skkn một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 - Pdf 56

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH
LỚP 4
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm:
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã
và đang chủ động hội nhập quốc tế, do đó việc hình thành và xây dựng một nền
kinh tế tri thức là một điều tất yếu. Chính vì thế, việc “Đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo” đã xác định rõ theo tinh thần Đại hội XI của Đảng. Mà giáo
dục Tiểu học là nền tảng đầu tiên để hướng tới đào tạo được đội ngũ người lao
động phù hợp với yêu cầu của đất nước hiện nay.
Trong đó môn Toán ở trường Tiểu học cũng không kém phần quan trọng so
với môn Tiếng Việt. Môn Toán giúp học sinh có những tri thức cơ sở, nền tảng về
toán học, rèn luyện khả năng tính toán, suy luận, đồng thời góp phần rèn luyện
các phẩm chất đạo đức ở mỗi học sinh. Đặc biệt, việc giải toán có lời văn có một
vị trí hết sức quan trọng, chiếm phần lớn thời lượng trong học toán của học sinh.
Các bài toán được sử dụng để gợi động cơ tìm hiểu kiến thức mới, giải toán được
sử dụng để củng cố, luyện tập kiến thức; giải toán giúp cho việc nâng cao năng
lực tư duy, phân tích, tổng hợp của học sinh. Ngoài ra giúp học sinh có được
những hiểu biết cần thiết khi tiếp xúc với những tình huống toán học trong cuộc
sống hằng ngày. Việc giải thành thạo các bài toán là một trong những tiêu chí để
đánh giá khả năng học toán của học sinh và mức độ hoàn thành chương trình học
theo chuẩn kiến thức kĩ năng bậc Tiểu học. Hơn nữa, nội dung giải toán ở bậc
Tiểu học có cấu trúc lôgíc tương đối chặt chẽ, có mối quan hệ với các nội dung
khác như: số học, đại lượng cơ bản, yếu tố đại số, yếu tố hình học. Các bài toán có
lời văn thường có nội dung tổng hợp nên để giải được học sinh cần nắm bắt được
các kiến thức cơ bản về số học, đo lường, hình học... nắm chắc các dạng toán theo
mức độ từ toán đơn đến toán hợp, toán điển hình đến toán nâng cao.
Trong chương trình sách giáo khoa các bài toán có lời văn thường là các bài
toán khó và nó yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức của cả bài học vào để
giải. Toán lời văn đa số là có nội dung liên quan đến thực tế vì vậy khi giải các bài

4 ở trường Tiểu học.
Năm học 2017 - 2018 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng
dạy lớp 4B. Thực tế qua thời gian giảng dạy tôi thấy có những thuận lợi và khó
khăn như sau:
1.1. Thuận lợi :
- Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của Phòng Giáo dục, chính
quyền địa phương, của hội cha mẹ học sinh.
- Ban giám hiệu nhà trường hết sức năng động, sáng tạo, nhạy bén, nhiệt
tình trong việc chỉ đạo dạy và học của giáo viên, học sinh để phù hợp với mô hình
trường Tiểu học mới hiện nay.
- Giáo viên nhiệt tình, năng nổ đưa hết khả năng, tâm huyết của mình để hỗ
trợ, giúp đỡ cho học sinh kịp thời.

2


- Đa số học sinh ham học và ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập. Các
em yêu thích đến trường.
1.2. Khó khăn :
a) Về giáo viên:
- Khi tổ chức hoạt động dạy học giáo viên chưa mạnh dạn, tự tin trong việc
đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới để phát huy được tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Còn lúng túng khi xử lí tình huống có
vấn đề trong quá trình dạy học giải các bài toán có lời văn cho học sinh lớp 4
bằng các phương pháp cho phù hợp với từng dạng toán nên hiệu quả giải toán có
lời văn chưa cao.
b) Về học sinh:
- Môn toán là môn học khó, học sinh dễ chán. Trình độ nhận thức học sinh
không đồng đều. Một số học sinh còn chậm, chưa mạnh dạn, chưa tự tin, kĩ năng
tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán thường

Điểm 9-10
SL
%
3
8,3

Điểm 7-8
SL
%
6
16,7

Điểm 5-6
Điểm dưới 5
SL
%
SL
%
14
38,9
13
36,1

Xuất phát từ thực trạng trên và tầm quan trọng của việc giải toán có lời văn
trong chương trình toán lớp 4, tôi đã tìm hiểu và tiến hành một số biện pháp giúp
học sinh lớp tôi giải toán có lời văn như sau.
2. Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học
sinh lớp 4.
2.1. Nắm vững vị trí, vai trò và nội dung của dạng toán có lời văn trong
chương trình Toán lớp 4.

đó mà giáo viên cần phải giúp cho học sinh nắm được thao tác chung trong quá
trình giải toán. Tôi đã hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước sau:
Bước 1: Học sinh đọc kỹ đề bài: Có đọc kỹ đề bài học sinh mới tập trung
suy nghĩ về ý nghĩa nội dung của bài toán và đặc biệt chú ý đến câu hỏi bài toán.
Tôi có rèn cho học sinh thói quen chưa hiểu đề toán thì chưa tìm cách giải. Khi
giải bài toán ít nhất đọc từ 2 đến 3 lần.
Bước 2: Học sinh phân tích tóm tắt đề toán.
Để biết bài toán cho biết gì? Hỏi gì? (tức là yêu cầu gì?)
Đây chính là trình bày lại một cách ngắn gọn, cô đọng phần đã cho và phần
phải tìm của bài toán để làm rõ nổi bật trọng tâm, thể hiện bản chất toán học của
bài toán, được thể hiện dưới dạng câu văn ngắn gọn hoặc dưới dạng các sơ đồ
đoạn thẳng.
Bước 3: Học sinh tìm cách giải bài toán: Thiết lập trình tự giải, lựa chọn
phép tính thích hợp.
Bước 4: Học sinh trình bày bài giải: Trình bày lời giải (nói - viết) phép tính
tương ứng, đáp số, kiểm tra lời giải (giải xong bài toán cần thử xem đáp số tìm
được có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các điều kiện của bài
toán không? (trong một số trường hợp nên thử xem có cách giải khác gọn hơn,
hay hơn không?
2.3. Nâng cao chất lượng giờ học:
Để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, say mê học tập môn Toán nói
chung và giải bài toán có lời văn nói riêng cho các em học sinh, giáo viên phải tự
tin và quyết tâm trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình
trường học mới hiện nay. Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập theo nhóm,
học sinh có sự tương tác hỗ trợ lẫn nhau trong học tập. Học sinh tự tìm tòi, khám
phá, chủ động trong các hoạt động học của mình. Thông qua thảo luận nhóm với

5



- Nhìn vào sơ đồ thấy: Giá trị của số bé gồm mấy phần? Giá trị của số lớn
gồm mấy phần như thế?
- Hiệu của 2 số là bao nhiêu?
- Muốn tìm số bé làm thế nào?
- Muốn tìm số lớn làm như thế nào?
+ Bước 4: Học sinh tự giải bài toán.

6


Bài giải
Hiệu số phần bằng nhau là:
5 - 3 = 2 ( Phần )
Số bé là:
40 : 2 x 3 = 60
Số lớn là:
60 + 40 = 100
Đáp số: Số bé: 60
Số lớn: 100
Thử lại: Tính hiệu của 2 số: 100 - 60 = 40 ( Đúng theo dữ liệu đầu bài )
Để có được giờ dạy giải toán theo phương pháp đổi mới đạt kết quả tốt,
phát huy được tính tích cực của học sinh thì giáo viên phải có sự chuẩn bị chu
đáo, giáo viên phải lường trước được chỗ học sinh hay vướng mắc trong khi thực
hành giải loại toán đó để lưu ý trong giảng dạy.
Ví dụ: Khi dạy dạng toán: "Bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai
số đó". Học sinh được học 2 tiết bài mới (đó là tiết 1: "Tỉ số ở dưới dạng số tự
nhiên", có nghĩa là so sánh giữa giá trị của số lớn với giá trị của số bé. Tiết 2: "Tỉ
số ở dưới dạng phân số"). Thì học sinh thường mắc ở dạng tỉ số là phân số nên
giáo viên dạy cần lưu ý nhấn mạnh để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Từ mối quan hệ tỉ
số là hai số trong bài giáo viên hướng dẫn học sinh tìm cách tóm tắt bài toán và

3

Ví dụ 3 : Khi dạy bài : Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.
Bài tập ứng dụng là: Mẹ cho em số bánh nhiều hơn số kẹo 12 cái. Tìm số
bánh, số kẹo mẹ cho, biết rằng số bánh bằng

7
số kẹo ?
4

Ngoài việc ra bài tập ứng dụng tôi còn cho các em đặt các đề toán tương tự
để củng cố từng dạng bài. Khi học sinh đặt được đề toán là các em đã hiểu được
các giải.
2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS:
Đây cũng là một bước rất quan trọng, nó giúp cho học sinh thấy được kết
quả học tập của mình, thông qua kiểm tra đánh giá nhằm giúp học sinh tự điều
chỉnh lại cách học tập của mình một cách hợp lý, đồng thời giáo viên cũng có biện
pháp hỗ trợ kịp thời để giúp cho học sinh nắm lại kiến thức một cách chắc chắn.
Khi giáo viên làm tốt công tác kiểm tra đánh giá thường xuyên về kết quả học tập
của học sinh để nắm bắt kịp thời việc vận dụng, rèn kỹ năng giải toán có lời văn
của học sinh cả lớp, từ đó phân loại học sinh theo các trình độ để tự điều chỉnh về
mục tiêu đối với từng bài dạy cụ thể cho phù hợp với các nhóm đối tượng học
sinh lớp phụ trách. Bên cạnh, công tác kiểm tra, đánh giá học sinh còn giúp cho
giáo viên tự điều chỉnh về hình thức tổ chức dạy học, điều chỉnh về phương pháp
dạy học sao cho kết quả các tiết học đạt được mục tiêu đã đề ra. Giáo viên luôn
quan tâm, giúp đỡ những em có kết quả học tập môn toán nói chung và giải toán
có lời văn đạt kết quả chưa cao để các em có hướng vươn lên. Mặt khác, để thực
hiện công tác kiểm tra đánh giá có hiệu quả, tôi luôn bám sát thông tư 22/ 2016
nhằm đánh giá học sinh một cách khách quan, có sự động viên kịp thời để học
sinh có sự phấn đấu, đồng thời để cho học sinh tự đánh giá lẫn nhau, giúp cho học

Bài giải:
Chiều dài hình chữ nhật là:
( 310 + 40) : 2 = 175 (m)
Chiều rộng hình chữ nhật là :
175 - 40 = 135 (m)
Đáp số : Chiều dài : 175 m
Chiều rộng : 135 m
Cách 2 :
Bài giải:
Chiều rộng hình chữ nhật là:
( 310 - 40 ) : 2 = 135 (m)
Chiều dài hình chữ nhật là :
135 + 40 = 175 (m)
Đáp số : Chiều dài : 175 m
Chiều rộng : 135 m
Ví dụ 3: Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi bằng 240m, chiều rộng
bằng

1
chiều dài. Tính diện tích mảnh vườn đó?
3

9


Với bài toán này học sinh làm việc cá nhân và thảo luận theo nhóm để tìm
ra phương án giải đúng theo các bước trên. Tôi trực tiếp đi từng nhóm theo dõi
giúp đỡ các nhóm còn gặp khó khăn và học sinh yếu để giúp cho các em có định
hướng đúng. Những câu hỏi tôi đặt ra cho học sinh này là những câu hỏi có nội
dung rõ ràng, dễ hiểu, chính xác, phù hợp với trình độ học sinh, liên quan đến nội


10


Điểm 9-10
SL
%
16
44,4

Điểm 7-8
SL
%
15
41,7

Điểm 5-6
Điểm dưới 5
SL
%
SL
%
5
13,9
0
0

III. PHẦN KẾT LUẬN
1.Ý nghĩa của sáng kiến:
Trong môn Toán ở bậc Tiểu học thì việc giải các bài toán có lời văn chiếm



quả. Từ đó sẽ đem lại chất lượng cao cho việc học tập môn Toán nói riêng và các
môn học khác nói chung.
Sáng kiến này được tôi thực hiện tại lớp tôi phụ trách giảng dạy và có thể
áp dụng cho tất cả các lớp trong việc giải toán có lời văn ở bậc Tiểu học.
2. Kiến nghị, đề xuất:
- Với nhà trường: Thường xuyên có những buổi sinh hoạt chuyên môn bàn
về cách dạy, cách học các dạng toán tiểu học, nhất là giải toán có lời văn để giáo
viên và học sinh có nhiều cơ hội tiếp xúc để được học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm
nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán nói chung và các dạng toán hay,
toán khó nói riêng.
- Với phụ huynh: Cần thường xuyên quan tâm đến việc học tập của con em
mình. Thường xuyên giữ mối liên hệ chặt chẽ với giáo viên để kịp thời uốn nắn
con em mình.
Vấn đề giải toán có lời văn là vấn đề rất rộng mà trong phạm vi hạn hẹp của
sáng kiến kinh nghiệm không thể nói hết được. Trên đây chỉ là một số kinh
nghiệm nhỏ mà trong quá trình giảng dạy bản thân đã rút ra được. Trong quá trình
viết sáng kiến chắc chắn còn nhiều hạn chế, tôi mong nhận được sự góp ý của Hội
đồng khoa học nhà trường và của đồng nghiệp để sáng kiến của tôi sát thực tế hơn
và có giá trị trong việc dạy học giải toán có lời văn ở lớp 4.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status