách khác là chỉ ra mối quan hệ
giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và nêu ra phép tính thích hợp để từ đó
tìm được đáp số bài toán.
* Chẳng hạn bài toán:


Một con chim sâu cân nặng 60g. Một con đà điểu cân nặng 120kg. Hỏi con đà điểu
cân nặng gấp bao nhiêu lần con chim sâu?
- Khi giải bài toán này học sinh cảm thấy thú vị với một phép so sánh không tương xứng
giữa hai con vật có trọng lượng quá chênh lệch. Qua bài tập này học sinh được giáo dục
tình yêu thiên nhiên.
* Hay như bài toán:
“ Một máy bay bay với vận tốc 860km/giờ được quãng đường 2150km. Hỏi máy
bay đến nơi lúc mấy giờ, nếu nó khởi hành lúc 8 giờ 45 phút?”

sáng tạo các phương pháp dạy học như là trực quan. Ví dụ: Khi dạy giải toán ở lớp 5, giáo
viên có thể cho học sinh quan sát mô hình hoặc hình vẽ, sau đó lập tóm tắt đề bài rồi mới
đến bước chọn phép tính.
* Phương pháp gợi mở-vấn đáp:
Đây là phương pháp cần thiết và thích hợp với học sinh ở tiểu học, rèn luyện cho
học cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời, tạo niềm tin và khả năng học tập của từng học
sinh. Đẻ sử dụng tốt phương pháp này, giáo viên cần lựa chon hệ thống câu hỏi chính xác
và rõ ràng, nhờ thế mà học sinh có thể nắm được ngay nội dung kiến thức từ đầu và giúp
các em dễ dàng trả lời các câu hỏi.
* Phương pháp thực hành và luyện tập:
Sử dụng phương pháp này thực hành luyện tập kiến thức, kĩ năng giải toán từ đơn
giản đến phức tạp (chủ yếu ở các tiết luyện tập). Trong quá trình học sinh luyện tập, giáo
viên có thể phối hợp các phương pháp như: Gợi mở, vấn đáp và giảng giải minh hoạ.
* Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng:
Giáo viên sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để biểu diễn các đại lượng đã cho trong bài và
mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng đó. Giáo viên phải chọn độ dài đoạn thẳng một
cách thích hợp để học sinh dẽ dàng quan sát và thấy được mối liên hệ phụ giữa các đại
lượng tạo ra hình ảnh cụ thể để giúp học sinh suy nghĩ, tìm tòi giải toán.
* Phương pháp giảng giải-minh hoạ:
Khi cần giảng giải- minh hoạ, giáo viên cần nói gọn, rõ và kết hợp với gợi mở-vấn
đáp. Giáo viên nên phối hợp giảng giải với hoạt động thực hành của học sinh (Ví dụ: Bằng
hình vẽ, mô hình, vật thật...). Để học sinh phối hợp nghe, nhìn và làm, nên hạn chế sử dụng
phương pháp này vì sẽ làm hạn chế khả năng tư duy lôgic và suy nghĩ sáng tạo của học
sinh.


3. Rèn kỹ năng giải toán cho học sinh.
* Xác định yêu cầu trọng tâm của đề bài:
- Bước đầu tiên khi giải bài toán có lời văn giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc và
nghiên cứu kỹ xem đề văn yêu cầu gì và xác định đúng dạng toán nào đã học và giải như


Giải xong bài toán, khi cần thiết, cần thử lại xem đáp số tìm được có trả lời đúng câu
hỏi của bài toán, có phù hợp với các đièu kiện của bài toán không? Trong một số trường
hợp, giáo viên nên khuyến khích học sinh tìm xem có cách giải khác gọn hơn không?
*Ví dụ 1: Thùng to có 26 lít dầu, thùng bé có 18 lít dầu. Dầu được chứa vào các
chai như nhau, mỗi chai có 0,8 lít. Hỏi có tất cả bao nhiêu chai dầu?
Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện bài toán trên bằng cách dùng phương pháp
vấn đáp, kết hợp với minh hoạ bằng tóm tắt đề toán.
+Phân tích nội dung đề toán: Giáo viên dùng hai câu hỏi: Bài toán cho biết gì? Bài
toán hỏi gì? Để học sinh hiểu nội dung bài:
- Thùng to có 26 lít dầu.
- Thùng bé có 18 lít dầu.
- Mỗi chai chứa 0,8 lít dầu.
- Hỏi có tất cả có bao nhiêu chai dầu?
+Tóm tắt bài toán : Theo những câu trả lời của học sinh, giáo viên hướng dẫn học
sinh tóm tắt như sau:
Thùng to: 26 l
Thùng bé:18 l


:...... chai dầu?

- Tóm tắt trên chính là chỗ dựa cho học sinh tự tìm ra lời và phép tính tương ứng.
+Thiết lập trình tự giải: Giáo viên đạt câu hỏi “Muốn biết có bao nhiêu chai dầu, ta
phải làm thế nào? ” Học sinh trả lời: “Trước hết ta phải tìm tổng số lít dầu có ở hai thùng,
sau đó mới tìm tổng số chai đựng dầu”.
Bài giải
Tổng số lít dầu ở hai thùng là:
26 + 18 =44 (l)
Số chai đựng dầu là:

kinh nghiệm hướng dẫn: Phần dạy toán có lời văn ở lớp 5.
Ở lớp 5, việc học phân số, học số thập phân, học về các đơn vị đo đại lượng...Cũng
được kết hợp học các phép tính, học giải toán được kết hợp một cách hữu cơ để có tác
dụng hỗ trợ lẫn nhau. Việc dạy cho học sinh nắm được các phương pháp chung để giải toán
được chú trọng ngay từ khi các em giải bài toán đầu tiên ở bậc tiểu học và sau này vẫn
được thường xuyên quan tâm. Các em luôn được rèn luyện trong việc tìm hiểu đề toán,
trong viẹc phân tích cái gì đã cho, cái gì phải tìm trong việc suy nghĩ tìm ra cách giải và


trong việc thực hiện cách giải. Đặc biệt các em thường xuyên sử dụng việc tóm tắt bài toán
bằng sơ đồ hình vẽ.
Sau đây là một số ví dụ về các dạng toán có lời văn ở lớp 5:
Ví dụ 1: Bài toán về đại lượng tỉ lệ thuận.
Một ô tô cứ một 100 km thì hết 12,5 l xăng. Hỏi ô tô đi quãng đường dài 120 km thì
cần bao nhiêu lít xăng?
Bài giải
Số lít xăng cần để đi 1 km là:
12,5 : 100 = 0,125 (l)
Số lít ô tô cần để đi quãng đường 60 km là:
0,125 x 120 = 15 (l)
Đáp số : 15 lít xăng
Ví dụ 2: Toán chuyển động đều.
Một người đi hết quãng đường dài 11,52 km với vận tốc 4,5 km/giờ. Hỏi người đó
đã đi hết bao nhiêu giờ và bao nhiêu phút?
Bài giải
Thời gian ô tô đi hết quãng đường là:
11,52 : 4,5 = 2,5 (giờ)
= 2 giờ 30 phút.
Đáp số: 2 giờ 30 phút.
Ví dụ 3: Bài toán về tỉ lệ nghịch.

Ví dụ 5: Bài toán về tỉ số phần trăm.
Ngày thường mua 5 quả bóng bay hết 10.000 đồng . Cũng với số tền đó trong ngày lễ
chỉ mua được 4 quả bóng bay như thế. Hỏi so với ngày thường thì giá bóng bay trong ngày
lễ tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm?
Bài giải
Giá tiền 1 quả bóng bay ngày thường là:
10000 : 5 = 2000 (đồng)
Giá tiền 1 quả bóng bay trong ngày lễ là:
10000 : 4 = 2500 (đồng)
Tỉ số phần trăm của giá bóng bay trong ngày lễ so với ngày thường là:
2500 : 2000 = 1,25 = 125%
Coi giá bóng bay trong ngày thường là 100% thì giá bóng bay trong ngày lễ hơn
ngày thường là:


125% – 100% = 25%
Đáp số: 25%
*** Đối với các bài toán có lời văn như trên, giáo viên nên khuyến khích học sinh tự
nêu ra các giả thiết đã biết, cái cần phải tìm cách tóm tắt bài toán và tìm cách giải. Các
phép tính giải chỉ là khâu thứ yếu mang tính kĩ thuật.
Một số bài nâng cao dành cho học sinh khá giỏi:
Đối với những đối tượng học sinh đã giải được và giải thành thạo các bài toán đơn cơ
bản, thì việc đưa ra hệ thống bài tập nâng cao là rất quan trọng và cần thiết để cho học sinh
có điều kiện phát huy năng lực trí tuệ của mình, vượt xa khỏi tư duy cụ thể mang tính chất
ghi nhớ và áp dụng một cách máy móc trong công thức.
5. Một số biện pháp khác
-Ngoài ra để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh trong mỗi giờ dạy
tôi gây hứng thú cho học sinh bằng những trò chơi học tập, những hình thức thi đua cá
nhân, nhóm tổ. Trong các tiết học, tôi luôn cố gắng tạo điều kiện cho tất cả học sinh đều
được tham gia đánh giá nhận xét và trình bày suy nghĩ và giải bài tập của mình giúp các

* Bài toán
Một ô tô đi từ hà nội lúc 6 giờ 15 phút và đến Hải Phòng lúc 8 giờ 56 phút. Giuã đường
otô nghỉ 25 phút. Vận tốccủa otô là 45 km/giờ. Tính quãng đường từ Hà Nội đến Hải
Phòng.
- Kết quả thu được như sau:
Số HS
điều
tra
32

HS làm
bài tốt
13

HS
Tỉ lệ

làm bài

Tỉ lệ

9

HS làm

bài đạt

bài không

yêu cầu


0

0%

- Sai phép tính giải:

1

3,1 %

- Sai về trình bày bài giải:

1

3,1 %

- Sai về cách thực hiện các phép tính trong bài giải:

1

3,1 %

- Sai về cách ghi các danh số đơn vị trong bài giải:

0

0%

Như vậy so với khi chưa áp dụng biện pháp rèn kỹ năng giải toán cho học sinh tôi


Từ những kết quả thống kê nêu trên, tôi thấy dạy giải toán có lời văn ở lớp 5 không
chỉ những giúp cho học sinh củng cố, vận dụng các kiến thức đã học, mà còn giúp cho các
em phát triển năng lực tư duy, óc sáng tạo, tính kiên trì trong học toán và vận dụng thực
hành vào thực tiễn trong cuộc sống.
4 Phạm vi áp dụng
Sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã áp dụng vào thực tế trong quá trình giảng day hàng
ngày tại lớp 5A Trường tiểu học TT Hương Sơn- huyện Phú Bình- Thái Nguyên do tôi chủ
nhiệm và thấy được hiệu quả đáng kể.


5 Kết quả, hiệu quả mang lại
6. Khả năng áp dụng của sáng kiến
Sau khi áp dụng các biện pháp đã nêu ở trên trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 4B
có hiệu quả. Tôi đã mạnh dạn chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp trong tổ 4 + 5 khi họp tổ
chuyên môn để cùng thảo luận và đều được các đồng chí trong tổ ủng hộ đồng thời cùng
triển khai áp dụng đối với các lớp trong khối 4 và đều có kết quả tốt. Bởi vậy các đồng
nghiệp trong khối đều đánh giá rằng: Sáng kiến kinh nghiệm của tôi rất phù hợp và sát thực
tế, có biện pháp đối với mọi đối tượng học sinh: Khá, giỏi, trung bình, mỗi đối tượng đều
có biện pháp riêng, thích hợp. Mặt khác các biện pháp đó rất đơn giản, dễ thực hiện đối với
mọi giáo viên, học sinh cũng như phụ huynh học sinh khi kèm con em của mình nên thiết
nghĩ rằng sáng kiến này của tôi có thể áp dụng và triển khai cho mọi đối tượng học sinh
trên toàn quốc.
PHẦN THỨ TƯ

KẾT LUẬN-ĐỀ XUẤT
I KẾT LUẬN
Hướng dẫn và giúp học sinh giải toán có lời văn nhằm giúp các em phát triển tư duy
trí tuệ, tư duy phân tích và tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, rèn luyện tốt phương
pháp suy luận lôgic. Bên cạnh đó, đây là là một dạng toán rất gần gũi với đời sống thực tế

khác nhau...
Giáo viên phải luôn luôn đổi mới phương pháp giạy bằng nhiều hình thức như: trò
chơi, đố vui...phù hợp với đối tượng học sinh của mình: “Lấy học sinh để hướng vào hoạt
động học, người thầy là người hướng dẫn tổ chức, học sinh nhận thức chủ động trong việc
giải toán”
Trong giảng dạy giáo vien cần chú ý phát triển tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp,
khả năng suy luận logic, giúp các em nắm chắc kiến thức cụ thể.Với bài toán có lời văn, đó
là cách giải và cách trình bầy lời giải, sử dụng tốt các phương pháp đã nêu ở trên.
Không dừng lại ở kết quả ban đầu (giải đúng bài toán) mà nên có yêu cầu cao hơn
với học sinh. Ví dụ: yêu cầu một học sinh ra một đề toán tương tự hoặc tìm nhiều lời giải
khác nhau...
Trong khi giải phải yêu cầu học sinh đặt câu hỏi: “Làm phép tính đó để làm gì?” Từ
đó có hướng giải đúng, chính xác.
Sau mỗi bài toán, học sinh phải biết xem xét lại kết quả của mình làm để giúp các
em tự tin hơn khi giải quyết một vấn đề nào đó.


Qua cách dạy đã nêu trên đây, so với các lớp học theo chỉ dẫn của sách giáo khoa và
sách giáo viên tôi nhận thấy học sinh dễ hiểu bài hơn, để áp dụng hơn. Qua kết quả học tập
của học sinh lớp tôi, các đồng nghiệp trong khối cũng nhận thấy cách hướng dẫn trên hay
và có hiệu quả.
Tôi xin chân thành cám ơn!
Cương Sơn, ngày 20 tháng 6 năm 2011
Người thực hiện

Nguyễn Văn Tiến

MỤC LỤC
NỘI DUNG



2. Phương pháp gợi mở - vấn đáp

8

3. Phương pháp thực hành và luyện tập

8

4. Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng

8

5. Phương pháp giảng giải minh họa

9

III. Một số biện pháp để nâng cao chất lượng giải toán
có lời văn ở lớp 5

9

Phần thứ ba: KẾT QUẢ ÁP DỤNG NĂM HỌC 2010-2011

17

Phần thứ tư: KẾT LUẬN-ĐỀ XUẤT

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status