skkn tìm hiểu màu sắc đường nét trong tranh đông hồ và hàng trống áp dụng các bài vẽ tranh đề tài THCS - Pdf 37

PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Tìm hiểu đường nét và mầu sắc trong tranh đông hồ và
tranh Hàng Trống vào dạy các bài vẽ tranh đề tài ở cấp thcs
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Khối 6,7,8,9( Phân mônvẽ tranh)
3. Tác giả:
Họ và tên: Đoàn Thị Thắm ………………………….
Nam (Nữ): Nữ
Ngày/tháng/năm sinh: 20/ 01/ 1972
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng sư phạm họa
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên -Tổ Khoa học tự nhiên
Trường THCS Chí Minh……………….., Chí Linh, Hải Dương.
Điện thoại 0986430319
4. Đồng tác giả: Không
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường THCS Chí Minh
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường THCS Chí Minh……………,
Chí Linh, Hải Dương; Điện thoại: 03203585548
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
+ Môi trường giáo dục gồm: Giáo viên, học sinh, và các cơ sở vật chất của
trường học.
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2014 - 2015

HỌ TÊN TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

ĐOÀN THỊ THẮM

1


- Hướng dẫn cách làm thí nghiệm vui, biết quan sát các hiện tượng thí nghiệm
từ đó tự đưa ra các giả thiết, các tình huống giải thích hiện tượng.
- Học sinh được tiếp cận trực tiếp với một số đề tài mới mẻ mà trong quá trình
học trên lớp các em chưa biết đến mà đôi khi chỉ được nghe giáo viên mô tả bằng
lời hoặc qua tranh vẽ.
* Khả năng áp dụng của sáng kiến:
- Sáng kiến được giáo viên dạy mỹ thuật sử dụng trong nhà trường vào các
buổi ngoại khóa theo kế hoạch chuyên môn nhà trường.
2


- Sáng kiến được học sinh vận dụng trong các bài tập thực nghiệm, trong đời
sống hàng ngày.
* Lợi ích thiết thực của sáng kiến:
- Giúp GV có thể tổ chức các buổi ngoại khóa được sinh động và đơn giản
hơn. Từ đó dạy các bài thực nghiệm được dễ dàng hơn.
- Giúp HS phát triển tư duy, sáng tạo, kĩ năng thực hành tốt đặc biệt có kĩ
năng sống tốt hơn.
4. Khẳng định giá trị, lợi ích thiết thực của sáng kiến:
Sáng kiến này tôi đã áp dụng và thấy có tính khả thi cao, chất lượng môn mỹ
thuật ở các khối lớp được nâng lên rõ rệt, học sinh không còn ngại khi học môn mỹ
thuật, trong các bài thực hành, bài kiểm tra phần thực nghiệm các em tự tin, yêu
thích môn học hơn và không coi là môn học phụ. Vì vậy, sáng kiến này có thể là
tài liệu tham khảo giúp các đồng chí giáo viên dạy mỹ thuật trong trường THCS
5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến.
Là một giáo viên dạy mỹ thuật trường THCS nhiều năm và đã thực hiện
sáng kiến. Tôi xin đề xuất một vài ý kiến nhỏ:
- Các nhà trường cần quan tâm đến bộ môn mỹ thuật bằng cách: ngay từ đầu
năm học cần xây dựng kế hoạch tổ chức các buổi ngoại khóa hay các buổi sinh
hoạt tập thể về môn mỹ thuật

1.2.cơ sở lý luận của vấn đề
Nghệ thuật là gì nếu như không phải là cái đẹp, cái thẩm mỹ, cái đem đến
cho con người ta niềm vui, sự đam mê, niềm phấn khởi và sự rung động trước cái
đẹp của cuộc sống. Cuộc sống con người luôn gắn liền với nghệ thuật. Con người
biết yêu cái đẹp và nghệ thuật lại có tác động trở lại với cuộc sống của con người.
Nó giúp con người thêm lạc quan yêu đời yêu quê hương đất nước và gắn bó con
người với nhau trong cộng đồng.
Nghệ thuật thật kỳ diệu, chức năng của nghệ thuật thật lớn lao. Ngoài những
chức năng cơ bản, nghệ thuật còn đem lại tình cảm, ước vọng, sự huyền diệu cho
con người. Nó làm cân bằng trạng thái tâm lý để luôn giữ thế quân bình cho con
người. Nghệ thuật đem lại niềm vui bất tận, làm cho con người gần nhau hơn, hiểu
nhau hơn. xong cái quan trọng hơn cả là nghệ thuật tác động tới con người để cho
4


con người càng hoàn thiện. Càng “người hơn” “con người viết hoa” theo đúng
nghĩa của nó..
Với phương châm “Học vui,vui học”Chương trình mĩ thuật ở Trường THCS
có nhiều nội dung đa dạng, phong phú với các phân môn như: vẽ theo mẫu, vẽ
tranh, vẽ trang trí và thường thức mĩ thuật, qua đó mang lại cho các em nhiều
niềm vui và sự hứng thú đối với môn học. Riêng phân môn vẽ tranh, GV cần cho
HS biết rằng: vẽ tranh rất trìu tượng, không phải là chỉ vẽ mấy hình lên trang giấy
mà phải biết sắp xếp các đường nét mầu sắc hình vẽ,bố cục sao cho phù hơp,nói
lên được nội dung của bức tranh. Qua những bài vẽ tranh đồng thời cũng giáo dục
thẩm mĩ và giúp các em phát huy khả năng sáng tạo mỹ thuật của mình.
Ở trường THCS, mĩ thuật không thể đạt được mục tiêu đào tạo các em trở
thành họa sĩ như ở trường mĩ thuật chuyên nghiệp , bởi vì thời lượng quá ít và đối
tượng học sinh là đại trà. Vì vậy, là những giáo viên trực tiếp đứng lớp, để thực
hiện được mục tiêu là “ Giáo dục văn hóa thẩm mĩ” ở Trường THCS chúng ta phải
tổ chức như thế nào để cho các em có hứng thú và tiếp thu nhanh bàivẽ tranh, nắm

Cũng có thể biểu diễn xen kẽ với các tiết mục văn nghệ trong các dạ hội.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Đọc và nghiên cứu tài liệu tham khảo
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu lí luận, thực tiễn.
- Thực hành trên các buổi ngoại khóa trong nhà trường
- Thăm dò ý kiến giáo viên, học sinh sau khi dạy thực hành.
2. Cơ sở lý luận của vấn đề:
2.1. Mục tiêu của chương trình mỹ thuật THCS:
2.1.1. Kiến thức:
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức vè môn mỹ thuật , bắt đầu được làm
quen và tiếp cận với một số thể loại tranh đề tài.
- Cung cấp cho học sinh các hiểu biết đơn giản để có thể giải quyết các tình
huống xảy ra khi gặp trong đời sống và ngoài xã hội.
2.1.2. Kĩ năng:
- Hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng “học đi đôi với hành” ; “lí
thuyết phải gắn liền với thực tế”
- Thông qua việc dạy và học mỹ thuật, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy
cơ bản ( Phân tích, tổng hợp, khái quát và hệ thống...) và góp phần nâng cao phẩm
chất tư duy, năng lực nhận thức.
- Học sinh vận dụng được những kiến thức, kĩ năng đã biết của mình để giải
thích một số hiện tượng nào đó, một việc làm nào đó trong đời sống, trong sản
xuất. Biết vận dụng những hiểu biết của mình để thực hành một số đề tài đơn giản
ở trong và ngoài nhà trường.
2.1.3. Thái độ:
- Hướng cho học sinh có thái độ yêu thích cái đẹp, muốn khám phá cái đẹp.
- Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2.2. Mục tiêu của môn mỹ thuật : “Sử dụng thực hành vẽ tranh đề tài trong
hoạt động dạy học nhằm phát huy khả năng tư duy, sáng tạo trong học sinh”.
- Kiến thức: Cung cấp cho các em một số kỹ năng đơn giản, dễ làm dễ quan

bài ở nhà trước khi lên lớp. Các tiết thực hành còn ít, các tiết tìm hiểu thực tế chưa
được xây dựng trong phân phối chương trình, hầu như học sinh chỉ được biết qua
lời kể của giáo viên, hay xem tranh....lên kiến thức thực tế của các em còn hạn chế.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện:
Để khắc phục những khó khăn trên tôi mạnh dạn nghiên cứu tìm tòi, xây
dựng và tổ chức buổi học ngoại khóa hóa học nhằm tạo cho học sinh có một sân
chơi bổ ích “ học mà chơi..., chơi mà học”, đáp ứng được nhu cầu, sự hiểu biết của
học sinh.
Muốn thực hiện các bài vẽ tranh thành công giáo viên phải thực hiện đầy đủ
các bước sau:
4.1. Điều kiện:
Để thực hiện các bài vẽ tranh đạt hiệu quả cao trong học tập và nâng cao sự
hiểu biết về bộ môn trước khi thực hiện giáo viên phải biết lựa chọn những phương
pháp như sau:
- Cho học sinh quan sát
- Hướng dẫn học sinh cách tìm hình, màu sắc đường nét
Nghiên cứu tài liệu và tham khỏa các thể loại tranh dân gian như tranh Đông
Hồ và tranh Hàng Trống.
4.2. Chuẩn bị:
- Giáo viên phải nắm chắc kiến thức trước khi lên lớp.
- Nghiên cứu tài liệu liên quan đến bài học.
- Đồ dùng giảng dạy phải đầy đủ...
7


5: Nội Dung nghiªn cøu:tìm hiểu đường net và mầu sắc trong tranh đông
hồ và tranh hàng trống
A.Đường nét.
Ngay từ khi mới xuất hiện ,ngôn ngữ đầu tiên của loài người chính là các nét
vẽ. Từ chỗ các nét vẽ đơn giản, nguệch ngoạc dần dần con người đã biết sử dụng

8


Để tìm hiểu sâu sắc về đường nét và màu sắc trong tranh Đông Hồ, tôi đi tập
lùng nghiên cứu một số bức tranh tiêu biểu.
Với dòng tranh này, tôi thấy có mấy loại in màu nền khác nhau; màu đỏ,
màu vàng, màu trắng…và mỗi một màu nền, các nghệ nbhân lại sử dụng nó với
một ý nghĩa khác nhau.
Màu đỏ là màu ấm nóng, tưng bừng náo nhiệt, là màu đỏ của niềm tin, hy
vọng, màu của khát vọng hạnh phúc…
* Trong tranh “gà mái” màu nền là màu đỏ vang rực rỡ, tươi sáng nhưng lại
không quá chói. Nhìn tổng thể màu sắc đơn giản, thuận mắt bởi toàn bộ nền được
quét một lớp màu đỏ vang nhưng mảng đặc là những chú gà lại sử dụng những
mảng màu đậm, nó làm dịu bớt sự rực rỡ của màu nền, làm cân bằng màu sắc trong
tranh. Màu sắc sử dụng rất ít, chỉ có 3 màu: Màu xanh lục, màu đỏ và một ít màu
trắng điệp ở bụng gà mái và điểm một chú gà con tạo điểm sáng, điểm nhấn cho
tranh. Trong mảng màu trắng điệp ấy còn có sự ảnh hưởng qua lại về màu sắc của
màu đỏ nền… (Hình 1).

Hình1: Gà mái (Tranh Đông Hồ)
Một kỹ thuật tái hình trong màu sắc là sự lơi màu mà các nghệ nhân sử dụng
khi vẽ màu ở một số chỗ trong tranh không kín mà có chỗ bông xốp tạo cảm giác
thoáng đãng. Quét nền màu đỏ nhưng khi in màu xanh chồng nên ta vẫn thấy mày
đỏ của nền qua kẽ hở của màu xanh vừa in.
Đường nét trong thể loại tranh này là không thể thiếu được. Những màu trên
tranh được chững lại bằng những nét đen to, mập mạp giúp cho hình khối vững
9


chắc. Mỗi chú gà là một dáng vẻ khác nhau và khoanh xung quanh các màu là

chủ đạo của tranh Đông Hồ.
Về đường nét vẫn là những đường nét to mập chắc khoẻ, đơn giản không
cầu kỳ thể hiện được tính cách của nhân dân trong xã hội xưa. Như tranh “Đám
cưới Chuột” (hình 5) những đường cong trên thân từng con chuột được dẫn ra
không lắt nhắt, đứt quãng loăn xoăn như đường nét của con mèo.

Hình 5: Đám cưới chuột
Sự diễn tả đường nét thể hiện được rất rõ tâm trạng tính cách của nhân vật.
Con chuột đang khép nép “sợ sệt trước cái dáng sừng sững của con mèo. Đường
nét con mèo vặn vẹo, đứt đoạn….thể hiện sự dữ tợn, đường nét ở con chuột dài thể
hiện tâm trạng chung là rất sự hãi trước sự gầm gừ của con mèo.

11


Hình 6: Hứng dừa
Với tranh “Lợn đàn” (hình 7) miêu tả một con lợn mẹ và năm chú lợn con
mũm mĩm. Cả bức tranh nổi bật lên là kỹ thuật chồng màu rất công phu của các
nghệ nhận. Trên nền trắng lần lượt các nghệ nhân in ván khắc màu hồng, ván khắc
màu nâu sau đó đến màu xanh lục ở trên hình con lợn nái.

Hình 7: Lợn đàn
12


Nếu không có các đường nét đen in để định hình thì giữa nền và vật đã bị
nhoà hẳn vào nhau rồi. Ngoài những màu quen thuộc: nâu đỏ, xanh lục, vàng cam
với hình này bằng kỹ thuật chồng màu, các nghệ nhân đã tạo được hiệu quả màu
sắc, tạo ra sắc khác trên cơ sở từ những màu quen thuộc đó. Như chú lợn con ở
giữa tranh màu xanh lục đã ngả sang màu xanh lá cây già bởi ban đầu in màu cam

Với ba màu nền: Đỏ vang, vàng, trắng điệp ở từng bức tranh cùng với các
màu như màu đen, màu nâu đỏ, xanh chàm, vàng ấm với kỹ thuật pha trộn màu,
cách in chồng màu cụng phu đó tạo ra những bảng màu tự nhiên đậm đà, tươi sỏng.
Mảng tranh Đông Hồ với màu sắc đơn giản tự nhiên, tươi sáng, đậm đà chất
dân gian với đường nột to mập, chắc khoẻ làm vững chói hỡnh đó thể hiện được
tớnh cỏch của những người nụng dõn lao động Việt Nam cần cự, chịu khú, ăn chắc
mặc bền.
*TRANH HÀNG TRỐNG
So với dạng tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống cú rất nhiều những điểm
riờng biệt gúp phần vào sự đa dạng và phong phú cho các dạng tranh dân gian Việt
Nam.
Với những vựng sản xuất khác nhau, đối tượng phục vụ tranh khác nhau do
đú cũng chi phối rất nhiểu tới việc làm tranh và nội dung của tranh. Đề tài trong
đậm ở hình chú dê tạo điểm nhìn, trung tâm bức tranh và làm rõ chủ đề, nền, cột,
14


mái nhà chỗ ông quan ngồi đến ông tay, giày của bọn tay sai cũng bằng nét đậm.
Tuy chỉ có một màu nền đơn giản nhưng nhờ có sự sáng tạo trong cách sử dụng
đường nét như vậy đã làm cho các nhân vật rõ ràng về hình dáng không thấy đơn
điệu.
Tranh “Ngũ hổ” (hình12) càng thể hiện tranh hàng trống đường nét thật tinh
vi. Với những đường vân trên mình hổ mềm mại, đặc biệt là từng sợi ria trên mặt
hổ lại càng được tỉa tót công phu tỉ mỉ. Năm con hổ, hai bên đối xứng nhau tạo sự
cân đối vững chãi, đôi mắt to tròn, dáng uốn lượn thể hiện sự dữ tợn của hổ. Nét
viền đen mảnh, nhiều chỗ lẫn cùng với màu. Màu có chỗ được vờn chồng lên nhau
tạo cho tranh chuyển động mềm mại hơn, tươi mà không chói. Khác với nền của
tranh khác, tranh “Ngũ hổ” được đặt trên nền màu xanh lam, nổi bật là năm con hổ
nằm trung tâm bức tranh với màu sắc tươi, rực rỡ.
Tranh “Ngũ hổ” là sự hội tụ của kỹ thuật vẻ màu công phu, tỉ mỉ, các nét vẽ

nhẹ nhàng, nổi bật trờn đú là bốn màu của ỏo dài được pha trộn theo gam màu tạo
cho tranh cõn đối hài hoà, tranh trở nờn cú khụng gian và sinh động. Cỏch trang
trớ lọ hoa, hỡnh với hoa văn khỏc nhau cộng với phần chữ đó làm cho tranh cõn
đối, tạo được thần thỏi của người thiếu nữ Việt Nam trong trang phục ỏo dài truyền
thống.

Hình 12: Ngũ hổ (tranh hàng trống)
Tóm lại, màu sắc và đường nét là hai yếu tố không thể thiếu được trong một
bức tranh. Không có màu sắc và đường nét thì sẽ chẳng tạo nên một bức tranh nào
cả. Do vậy, hai dòng tranh Đông Hồ và Hàng Trống, các nghệ nhân đã sử dụng
một cách, triệt để và sáng tạo ra những phong cách riêng làm nên đặc trưng riêng
của dòng tranh vùng mình. Và chỉ khi đi sâu vào tìm hiểu tranh dân gian ta mới

16


thấy hết được vẻ đẹp của nó được các nghệ nhân thể hiện bằng đường nét, màu sắc
và bố cục.
* Một số trắc nghiệm:
Điều tra và sự hiểu biết đường nét và màu sắc trong tranh dân gian, tranh đề
tài của 36 học sinh lớp 6B, trường THCS
Sau đây là câu hỏi và kết quả của phiếu điều tra.
Câu 1: Các em có thích học phân môn thường, thức mỹ thuật không ?

Số

Bình thường
Số
%


Qua đây, bản thân tôi cũng cần phải chuẩn bị kiến thức phương pháp thích
hợp để dạy môn này được tốt hơn.
Câu 2: Trong các tên tranh sau, tranh nào là tranh Đông Hồ (đánh dấu +)
tranh nào là tranh Hàng Trống (-).
1. Gà đàn
3. Đám cưới chuột
2. Bịt mắt bắt dê
4. Phật bà quan âm

Đúng hoàn toàn
Số
%
lượng

Đúng 3 bức
Số
%
lượng

Sai 1 hoặc 2 bức
Số
%
lượng

83,3%%

16,7%

30/36


- Có tới 86,1% số học sinh nhận biết được cách sử dụng đường nét trong
tranh Đông Hồ: To mập, chắc khoẻ, đơn giản.
Câu 5: Màu thường sử dụng trong tranh hàng trống như thế nào ?
Màu có sẵn trong tự nhiên
Màu phẩm nhuộm
Cả hai màu
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
2/36
5,6%
34/36
94,4%
0/36
0
Như vậy, các em đã tìm hiểu kỹ lưỡng về cách dùng màu của tranh hàng
trống khác hẳn với tranh Đông Hồ. Hầu hết các em đều biết tranh hàng trống màu
phẩm nhuộm hoá học để làm tranh.
Câu 6: Màu sắc trong hai dòng tranh thường.
Giản dị, ít màu
Nhiều màu, loè loẹt
Số lượng
%
Số lượng
%
19/36
52,8%

của mình ?
Đường thẳng

Đường cong
Kết hợp cả các đường
xiên
, lượn
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
0/36
0
14/36
38,9%
22/36
61,1%
Các em đã nhận biết được rằng chỉ sử dụng một đường trong bài vẽ hay
những đường nét nhất định cho bài vẽ thì nó sẽ cứng nhắc đơn điệu. Mà phải có sự
kết hợp nhuần nhuyễn giữa các đường với nhau thì bài vẽ mới đạt hiệu quả, vật
này khác với vật kia tạo sự sinh động cho bức tranh.
Câu 9: Em thường dùng màu nào trong bài vẽ của mình ?
Nguyên chất
Pha trộn
Cả hai
Số lượng
%
Số lượng

nguyên chất, rực rỡ để vẽ. Đường nét còn nền cứng như dây thép, giấy vụn tạo cho
bài vẽ không đẹp. Tranh đề tìa, hầu như các em vẽ người nhỏ hơn, chưa rõ mảng
chính, pha, mảng chính màu thường bằng sắc độ ở mảng phụ và cũng chỉ có một số
bài các em xác định được bố cục có trọng tâm.
Vì vậy, muốn học sinh hiểu bài và làm bài tốt, giáo viên phải hiểu được đặc
điểm tâm lý học sinh ở từng lứa tuổi và nắm được mục đích của bài dạy, từ đó tìm
ra phương pháp giảng dạy có hiệu quả.
6.áp dụng đường nét, màu sắc vào phân môn vẽ tranh đề tài ở phổ
thông.
Dạy Mỹ thuật cũng là dạy học, vì mỹ thuật cũng là môn học ở trường phổ
thông. Do vậy, dạy mỹ thuậtcũng phải tuân theo những phương pháp chung và
phươg pháp riêng. Giáo viên dạy mỹ thuậ cần phải nắm vững các phương pháp dạy
học chung và vận dụng nó vào dạy Mỹ thuật. Dạy Mỹ thuật là một nghề khó, đòi
hỏi giáo viên phải sáng tạo và luôn luôn sáng tạo. Từ cái thực, cái thật nên bài vẽ
bức tranh đẹp như Tề Bạch Thạch đã nói: “Tranh vẽ phải vừa thực, vừa hư, thực
quá là …… đời, hư quá làđổi đời, tranh phải lưng chừng giữa thực và hư”. Mỹ
thuật là môn học tạo ra cái đẹp, muốn có cái đẹp phải có kiến thức, phải động não
suy nghĩ. Dạy Mỹ thuật phải làm cho học sinh tự giác học tập vui vẻ hứng khởi,
chờ đón những điều mới mẻ.
Các em cũng đã được học Mỹ thuật ở Tiểu học lên bậc phổ thông các emlại
được trang bị tri thức với khối lượng nhiều hơn, có nhiều phân môn khác nhau và
chạy dài xuyên suốt các khối từ khối 6 đến khối 9.
6.1- Vẽ tranh đề tài ở THCS
Dạy vẽ tranh đề tài ở phổ thông là dạy cho học sinh biết cách thể hiện những
suy nghĩ của mình về một đề tài bằng ngôn ngữ hội hoạ, bồi dưỡng cho các em khả
năng nhận thức tác phẩm, nâng cao trình độ thẩm mĩ. ở bậc phổ thông, do đặc điểm
làm sinhlý lứa tuổi, do khả năng nhận thức cũng như trí tượng tượng của các em
chưa phát triển hoàn chỉnh, nên trong việc áp dụng giờ dạy vẽ tranh đề tài cho các
em, giáo viên cần thiết phải cho các em thấy tầm quan trọng của đường nét, màu
sắc trong tranh. Đường nét để xây dựng hình, đường nét gắn liền với thị giác con

? Có những hình tượng nào tiêu biểu
?Đường nột,Màu sắc thể hiện như thế nào.
? Có thể vẽ những tranh nào về đề tài Mẹ của
em này.
GV Vừa giảng giải vừa minh hoạ bằng tranh
của các hoạ sỹ để HS có nhiều thông tin và cảm
thụ được nội dung qua bố cục, màu sắc, hình
vẽ…

21

- Mẹ đang làm đồng.
- Mẹ đang tắm cho em bé.
- Mẹ ngồi đan áo.
- Mẹ đang dạy con học bài.
- Mẹ nấu cơm……..


Hoạt động 2.Hướng dẫn học sinh cách vẽ
tranh.
GV nhắc lại cách tiến hành bài vẽ tranh:
- Vẽ hình chính trong tranh là Mẹ và các hình
ảnh khác có liên quan.
- Vẽ mảng màu hài hoà, tươi tắn phù hợp với
nội dung.

Hoạt động 3.Hướng dẫn học sinh làm bài.
GV giúp học sinh về cách khai thác nội dung,
cách vẽ hình và vẽ màu.
GV nhắc HS làm bài theo từng bước như đã


7-MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THƯỜNG DÙNG KHI DẠY PHÂN
MÔN TĐN
Phương pháp tực quan,vấn đáp
Trước hết, giáo viên cho học sinh quan sát một số tranh về cách lao động vệ
sinh hay trồng cây… sưu tầm được bài của học sinh hoạ sĩ.
+ Cho học sinh quan sát tranh mẫu, tưởng tượng ra hình cần vẽ qua ngôn
ngữ gợi tả của giáo viên.
Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi giúp học sinh hướng vào chủ đề.
- Tranh vẽ cảnh gì ?
- Nhóm chính có mấy người ? Bố cục hình gì ?
- Nhóm phụ gồm những gì ?
+ Đường nét, màu sắc trong tranh như thế nào ?
Nghĩa là, giáo viên cho học sinh quan sát, từ tổng thể đến chi tiết, sử dụng
tổng hợp nhiều phương pháp giúp học sinh hình dung được mình sẽ vẽ đềư tài này
như thế nào, mảng chính đang làm gì, mảng phụ màu sắc đường nét ra sao.
7.1-Phương pháp luyện tập
Sau khi quan sat, học sinh sẽ vẽ hình phác nhẹ bằng chì, sắp xếp các nhân
vật vào giấy sao cho phù hợp với khuôn khổ tờ giấy. Đây là một khâu quan trọng,
là phần quyết định sự thành công của bài vẽ vì nếu tranh không có hình tượng thì
sẽ không rõ được nội dung cần vẽ. Vẽ tranh đề tài này, cần có nhiều dáng nhiều
động tác của nhân vật khác nhau, do vậy việc lựa chọn, kết hợp thể hiện ra giấy các
dáng thì thật khó đối với các em. Vẽ tranh cần nhiều đường nét để tạo ra hình,
nhiều nhân vật, do đó giáo viên cần gợi mở, hướng dẫn các em để các em lựa chọn
các dáng cho bài thật sinh động. Có người đứng, người ngồi, người cầm xô, người
cầm cuốc, cầm chổi…
+ Học sinh vẽ hình dáng nhân vật theo đề tài của mình, có sự sắp xếp bố cục
trong tờ giấy hợp lý.
+ Học sinh vẽ màu hoàn chỉnh bài vẽ.
Trong quá trình nêu các bước vẽ, giáo viên với vai trò là người chỉ đạo, định

Được bố cục rồi, hợp lý rồi ta dùng những nét cong thẳng, xiên… cũng trên
cơ sở những nốt thẳng ấy mà ta chỉnh lại hình dáng cho chính xác

H×nh3
Chú ý: Nên phác hình bằng nét chì mờ nhạt, không nên tẩy xoá nhiều và
không nên vẽ viền cứng các hình. Vì khi tô màu, các màu sẻ bị tách biệt, các hoà
sắc màu sẽ không hoà vào nhau làm cho tranh sẽ bị cứng.
+ Hoàn thiện hình, sửa lại hình cho khúc triết để bước sau tô màu (hình 4)
Có thể vẽ thêm những chi tiết phụ như: Cuốc, xẻng, cửa lớp, cây cối… để
cho tranh sinh động hơn.

Hình 4:
Bước 3. Vẽ màu.
Dù vẽ bằng bút chì sáp màu, bút dạ, thuốc nước… cũng cần phải sử dụng
màu một cách hài hoà, nên tập chung màu sáng, đậm… vào mảng chính vì đó là
nội dung chủ đề của tranh. Vẽ màu không nhất thiết lệ thuộc hoàn toàn vào màu
sắc tự nhiên nhưng cần dựavào nó để khơi gợi cảm xúc và sáng tạo trong bài vẽ
của mình. Vẽ màu cố gắng vẽ kín mặt tranh và điều chỉnh sắc độ cho thuận mắt
nhất. Màu sắc các nhân vật ở mảng chính phải nổi để tạo điểm nhìn, có chính, có
phụ rõ ràng. Và do ở gần nên mảng chính, thường đậm rõ hơn so với mảng phụ,
mảng phụ mờ nhạt để làm tôn mảng chính, tạo cho tranh có không gian, chiều sâu.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status