Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa chùa túy vân, xã vinh hiền, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 37

v.
UBND TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THỪA THIÊN HUẾ
KHOA NGHỆ THUẬT
-----O0O---LƯƠNG DIỄM THUỲ MY

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA
CỦA CHÙA TÚY VÂN, XÃ VINH HIỀN, HUYỆN
PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ VĂN HÓA
MSSV: 13631011060
KHÓA HỌC : 2012-2015

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Nguyễn Thị Vũ Hoài
Huế, 05/2016
LỜI CẢM ƠN


Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với
những sự hỗ trợ, giúp đỡ dùít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của
người khác. Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở trường, em đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và
bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn chân thành
nhất đến Thạc sĩ Nguyễn Thị Vũ Hoài đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em
trong suốt quá trình làm khoá luận. Nếu không có những lời hướng dẫn,
dạy bảo của cô thì em nghĩ bài thu hoạch này của em rất khó có thể hoàn
thiện được. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn cô!

giảng của các quý thầy cô, và tự tìm hiểu trong sách báo, các tài liệu có liên
quan, nghiên cứu trên các trang mạng Internet. Không sao chép hay sử
dụng bất kỳ bài làm của ai khác.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của mình trước
quý thầy cô và nhà trường.
Huế, tháng 5 năm 2016
Người cam đoan

Lương Diễm Thùy My


MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Nội dung và phạm vi nghiên cứu 2
4. Lịch sử nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Những đóng góp đề tài 4
7. Bố cục đề tài 4

B. PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 5
TỔNG QUAN VỀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA, DU LỊCH CHÙA
TÚY VÂN, THỪA THIÊN HUẾ 5
1.1. Tổng quan về giá trị văn hóa, du lịch chùa chiền ở tỉnh Thừa Thiên Huế 5
1.1.1. Đặc điểm về địa lý và giá trị văn hóa vùng đầm phá Cầu Hai, xã
Vinh Hiền, huyện Phú Lộc 5
1.1.2. Tổng quan về du lịch chùa chiền Huế 7
1.2. Tổng quan về chùa Túy Vân, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên

3.3. Giải pháp phát triển du lịch đối với chùa Túy Vân 35
3.3.1. Giải pháp quản lý, quy hoạch phát triển du lịch 35
3.3.2. Giải pháp về các chương trình tour tuyến du lịch 37
3.3.3. Giải pháp về quảng bá hình ảnh 39

C. PHẦN KẾT LUẬN 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC 45


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế là một điểm tham
quan du lịch hấp dẫn cho các du khách trong cũng như ngoài nước, nơi đây
với nét đẹp thiên nhiên ban tặng của đất trời đó là một hòn núi nhỏ tại làng
Hiền An gần cửa Tư Hiền, gọi đó là núi Túy Vân. Với ngọn núi có dáng
dấp hùng vỹ, bao quanh ngọn núi là phong cảnh nên thơ, hữu tình với vẻ
đẹp như vậy nếu ai đã đặt chân đến thì không thể không ghé vào ngôi chùa
nằm ở phía trong ngọn núi. Ngôi chùa này có tên là chùa Túy Vân.
Núi Tuý Vân có đỉnh cao 60m so với mặt nước đầm phá.Chùa Túy
Vân trên ngọn núi Túy Vân đã được Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch công
nhận là di sản văn hoá quốc gia.Vào những ngày hè, đứng trên tháp Điều
Ngự nhìn núi non trùng điệp trong màu lam sương khói xa mờ tận mũi
Chân Mây.Núi Tuý Vân (Phú Lộc, Huế) như tuồng trầm ngâm mong đợi
nàng công chúa năm xưa trên bước đường “nước non ngàn dặm ra đi”.
Chùa Túy Vân được xây dựng thời các chúa Nguyễn.Ngôi chùa xây
dựng không theo nguyên tắc chung như các ngôi chùa khác mà theo quy tắc
chùa-gác-tháp được xây dần lên cao trên đỉnh núi, chùa xây theo phong
cách Hoàng Cung với những nét văn hoa chạm trỗ tinh xảo, điêu nghệ của
kiên trúc cung đình Huế.

lịch sử cấp Quốc Gia.
3. Nội dung và phạm vi nghiên cứu
3.1 Nội dung nghiên cứu
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, du lịch chùa Túy Vân, xã Vinh
Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.

2


3.2 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết chọn phạm vi nghiên cứu là chùa
Tuý Vân, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
4. Lịch sử nghiên cứu
Trong du lịch tâm linh, những ngôi chùa được xem như là một yếu tố
của tài nguyên du lịch và đây cũng là một trong những đề tài được các nhà
nghiên cứu quan tâm trên nhiều lĩnh vực: văn hóa, lịch sử, du lịch…
Về việc nghiên cứu và phát triển du lịch ở chùa Túy Vân hiện đang là
một đề tài khá mới. Tuy nhiên, với một ngôi chùa cổ đã trải qua rất nhiều
thăng trầm lịch sử thì cũng đã có nhiều cuốn sách và bài báo đề cập đến.
Trong đó, bài viết “Quốc tự Thánh Duyên” của tác giả Phan Ngọc Thiện
(Trung tâm văn hóa Phật giáo Liễu Quán) tháng 09/2009 viết về những nét
đặc trưng của chùa Túy Vân. Trong đó nhấn mạnh đến các công trình kiến
trúc và lịch sử lâu đời của ngôi chùa cổ. Truy nhiên, bài viết này vẫn chưa
chú trọng đến việc phát triển du lịch tại chùa Túy Vân.
Một bài viết khác trên website http://disanxanh.vn/vào tháng 08/2015,
với tựa đề “Chùa Thánh Duyên trên núi Túy Vân – di tích bị lãng quên”
cũng đã đề cập đến lịch sử hình thành và những hiện trạng của ngôi chùa
trong thời điểm hiện tại. Bài viết nhấn mạnh sự xuống cấp, điêu tàn của các
công trình kiến trúc tại chùa, đồng thời ca ngợi nét cổ kính, hoang sơ của
ngôi chùa cổ đã có lịch sử hàng trăm năm tuổi.

Thiên Huế
Chương 2: Giá trị văn hóa du lịch chùa Túy Vân, Thừa Thiên Huế
Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, du lịch chùa Túy Vân,
Thừa Thiên Huế

4


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA, DU LỊCH CHÙA
TÚY VÂN, THỪA THIÊN HUẾ
1.1. Tổng quan về giá trị văn hóa, du lịch chùa chiền ở tỉnh Thừa
Thiên Huế
1.1.1. Đặc điểm về địa lý và giá trị văn hóa vùng đầm phá Cầu Hai,
xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc
* Vị trí địa lý của khu vực - vùng đầm Cầu Hai
Đầm Cầu Hai có diện tích 11.200 ha, tạo hình bán nguyện với cung
tròn hướng về Phú Lộc. Chiều dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ
Thủy Tú tới chân núi Vĩnh Phong khoảng 11km, từ Đà Bạc tới Túy Vân
khoảng 6km và dài nhất từ cửa sông Đại Giang tới chân đèo Phước Tượng
khoảng 17km.
Khác với phá Tam Giang, đầm Thủy Tú, tham gia cấu tạo bờ và đáy
đầm Cầu Hai có cả trầm tích mềm rời Đệ tứ lẫn đá granit phức hệ Hải Vân.
Trong đó phần trên cùng của trầm tích đáy hiện đại phổ biến nhất (chiếm
2/3 diện tích) có bùn sét - bột xám đen, xám xanh phân bố ở trung tâm, tiếp
đến gặp cát nhỏ, cát trung và cát thô cấu tạo bãi bồi ven bờ Tây Nam, bãi
bồi delta ở cửa sông Đại Giang, sông Truồi, sông Cầu Hai, bãi bồi delta
triều lên gần cửa Vinh Hiền. Đầm Cầu Hai liên thông với biển Đông qua
cửa Tư Hiền, có khi là cửa Vinh Hiền. Dãy cồn đụn cát đoạn bờ Vinh

*Về mặt giá trị văn hóa
Phật giáo Huế trở thành tư tưởng chủ đạo và là dòng sống lưu thông
trong tâm thức của mỗi con người Huế. Để từ đó, thiền Phật giáo không
còn là thứ đặc quyền của Tăng sĩ hay chùa chiền. Chẳng kể là tại gia hay
xuất gia, chẳng nề tăng hay tục, điều cốt yếu là biện tâm.

6


Thiền phật giáo đã trở thành linh hồn cuộc sống, linh hồn của xứ Huế.
Do vậy, có thể nói tinh thần nhập thể của Phật giáo thời Trần Nhân Tông
đã góp phần tô điểm và nâng cao bản sắc một Phật giáo xứ Huế.
Phật giáo Huế được xem một tín ngưỡng đã được chọn lọc qua thăng
trầm của lịch sử mà còn đến để chiêm ngưỡng những cảnh đẹp của mỗi
ngôi chùa Huế.
Như chúng ta đã biết nói đến chùa Huế người ta thấy nghi lễ đến lối
sinh hoạt của các chư tăng giữ được nét thanh tịnh, nghiêm trang đi vào
lòng người của Phật giáo Huế.
Lễ chùa trong mùa Phật đản đã trở thành nét đẹp văn hóa trong lòng
mỗi người, như để tỏ lòng tri ân đối với Đức Phật và đã trở thanh yếu tố
tam linh gắn với văn hóa, tín ngưỡng rất đặc trưng với vùng đất cố đô.
Phật giáo xứ Huế xây dựng nên nét đẹp của quê hương vùng đất cố đô. Các
giáo lý nhà Phật giúp cho phât tử tạo lập nên được nếp sống, lối sống chân,
thiện, mỹ, đặc biệt là giúp cho phật tử biết cánh nhìn nhận và giải quyến
đúng đắn những vấn đề cốt lõi trong đời sống về sinh, lão, bệnh, tử, chỉ dẫn
cho ho phương cách làm sao để có them ý nghĩa của hạnh phúc, an vui về
mặt tinh thần bên cạnh các giá tri vật chất như tiền tài, của cải, nhà đất…
Nhờ thế, Phật giáo xứ Huế đã cắm rễ sâu và luôn có chỗ đứng quan trọng
trong đời sống.
1.1.2. Tổng quan về du lịch chùa chiền Huế

bá, xúc tiến du lịch, nên lượng khách du lịch đến Thừa Thiên Huế ngày càng
gia tăng. Tính riêng năm 2011, tổng lượt khách đến Huế 9 tháng đầu năm
ước đạt 1.208,7 nghìn lượt khách, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm ngoái;
trong đó lượng khách quốc tế đạt 487,1 nghìn lượt, tăng 6,9%; khách trong
nước đạt 721,6 nghìn lượt, tăng 5,7%. Dự ước tổng ngày khách 9 tháng đạt
2.465,9 ngàn ngày (tăng 6,94% so với cùng kỳ), trong đó ngày khách quốc tế

8


đạt 999,7 ngàn ngày (tăng 7,87%), chủ yếu từ các nước Thái Lan, Pháp, Mỹ,
…; ngày khách trong nước là 1.466,2 ngàn ngày (tăng 6,32%). Doanh thu du
lịch ước đạt 762,5 tỉ đồng, tăng 20,5% so với năm trước.
Nhìn chung thì việc du khách đến Huế chủ yếu là tham quan các di tích
lớn, còn về chùa Túy Vân thì du khách đến tham quan là tương đối ít, khách
chỉ thường tập trung vào các ngày lễ Phật đản, thường thu hút hàng ngàn
người vào xem và theo các tăng ny, phật tử cho biết thì ngoài số lượng khách
đi tham quan vào các ngày thì có khoảng 50-60 người và từ 3-4 đoàn vào
thăm quan di tích khoảng từ 10-15 người theo tour tham quan.
1.2. Tổng quan về chùa Túy Vân, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh
Thừa Thiên Huế
Ở Thừa Thiên Huế có 4 ngôi chùa được vinh danh là quốc tự đó là:
Thiên Mụ, Diệu Đế, Giác Hoàng và Thánh Duyên (hay còn được dân gian
gọi là chùa Túy Vân). Nếu như ba ngôi chùa kia đều tọa lạc tại kinh thành
Huế thì chùa Thánh Duyên lại tọa lạc tại một nơi khá xa kinh thành: núi
Túy Vân thuộc xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc ngày nay.
Chùa Thánh Duyên với các giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật chùa
Túy Vân vẫn tồn tại đến ngày nay như một di tích tôn giáo quan trọng bởi
nét đặc trưng kiến trúc của chùa cũng như các bộ tượng để lại.
Địa Điểm: Chùa tọa lạc trên núi Túy Vân, thuộc xã Vinh Hiền, huyện

tên gọi là Tư Dung. Đây là một trong hai ngọn núi cuối cùng của dãi cát
ven biển chạy từ Bắc vào Nam. Núi Thúy Vân không cao lắm, chỉ cách mặt
nước biển và mặt phá Tamm Giang chừng hơn 40 m.
Theo “Đại Nam Nhất Thống Chí” và nhiều nhà nghiên cứu văn hóa
Chùa Huế: Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648- 1687) đi qua đây, thấy phong
cảnh hữu tình, thơ mộng, cho lập một ngôi chùa nhỏ làm nơi cầu phúc cho
dân địa phương. Năm Minh Mạng thứ 6 (2826), nhân dịp đến cửa Tư Hiền,
Vua ghé thăm Mỹ Am Sơn thấy chùa cổ điêu tàn, hoang vu, mới cho xây

10


dựng lại, và đổi tên là chùa Túy Ba. Năm Minh Mạng thứ 17 (1837), chùa
được trùng tu và dựng thêm lầu.Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) được
tiếp tục trùng tu và đổi tên chùa là Túy Vân. Vua Thiệu Trị liệt Túy Vân vào
hàng thắng cảnh của đất thần kinh trong bài thơ: Vân Sơn thắng tích và cho
khắc bia đá dựng bên chùa. Các thời Thành Thái, Bảo Đại đều có trùng tu.
Bà Từ Dũ đã cúng 5 mẫu ruộng ở Cầu Hai và 8 mẫu ở Hà Trung đề
làm lương đồng cho nhà chùa.
Trên đỉnh Túy Vân, nổi bật lên có ngôi tháp ba tầng gọi là Điếu Tháp
Ngư. Leo qua hai chiếc cầu thang gỗ lên đứng ở tầng trên ta có thể nhìn
thấy hết toàn cảnh huyện Phú Lộc. Giữa lưng chừng núi là Chùa Chính,
dưới chân núi còn có ngôi Chùa Lớn làm chỗ ở cho Chư Tăng, ở đây cũng
có đủ tượng, chuông, mõ... Trước, sau chùa cây cảnh, hoa lá sum suê.
Cứ ngỡ thành Hóa Châu xưa ban đầu là một Đô-Cảng-Thị bên cửa
Sình. Cửa Sình làm ngã ba cho sông Hương gặp biển. Về sau có doi cát nổi
trước cửa Sình giống như một con đập chắn sóng. Đồi cát ngày càng cao,
hất biển ra bên ngoài để vịnh Sình nằm lại. Tất cả nước của đông Trường
Sơn qua sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương đều chảy vào đầm Thủy Tú hội
với nước sông Truồi rồi ào ra cửaTư Hiền (1).

để làng xóm đứng lại, ghi tên những người khai canh, khai khẩn. Như thế
hai ngọn núi Linh Thái Sơn và Tuý Vân Sơn cùng với cửa Tư Hiền nằm ở
cuối con đường này. Ngày nay gọi là đường quốc lộ 49B, con đường này
đã được rải nhựa khang trang, nó nối từ thành phố Huế qua Thuận An, và
cứ đi dọc theo hết con đường biển này thì ta sẽ gặp hai ngọn núi Linh Thái
Sơn và Tuý Vân Sơn cùng với cửa biển Tư Hiền ở cuối con đường.
Từ đây không gian mát rượi, không thấy ánh nắng hè chói chang,
hàng trăm gốc cây thông cổ thụ nguyên sinh, có nhiều cây lớn đến hai ba
người ôm không xuể. Ngôi chùa cổ giữa núi rừng u tịch, ngập tràn hoa lan,
hoa dại và tiếng chim muông ríu rít. Lữ khách theo con đường nhỏ hàng
trăm bậc đá cứ cao lên, cao lên mãi, giữa hàng hàng cổ thụ, thảm lá rừng
ngập lối đi, khiến người viếng chùa có cảm giác nhẹ nhàng, thanh thoát.

12


Tòa điện Đại Hùng mới được trùng tu, lộng lẫy và uy nghi màu sắc sơn son
thếp vàng, bên phải điện Đại Hùng có tòa nhà bia dựng lên để che tấm bia
ngự chế của vua Minh Mạng. Tòa điện Đại Hùng là một tòa nhà kép 3 gian
2 chái, làm theo kiểu cách Cung điện Huế, bên trong có nhiều pháp khí rất
quý như bộ tượng Tam Thế, tượng Thập Bát La Hán, tượng Thập Điện
Diêm Vương, chuông đồng… Nội điện trang trí theo kiểu “nhất thi nhất
họa” trên tất cả các ô liên ba gắn quanh bộ khung nhà. Sau đó, phải đi qua
cổng hậu của vòng tường quanh điện Đại Hùng, vượt thêm trăm bậc cấp
nữa mới đến Đại Từ Các nằm giữa lưng chừng núi. Trong khuôn viên chùa
có một cái giếng cổ tên gọi Cam Lộ, đào từ thời vua Minh Mạng, hiện vẫn
còn nguyên vẹn tấm bia đá khắc ba chữ Hán “Cam Lộ Tỉnh”, hàng
ngày nước giếng được máy bơm lên để nhà chùa sử dụng.
Thú vị nhất khi đã lên tới đỉnh ngọn tháp ba tầng gọi là tháp Điếu Ngư,
về mùa hè vô vàn hoa độc mộc tỏa sắc ngát hương. Trên đỉnh tháp Điếu

lý nghiêm ngặt nên hiện tượng lấn chiếm di tích cũng đang diễn ra. Các tiềm
năng du lịch của chùa vẫn còn bị bỏ ngỏ. Để hiểu rõ hơn về các giá trị văn hóa
và thực trạng của chùa Túy Vân, tôi xin được đề cập trong chương 2.

14


CHƯƠNG 2
GIÁ TRỊ VĂN HÓA CHÙA TÚY VÂN, XÃ VINH HIỀN,
HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1. Giá trị văn hóa chùa Túy Vân nhìn từ kiến trúc, hiện vật
2.1.1. Cách bố trí không gian chùa Túy Vân
- Chùa Túy Vân có hình chữ nhật, kiến trúc theo kiểu nhà rường lợp
ngói liệt, trùng thiềm điệp ốc. Toàn bộ chùa Túy Vân được bao bọc bằng
vồng la thành cao gần 2m và thông lên núi cửa sau bằng cửa hậu.
- Chùa có hai tầng mái, giữa hai tầng mái có các ô vẽ các bức tranh
với đề tài Phật giáo. Trên nóc có trang trí hai con rồng ở hai đầu chầu và
một đám mây hóa thành mặt nạ ở giữa. Giao cù hình rồng được cách
điệu hóa.
- Chính điện có ba gian, hai chái, lợp ngói liệt. Mặt tiền có năm cửa
vào.Tả hữu mỗi cửa có hai khép.Ba cửa giữa, mỗi cửa có ba lá.Bước vào
chùa, nhìn lên những hoành phi, câu đối, đố bảng đầy những bài thơ, mới
được sơn lại nhưng vẫn đượm nét huy hoàng cổ kính.
Bức hoành chính giữa đề mấy chữ : “Phật nhật trùng quan”, lạc khoản
đề “ Thành thái thất niên, thập nhị nguyệt tạo. Sắt phụng chế” (Tây lịch
nhằm năm 1895). Hoa văn quanh bức hoành theo mô tip truyền thống là
lưỡng long triều nguyệt.
Bên trên chính giữa đền thờ, có những bức hoành lưỡng long triều
Nguyễn, sơn son thiếp vàng lộng lẫy đề : “Ngự tạo phụng Túy Vân Tự”, lạc
khoản đề “ Minh Mạng thập thất niên” (Tây lịch nhằm năm 1836).

trang, kể cả thiềm trù cũng vậy nhưng vẫn theo kiến trúc cổ, tuyệt đối hài
hòa với toàn bộ kiến trúc nhà cửa, cây cối và cảnh trí thiên nhiên ở đây.

16


2.1.2. Gác Đại Từ
Nguyên căn Gác Đại Từ dưới thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị là một
ngôi gác hai tầng. Trên thờ Đức Quan Thế Âm Bồ Tác, dưới thờ Quan
Thánh Đế Quân(Quan Công- Quan Vân Trường) nhưng về sau ngôi gác
này bị hư hỏng nên vua Khải Định cho sửa lại thành ngôi chùa trệt. Năm
2004 cùng với chùa Túy Vân thì gác Đại Từ đã được khôi phục lại thành
hai tầng
+ Hiện nay, tầng một của chùa gian giữa của gác Đại Từ thờ Đại
Thánh Chuẩn Đề Vương. Gian phía bên trái nhìn vào thờ Đại Thế Chí, gian
bên phải thờ Đức Quan Âm. Ngoài ra trong gác Đại Từ còn nổi tiếng với
tượng Phật nghìn mắt nghìn tay nhưng thực tế chỉ có 18 tay và 18 mắt bằng
đồng sơn son vàng lấp lánh tượng trưng
+Lên tầng hai của gác Đại Từ có cầu thang gỗ ta bắt gặp với không
gian khá rộng nhưng chỉ thờ tượng phất 18 tay và 18 mắt được khắc bằng
gỗ và thờ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát trên tầng mà thôi.
+Toàn bộ gác Đại Từ được bao bọc bằng một vòng la thành, bên trong
la thành người ta lót đá tạo một khoảng sân rất đẹp.So với chùa Túy Vân
thì gác Đại Từ có quy mô nhỏ hơn, cách bố trí thờ tự cũng như các tượng
phật ttrong gác là không nhiều.
2.1.3.Tháp Điều Ngự
Từ cổng của gác Đại Từ đi về hướng Đông Nam, leo thêm nhiều bậc
cấp bằng đá, quanh co dẫn đến đỉnh núi Túy Vân thì thấy ngay một ngọn
tháp ba tầng đứng sừng sững trông ra đầm Cầu Hai bao la. Đó chính là tháp
Điều Ngự.

+Tầng trên hết thờ Trung Thiên Điều Ngự Thích Ca Văn Phật Tây
Thiên Cực Lạc Pháp Vương.
+Tầng giữa thờ Nhân Gian Điều Ngự Phước Bi Quần Sanh Vạn Thiện
Chí Tôn.

18


+Tầng dưới thờ Địa Phủ Điều Ngự Minh Sát Sâm Ngiêm Diêm La
Chủ Tể.
+ Dưới chân tháp, về phía Đông, vua Minh Mạng đa cho tạo ngôi
“Tiến Sảnh Đình” là nơi đẻ ngồi nghe tiếng sóng đầm Cầu Hai vỗ vào đá
núi giáp bờ nước. Hiện nay, tháp Điều Ngự mới trùng tu vào tháng 3 năm
2014 được sự đầu tư của Trung tâm bảo tồn di tích Cố Đô Huế chính vì vậy
tháp Điều Ngự khang trang hơn. Các tầng của tháp Điều Ngự được gắn cái
thang gỗ mới vì các thang gỗ ngày xưa bị hư hỏng và họ bỏ không gắn vào
năm 2008.Cho đến nay đã thay mới các thang gỗ lên cả ba tầng và dược
đầu tư cổng hàng rau xung quanh ba cửa tò vò của tháp, trước sân tháp
Điều Ngự được lót gạch nền mới.
2.1.4. Giếng Cam Lồ Tĩnh
Có giai thoại kể rằng, lúc lên núi Túy Vân vua Minh Mạng khát nước
nên người hầu lấy nước giếng ở chân núi cho vua uống. Nhà vua thấy nước
ngọt,mát nên cho đặt tên giếng là Cam Hồ Tĩnh và nhà vua bến cho dựng
bia ở giếng này. Thời nhà Nguyễn cũng lấy nước ở giến này về sử dụng
trong ăn uống và Tế Tự trong Hoàng thành.
Hiện nay, giếng Cam Lồ (Cam Lồ Tĩnh) ở chân núi Túy Vân tốt nhất
và được nhiều nhà xung quanh đây mang về uống.
Ngôi chùa Túy Vân còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật trong các
thời kì vua chúa để lại như: tượng đồng 18 vị la hán, đĩa đề thơ của vua
Thiệu Trị

hai chữ “đại nội’’ bằng chữ hán việt mực tàu đen láy ở giữa lòng, là những
cổ vật chứng tích của một ngôi quốc tự từ thời vua chúa.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status