skkn một số biện pháp trong công tác chủ nhiệm lớp - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
“Một số biện pháp trong công tác chủ nhiệm lớp 3”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Xây dựng nề nếp lớp. Tổ chức một số hình
thức thi đua khen thưởng cho học sinh lớp 3 trong công tác chủ nhiệm.
3. Tác giả:
Họ và tên: Dương Thúy Nga

Nam ( Nữ ): Nữ

Ngày tháng/ năm sinh: 19-11-1974
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
Chức vụ, đơn vị công tác: Tổ trưởng chuyên môn tổ 2+3, trường Tiểu học
Cộng Hòa.
Điện thoại: 0984.852.003
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Cộng Hòa.
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Lớp 3A, Trường Tiểu học Cộng Hòa.
Địa chỉ: : KDC Chúc Thôn – Phường Cộng Hòa – Thị xã Chí Linh – Tỉnh
Hải Dương
Điện thoại: 03203882666
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Phạm vi kiến thức:
Đối tượng áp dụng: Giáo viên giảng dạy ở lớp 3, 4,5; Học sinh lớp 3, 4, 5.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2012-2013
TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG

(Ký ghi rõ họ tên)

SÁNG KIẾN

từng tuần, tháng và các đợt kiểm tra định kỳ. Bắt đầu thực hiện từ năm học
2012-2013 đến nay, các lớp học sinh do tôi chủ nhiệm đều có nề nếp rất tốt,
chất lượng giáo dục luôn dẫn đầu trong khối lớp. Nhiều bạn bè đồng nghiệp
cũng áp dụng kinh nghiệm này và đã thấy được hiệu quả rõ rệt.

-2-


Với mong muốn được trao đổi, học hỏi thêm để hoàn thiện hơn về nội
dung, biện pháp nên tôi mạnh dạn nêu ra :
"Một số biện pháp trong công tác chủ nhiệm lớp 3”.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến:
- Điều kiện: Kinh nghiệm dành cho giáo viên làm công tác chủ nhiệm ở bậc
Tiểu học, có lòng yêu nghề, tận tình với học sinh.
- Thời gian: Áp dụng kinh nghiệm có thể ngay tuần đầu tiên của năm học.
- Đối tượng áp dụng sáng kiến: Giáo viên chủ nhiệm có thể áp dụng cho
học sinh của lớp mình từ lớp 3, 4, 5.
3. Nội dung sáng kiến:
- Tính mới của sáng kiến:
+ Áp dụng hình thức tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới VNEN.
Xây dựng nề nếp lớp, hưởng ứng phong trào thi đua Xây dựng trường học thân
thiện học sinh tích cực, rèn kỹ năng sống cho học sinh.
+ Xây dựng hình thức thi đua, sử dụng quỹ khen thưởng có hiệu quả.
- Khả năng áp dụng của sáng kiến: Có thể áp dụng thường xuyên và rộng
rãi đối với tất cả các đối tượng học sinh từ lớp 3 đến lớp 5.
- Lợi ích thiết thực của sáng kiến: Xây dựng nề nếp lớp dưới hình thức tự
quản của học sinh và hình thức khen thưởng, là nguồn động lực thúc đẩy việc
nâng cao chất lượng giáo dục. Cụ thể ở các lớp 3 do tôi chủ nhiệm nhiều nhiều
năm nay, chất lượng luôn dẫn đầu trong toàn khối nói riêng và trong nhà trường
nói chung.

chức hình thức thi đua,khen thưởng cho học sinh ngay trên lớp trong từng tuần,
tháng và các đợt khảo sát, kiểm tra định kỳ. Bắt đầu thực hiện từ năm học
2012-2013 đến nay, các lớp học sinh do tôi chủ nhiệm đều có nề nếp rất tốt,
chất lượng giáo dục luôn dẫn đầu trong khối lớp. Nhiều bạn bè đồng nghiệp
cũng áp dụng kinh nghiệm này và đã thấy được hiệu quả rõ rệt.
Với mong muốn được trao đổi, học hỏi thêm để hoàn thiện hơn về nội
dung, biện pháp nên tôi mạnh dạn nêu ra :
"Một số biện pháp trong công tác chủ nhiệm lớp 3”.
2. Cơ sở lý luận

-4-


Trước hết, giáo viên tiểu học cần hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý, khả năng
tự học của trẻ, từ đó mới có thể tìm ra những biện pháp thi đua nâng cao tính tự
giác cho học sinh một cách phù hợp.
2.1. Hoạt động của học sinh tiểu học:
- Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến
tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất: chuyển từ
hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt động
học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:
+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật
sang các trò chơi vận động.
+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản
thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,...Ngoài ra, trẻ còn
còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng
hoa,...
+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của
trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,...
2.2. Những thay đổi kèm theo:

2.4. Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học:
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn
liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,...Lúc này khả năng kiềm chế
cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ
thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư... Vì thế có thể nói
tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi.
Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà giáo
dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình
ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm

-6-


cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình
huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,...
2.5. Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học:
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những
đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và
hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng,
tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng;
nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất
của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng
sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang
hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều,
với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt
vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát
triển của mình.
Hiểu được những điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo tuyệt đối không
được "chụp mũ" nhân cách của trẻ, trái lại phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng
mang tính gợi mở và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân

với việc giảng dạy tốt các môn học theo qui định, tôi luôn cố gắng phấn đấu
làm tốt vai trò, nhiệm vụ của một giáo viên chủ nhiệm lớp.
Điều quan trọng hơn nữa là tôi công tác trong một ngôi trường nhiều năm
liền đạt danh hiệu Xuất sắc, đây là niềm tự hào của bản thân tôi và mỗi giáo
viên đang giảng dạy tại trường. Những thành tích đã được xây dựng bằng sự nỗ
lực phấn đấu không ngừng , bằng sức mạnh của tinh thần đoàn kết trong tập thể
BGH cùng toàn thể cán bộ giáo viên trong nhà trường, bằng việc thực hiện
công tác thi đua khen thưởng kịp thời những giáo viên và học sinh có thành tích
xuất sắc trong học tập cũng như trong các hoạt động phong trào khác của nhà
trường. Đây là nguồn động viên rất lớn để thầy và trò cùng phấn đấu để tiếp tục
đạt được nhiều thành tích hơn nữa.
Trong nhà trường, 100% các lớp học đã có hình thức thi đua và khen
thưởng. Song hầu hết việc theo dõi thi đua ở lớp 3 đều do giáo viên chủ nhiệm
-8-


trực tiếp làm. Bởi đa số giáo viên đều đánh giá năng lực tự quản của lứa tuổi
học sinh lớp 3 là chưa tốt nên chưa thể tin tưởng giao việc cho các em. Giáo
viên chủ nhiệm lại không thể dành quá nhiều thời gian cho việc theo dõi, tổng
hợp thi đua của lớp mình hàng ngày, hàng tuần. Bởi vậy, hình thức thi đua khen
thưởng chỉ thực hiện được ở 2 đợt cuối học kỳ I và cuối năm học.
Với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Tiểu học nói chung và học sinh
lớp 3 nói riêng, việc được tự mình theo dõi thi đua, được tuyên dương khen
thường hàng tuần, hàng tháng, thường xuyên và liên tục đem lại sự động viên
rất lớn, khích lệ các em luôn cố gắng phấn đấu trong mọi hoạt động ở trường
lớp.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã mạnh dạn tiến hành việc áp dụng một số
biện pháp cho tập thể lớp mình chủ nhiệm, trong đó có xây dựng nề nếp lớp và
tổ chức hình thức thi đua khen thưởng nhằm thúc đẩy sự cố gắng nỗ lực của
từng học sinh trong các hoạt động giáo dục. Xây dựng nề nếp cho lớp, góp

mình
- Nhiều học sinh có ý thức học tập tốt, nhiệt tình, năng động, …
- Lớp tôi học 2 buổi/ ngày nên thời gian để tôi và các em ở bên cạnh nhau
rất nhiều. Ngoài những giờ học tập chính, tôi luôn có nhiều điều kiện để quan
sát các em giao tiếp với bạn bè, vui chơi, hoạt động ngoại khoá, tham gia phong
trào, .... Thông qua những việc làm cụ thể, tôi có thể nắm được tâm tư, tình cảm
và nguyện vọng của các em và có những điều chỉnh những hành vi không đúng
của các em một cách kịp thời, triệt để.
* Khó khăn.
-10-


- Lớp có đủ các đối tượng học sinh với các trình độ, do khả năng nhận thức
của học sinh không đồng đều nên khoảng cách về kiến thức của các em là
tương đối lớn.
- Một số học sinh còn lười học, chưa tích cực học bài và làm bài ở lớp cũng
như ở nhà.
- Số học sinh nam rất hiếu động, nghịch ngợm.
- Hầu hết gia đình các em bố mẹ đều chỉ có từ 1 đến 2 con nên một số cha
mẹ học sinh chỉ quan tâm, chiều chuộng con về điều kiện vật chất, lo lắng bao
bọc cho các em quá kỹ dẫn đến tình trạng nhiều học sinh còn nhút nhát, chưa
có những kỹ năng sống cần thiết đến thời điểm mà các em cần phải có. Nhiều
phụ huynh chưa quan tâm đến việc kèm cặp con học tập, giao phó hết cho giáo
viên và nhà trường.
Từ những đặc điểm trên, ở những ngày đầu của năm học, học sinh lớp tôi
có tình trạng sau:
+ Một số em liên tục quên sách vở, đồ dùng học tập ở nhà: Do buổi tối
không chuẩn bị bài ở nhà hoặc do không tự mình soạn sách vở.
+ Nhiều học sinh không giơ tay phát biểu trước lớp, mặc dù biết câu trả lời:
Trong giờ học, nhiều em biết câu trả lời đúng nhưng còn ngại ngùng hoặc tâm

Địa chỉ thường trú: khu dân cư.................................Phường/ xã ...........................
Điện thoại nhà: ..................................
Người nuôi dưỡng em là ....................Em là con thứ ..... trong số....... anh chị em
Họ và tên bố: ................................................. Nghề nghiệp: ....................................
Số điện thoại di động: ...................................Đang ở cùng với ...................................
Họ và tên mẹ: ................................................Nghề nghiệp: ......................................
Số điện thoại di động: ...................................Đang ở cùng với ..................................
Em có phòng riêng hay ở chung phòng với ai?............................................................
Em có bàn học riêng hay dùng chung với ai? ............................................................
Em thường làm gì vào những ngày cuối tuần? ...........................................................
CHỮ KÝ CỦA BỐ
CHỮ KÝ CỦA MẸ

Thông qua bản sơ yếu lí lịch, tôi có thể hiểu rõ phần nào hoàn cảnh gia
đình, môi trường sống của em, mức độ quan tâm của gia đình dành cho em. Từ
đó, có sự quan tâm sát sao, uốn nắn kịp thời.
- Khi học sinh nộp đủ phiếu, GVCN tổng hợp vào sổ theo dõi của mình,
nhớ và nắm rõ hoàn cảnh của từng học sinh.

-12-


Trên cơ sở những thông tin này, trước các hành vi ứng xử của học sinh,
GVCN sẽ đưa ra được biện pháp xử lý, giáo dục học sinh phù hợp, có thái độ,
lời nói đúng mực cũng như có thể động viên các em kịp thời.
4.1.1. Xây dựng nề nếp lớp:
* Nề nếp học tập:
Ngoài các nề nếp nội quy chung của nhà trường mà học sinh đều phải thực
hiện, GVCN xây dựng riêng cho lớp nề nếp học tập hàng ngày trên lớp như :
- Đi học đúng giờ, nghỉ học phải có lý do chính đáng và có xin phép.

phiền lòng - phản ánh những khuyết điểm của mình ở nhà tới cô giáo.
4.1.2. Bầu Hội đồng tự quản của lớp theo mô hình VNEN:
GVCN cần phải tìm hiểu năng lực lãnh đạo, uy tín của đội ngũ cán bộ lớp
cũ (năm lớp 2) các bạn trong lớp để có thể tín nhiệm lại đội ngũ cán bộ lớp.
- GVCN tiến hành chọn lựa, cho lớp đề cử và bầu chọn ra chủ tịch, phó
chủ tịch và các trưởng ban. Học sinh mà giáo viên chọn lựa phải có lực học
giỏi, nhanh nhẹn và hoạt bát, có uy tín và phải được sự ủng hộ (bỏ phiếu tín
nhiệm) của đa số học sinh trong lớp.
4.1.3.Tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp:
- Tích cực tổ chức, tạo ra cho học sinh các hoạt động phong phú, hấp dẫn
và bổ ích, hưởng ứng phong trào thi đua: Xây dựng trường học thân thiện học
sinh tích cực; rèn cho học sinh các kỹ năng sống.
+Tổ chức các trò chơi học tập như: các câu hỏi giao lưu trong giờ học, các
câu đố vui, các chương trình thi kiến thức tổng hợp về Toán, Tiếng Việt, Tự
nhiên xã hội và hiểu biết về cuộc sống xung quanh dưới hình thức rung chuông
vàng.
+Tổ chức các trò chơi dân gian, cho học sinh tham gia vào các tiết Thể
dục, giờ ra chơi, giờ hoạt động tập thể.
+Hưởng ứng tham gia các cuộc thi do nhà trường tổ chức như: thi Tiếng
hát dân ca, thi nhảy dây, thi trang trí lớp học thân thiện, lớp học xanh-sạchđẹp……
+ Kết hợp với Hội cha mẹ học sinh tổ chức các buổi hoạt động ngoại khóa
tham quan một số các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử dịa phương như:
Khu di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc; Đền thờ Thầy giáo Chu Văn An; Sân gôn Ngôi

-14-


Sao Chí Linh; Văn Miếu Mao Điền, Văn Miếu Quốc Tử Giám; Khu du lịch Hồ
Núi Cốc
Ngoài giờ học, việc các em tự quản, theo dõi các nề nếp học tập của mình

Thiếu

học-

đd

đi học

sách

muộn

vở

1

2

-

Không

Bị

Bị

học bài-

điểm


20

* NỘI DUNG, CÁCH THEO DÕI THI ĐUA :
-15-

Điểm
10-cô
khen

8

Điểm

Điểm

Xếp

tốt

đạt

thứ

(9)

10

11

70

- Sau mỗi đợt KTĐK, GV tổng kết điểm cả 2 môn Toán và Tiếng Việt,
sau đã xếp theo thứ tự, ghi nhận trong sổ chủ nhiệm và cũng thưởng 15 học
sinh. (xếp thứ tự từ 1 đến 15)

* XÂY DỰNG QUỸ KHEN THƯỞNG CỦA LỚP:

-16-


1. Xây dựng quỹ :
- Ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm học - GVCN đã đưa ra nội dung
thi đua và hình thức khen thưởng cho học sinh của lớp. Phát động phụ huynh
học sinh ủng hộ cho quỹ khen thưởng chứ không đóng góp ( không phải là quỹ
lớp).
- Phần thưởng dành cho mỗi học sinh tuy nhỏ nhưng rất thiết thực trong
hoạt động học tập của các em. Đó là : bút chì, thước kẻ, tẩy, giấy màu thủ
công, gọt bút chì… là những đồ dựng học tập các em vẫn sử dụng rất nhiều
hàng ngày.
- Từ việc lập kế hoạch cụ thể, tôi đã trao đổi với phụ huynh học sinh tính
toán số tiền cần và đủ để có thể khen thưởng từng tuần cho học sinh
- Qua nội dung trao đổi của GV, toàn bộ phụ huynh học sinh của lớp đều
nhất trí ủng hộ quỹ khen thưởng. 100% phụ huynh ủng hộ cho quỹ.
2. Sử dụng quỹ:
- Quỹ khen thưởng do Trưởng ban đại diện cha mẹ học sinh quản lý và
chi. Ngay từ những ngày đầu năm học, phụ huynh đã mua các phần thưởng là
đồ dùng học tập (đã nêu ở trên) và giao cho GVCN.
- GVCN để số phần thưởng vào tủ lớp, khóa lại và trao chìa khóa cho Chủ
tich hội đồng tự quản trước sự chứng kiến của cả lớp.
- Đến giờ sinh hoạt lớp cuối tuần, sau khi đã tổng kết thi đua, chọn ra
được 10 học sinh xứng đáng, lớp trưởng lấy phần thưởng và GV trao tận tay

tác khen thưởng chính là phụ huynh học sinh.
- GVCN cho lớp tự quản nhưng phải luôn luôn đồng hành cùng các em,
nhanh chóng nắm bắt tình hình lớp để giải quyết những vấn đề vượt khỏi phạm
vi của các em. Việc đồng hành cùng các em cũng làm cho học sinh cảm thấy an
tâm vì thầy cô luôn ở bên – các em sẽ tự tin hơn trong mọi hoạt động…
a. Về học tập :
Tình trạng học sinh bỏ bài, không làm bài tập đã chấm dứt hẳn.
Các em rất chăm chỉ học bài và làm bài, hăng hái phát biểu trong giờ học
bởi đây là cơ hội để các em ghi được điểm cho bảng thành tích của mình.

-18-


Học sinh có nề nếp tự học ở nhà cũng như ở lớp, các em biết nhắc nhở
giúp nhau cùng tiến bộ.
Một số em đầu năm lực học còn yếu nên cũng rụt rè, mặc cảm trong mọi
hoạt động, đến nay nhờ sự động viên khen thưởng kịp thời, hầu hết các em đã
giành được phần thưởng và từ đã các em tiến bộ rõ rệt.
Học sinh có ý thức tự chủ, tự quản cao, các kỹ năng sống cơ bản và cần
thiết được rèn luyện và phát huy rất tốt trong môi trường tập thể lớp học nói
riêng và nhà trường nói chung.
Kết quả học tập và các phong trào khác của lớp luôn dẫn đầu trong toàn
khối, toàn trường.
a.Chất lượng: Trong đợt Kiểm tra cuối Học kỳ I vừa rồi,lớp 3A do tôi chủ
nhiệm đạt kết quả cao nhất khối 3:

KT

Môn



%

10
9
18
31

29,4
26,6
52,9
91,2

16
15
15
5

47,1
44,1
44,1
14,7

6
5
1
0

17,6
14,7

thưởng cao nhất.

Năm

Các hội thi

học

Viết chữ đẹp
An toàn giao thông
Aerobic
4 học sinh tham gia cấp 1 học sinh đạt giải 2 học sinh tham gia

11-12 Thị xã:
1 học sinh đạt giải Nhất
2 học sinh đạt giải Nhì

Năm cấp Quốc gia
cấp Thị xã
2 học sinh đạt giải đạt giải KK
KK cấp Quốc gia

4 học sinh tham gia cấp 2
12-13 Thị xã (ngày 21/3/2013):
2 em đạt Giải Nhất

học sinh đạt giải 2 học sinh tham gia

KK cấp Quốc gia


Sau một thời gian thực hiện và áp dụng SKKN này tôi đã thực hiện các giải
pháp và thấy rằng: “Vai trò giáo viên chủ nhiệm lớp vô cùng quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh”:
+ Muốn làm tốt được vai trò của mình đòi hỏi GVCN lớp phải là người có
uy tín, có năng lực thực sự để chỉ đạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, đề
xuất được các vấn đề giá trị, tập hợp được sức mạnh tổng hợp, tạo nên sự thành
công hay thất bại ở mỗi học sinh, mỗi lớp học, trường học…
+ Giáo viên chủ nhiệm phải không ngừng tự hoàn thiện bản thân về mọi
mặt, là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.

3. Khuyến nghị:
a. Với giáo viên:

-21-


- Thường xuyên trao học hỏi bạn bè đồng nghiệp về những kinh nghiệm
hay trong công tác chủ nhiệm. Tích cực tham gia các chuyên đề hội thảo trao
đổi về công tác chủ nhiệm tốt cho giáo viên trong trường.
- Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, kết hợp tốt với phụ huynh học
sinh, làm cho phụ huynh thấy rõ được tầm quan trọng của việc thúc đẩy, động
viên giáo dục con em mình, cộng đồng trách nhiệm với giáo viên chủ nhiệm và
nhà trường, ủng hộ tích cực cho mọi phong trào thi đua của lớp học nói riêng
và của nhà trường nói chung.
- Mạnh dạn đề ra và thực hiện những biện pháp, những cách làm mới để
xây dựng nề nếp lớp học thật tốt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
cho học sinh trong nhà trường.
b. Với tổ chuyên môn:
- Tổ chức các hội thảo chuyên đề về công tác chủ nhiệm lớp, cách xây
dựng nề nếp học sinh tốt, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao trình độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status