Lời Cảm Ơn
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện khóa luận này, tôi đã
nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà
trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Huế;
quý thầy cô khoa Nông học đã truyền đạt và trang bị cho tôi những kiến thức
qúy báu trong quá trình học tập tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Trần Đăng Hòa,
ThS. Trần Phương Đông, người đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong thời gian thực
tập vừa qua.
Tôi xin chân thành cám ơn đến cán bộ của xã Hương Hòa, huyện Nam
Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế và người dân địa phương đã giúp đỡ tôi thực hiện
tốt đề tài này.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của gia đình, người thân và bạn bè trong
suốt thời gian tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Cho dù có nhiều nỗ lực trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, nhưng
khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi mong nhận được sự
chỉ dẫn, góp ý của quý thầy cô giáo và tất cả bạn bè để báo cáo được hoàn thiện
hơn.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Hoàng Việt
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT:
CSTD
:
Kiến thiết cơ bản
KD
:
Kinh doanh
TCN
:
Tiêu chuẩn ngành
ĐC
:
Đối chứng
CSTN
:
Cao su thiên nhiên
MỤC LỤC
PHẦN THỨ I............................................................................................................................................1
MỞ ĐẦU.................................................................................................................................................1
3.1. Đối tượng nghiên cứu:...............................................................................................................26
3.2. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................................................26
3.3. Nội dung nghiên cứu..................................................................................................................26
3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu...................................................................................26
3.5. Phương pháp xử lý số liệu.........................................................................................................28
PHẦN THỨ 4.........................................................................................................................................30
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN................................................................................................30
4.1. Tổng quan về các giống cao su tại Thừa thiên Huế....................................................................30
4.1.1. Cơ cấu bộ giống cao su phân bố qua các năm trồng...........................................................30
4.1.2 Cơ cấu DVT cao su phân bố ở huyện Nam Đông..................................................................31
4.2 thực trạng sản xuất cao su tiểu điền tại huyện nam đông..........................................................33
4.3 Tình hình về lao động, hiện trạng sử dụng đất và đời sống của các nông hộ cstđ ở huyện Nam
Đông.................................................................................................................................................34
4.4 Tình hình áp dụng các biện pháp kỹ thuật ở vườn cao su tại huyện Nam Đông.........................35
4.5 Đặc điểm của vườn cây và diển biến bệnh rụng lá ở vườn thí nghiệm.......................................38
4.5.1 Các đặc điểm của vườn cao su tại xã Hương Hòa, huyện Nam Đông...................................38
4.5.2 Diễn biến bệnh rụng lá trong vườn thí nghiệm....................................................................41
PHẦN THỨ 5.........................................................................................................................................45
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHI..........................................................................................................................45
5.1. Kết luận......................................................................................................................................45
5.2 Đề nghị........................................................................................................................................45
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................................................48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Đề tài: Điều tra tình hình sản xuất cao su và bước đầu đánh giá hiệu lực của
phân hữu cơ sinh học TRIMIX-N1 đến bệnh rụng lá cao su tại huyện Nam
Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Giáo viên hướng dẫn :
PGS.TS Trần Đăng Hòa
ThS. Trần Phương Đông
Họ và tên SV
:
Hoàng Việt
Lớp
:
KHCT 46
MSSV
Bộ môn
:
:
1230110067
Bảo vệ thực vật
lượng và thu nhập cho người dân góp phần xóa đói giảm nghèo là hết sức quan
trọng và cấp thiết đối với tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và huyện Nam Đông
nói riêng.
Xuất phát từ thực tiển trên, tôi đã chọn đề tài : “Điều tra tình hình sản
xuất cao su và bước đầu đánh giá hiệu lực của phân hữu cơ sinh học TRIMIX N1 đến bệnh rụng lá cao su tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất cây cao su tiểu điền tại huyện Nam Đông.
- Đánh giá hiệu lực của phân hữu cơ sinh học Trimix-N1 đến bệnh rụng lá
cao su.
1
- Đưa ra được liều lượng bón hữu hiệu cho cây cao su.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu lực của phân hữu cơ sinh học
Trimix-N1 đến bệnh rụng lá cao su với các hàm lượng bón khác nhau trên địa
bàn huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, để có hướng tác động và áp dụng
các biện pháp tổng hợp trong việc phòng trừ bệnh phù hợp với điều kiện cụ thể
của địa phương.
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho người dân có hướng đầu tư đúng hơn, sử
dụng phân ở mức bón mang lại hiệu quả cao nhất, giảm chi phí trong việc phòng
trừ bệnh rụng lá cao su trên địa bàn huyện Nam Đông, góp phần nâng cao năng
suất, chất lượng mủ cao su, cải thiện đời sống cho nông dân trồng cao su.
2
PHẦN THỨ II
thoi, có mủ rỉ ra sau đó hoá đen, vết bệnh có thể phát triển dài đến 20 cm gây
3
chết chồi, chết cả cây. Trên gỗ có sọc đen, chạy dọc theo vết bệnh. Trên cuống
lá có vết nứt màu đen chiều dài 0,5 – 3 mm [18].
2.2. Tổng quan về cây cao su
2.2.1. Giá trị và tình hình phát triển cao su
Giá trị sử dụng:
Với đặc tính dễ thích nghi với môi trường, trồng được trên những vùng
đất khô cằn, khó khăn…, mà cây cao su đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho
người dân Việt Nam. Cây cao su không kén đất, trồng được trên các loại đất
như: cát pha, đất mịn, đất bazan… Cây cao su thường được trồng vào đầu mùa
mưa khoảng tháng 6 – 7 âm lịch. Khoảng 5 đến 6 năm thì có thể thu hoạch mủ
và thu hoạch khi cây có tán lá ổn định. Năng suất mủ cho cao nhất vào khoảng
cây từ 11 đến 25 năm và ngừng cho mủ từ 26 đến 32 năm.
Hiện nay, diện tích rừng đang dần được thu hẹp, vì vậy cây cao su là một
lựa chọn tốt vừa mang giá trị kinh tế vừa bảo vệ môi trường. Nó phủ xanh đất
trống, chống xói mòn, bảo vệ lớp đất bề mặt, giữ độ ẩm và cản gió cho vùng
sinh thái…
Lá cây cao su khi rụng lại là nguồn hữu cơ tốt cho đất. Xương của lá cao
su hong khô có thể được uốn thành các hoa trang trí tuyệt đẹp trong nhà và
mang đến thu nhập cho người dân. Cành lá dùng làm củi đun. Hạt cao su dùng
làm giống và có giá trị cao trong công nghiệp, dùng để chế tạo sơn điện li, ép
dầu làm xà phòng, khô dầu cho chăn nuôi, dầu đốt. Nhân hạt cao su làm thức ăn
cho cá, vỏ hạt cao su chế biến than hoạt tính, làm pin đèn, gỗ dán, gỗ cao cấp.
Dầu hạt cao su có thể dùng trong hội họa, khô dầu hạt cao su làm thức ăn có giá
trị cho gia súc.
Cây cao su mang đến nhiều lợi ích kinh tế cho người dân. Sản phẩm chính
dân khoảng 1 triệu đồng. Bình quân một tháng sẽ thu được 30 triệu đồng, Nếu
tính các khoảng chi phí họ vẫn còn lợi rất nhiều. Những năm đầu, thu hoạch họ
sẽ trừ dần chi phí đầu tư ban đầu để chăm sóc cây. Sau đó toàn bộ sẽ là lợi
nhuận người dân được hưởng trọn. Vì vậy cây cao su rất có giá trị.
Nhiều vùng trước đó người nông dân có cuộc sống khó khăn, nghèo nàn.
Sau khi cây cao su xuất hiện, lợi ích của nó mang lại đã hoàn toàn biến đổi cuộc
sống của họ. Thêm vào đó, đường xá phát triển, nhà cửa xây dựng lên mới đẹp,
người dân cảm thấy ấm no, hạnh phúc [19].
2.2.2. Tình hình phát triển cao su thiên nhiên trên nhiên trên thế giới
2.2.2.1. Lịch sử phát triển cao su trên thế giới
Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon. Cách đây gần
10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm
vào quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè.
Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo Thổ ngữ Mainas nghĩa là “Nước mắt
của cây” . Do nhu cầu tăng lên và sự phát minh ra công nghệ lưu hóa năm 1839
đã dẫn tới sự bùng nổ trong khu vực này, làm giàu cho các thành phố Manaus
(bang Amazonas) và Belém (bang Pará), thuộc Brasil.
Cố gắng thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm vi
Brasil diễn ra vào năm 1873. Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm tại
Vườn thực vật Hoàng gia Kew. Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ để
gieo trồng, nhưng chúng đã bị chết. Cố gắng thứ hai sau đó đã được thực hiện,
5
khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm 1875. Khoảng 4% hạt giống
đã nảy mầm, và vào năm 1876 khoảng 2.000 cây giống đã được gửi trong các
thùng Ward tới Ceylon, và 22 đã được gửi tới các vườn thực vật tại Singapore.
Sau khi đã thiết lập sự có mặt ở ngoài nơi bản địa của nó, cây cao su đã được
nhân giống rộng khắp tại các thuộc địa của Anh. Các cây cao su đã có mặt tại
các vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia năm 1883. Vào năm 1898, một đồn
Malaysia
1.057.271
781,7
826,5
China
685.900
1260,8
864,8
Việt Nam
548.095
1731,6
949,1
India
442.000
2036,2
1326,6
185,7
10.315.732
1129,3
12.830,6
Thế giới
Nguồn: FAOSTAT, 2016[23].
Đông Nam Á là khu vực sản xuất cao su lớn nhất thế giới. Ngoài hai quốc
gia kể trên, Malaysia và Việt Nam cũng nằm trong 4 nước sản xuất cao su lớn
nhất thế giới, với đóng góp mỗi năm tương ứng: 0,82 và 0,9 triệu tấn.
6
India là quốc gia có năng suất cao su đứng đầu thế giới 2036,2 kg/ha, gấp
1,8 lần so với năng suất bình quân của thế giới, do đã chú trọng trong công tác
giống, sử dụng công nghệ khai khác tiến bộ nên đã có những bước tiến vượt bậc
về năng suất. Các nước có năng suất mủ cao khác dao động từ 1000 – 2000
kg/ha.
Việt Nam cũng được xếp vào 10 nước có năng suất hàng đầu thế giới, đạt
1731,6 kg/ha, cao hơn 602 kg so với bình quân thế giới (hình 2.2).
Hình 2.1: Biểu đồ diện tích và sản lượng cao su 10 nước đứng đầu thế giới
2.2.3. Tình hình phát triển và tiêu thụ cao su thiên nhiên ở Việt Nam
2.2.3.1. Lịch sử phát triển cao su thiên nhiên ở Việt Nam
Giai đoạn trước năm 1975
Cây cao su có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Vào khoảng năm 1840, hạt cao su
được lấy từ lưu vực sông Amazon, đưa gửi sang Anh để ươm trồng và cuối cùng
đưa sang Nam á và Đông Nam châu á để trồng. Ở Việt nam, cao su bắt đầu được
gieo trồng từ năm 1897.
Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày, có khả năng thích ứng rộng, tính
chống chịu với điều kiện bất lợi cao và là cây bảo vệ môi trường nên được
nhiều nước có điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội thích hợp quan tâm phát triển
trên qui mô diện tích lớn.
8
Cây cao su được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên tại vườn thực
vật Sài Gòn năm 1878 nhưng không sống [21].
Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ Indonesia được nhập vào Việt
Nam. Trong 1600 cây sống, 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm
(Bến Cát, Bình Dương), 200 cây giao cho bác sĩ Yersin trồng thử ở Suối Dầu
(cách Nha Trang 20 km).
Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty
cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai)
năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của
người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ: SIPH, SPTR, CEXO, Michelin... Một
số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập [22].
Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng
3.000 tấn.
Cây cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh
trong giai đoạn 1960 – 1962, trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau đó
ngưng vì chiến tranh.
hóa Nông nghiệp (ĐDHNN).
Sản lượng cao su tự nhiên của Việt Nam củng tăng tương ứng từ 660 ngàn
tấn năm 2008 lên 711.3 ngàn tấn năm 2009. Năm 2013, tổng diện tích cây cao
su đạt 548.1 ngàn ha, tăng 42,5 ngàn ha so với năm 2012.
Hình 2.3 Biểu đồ phát triển cao su thiên nhiên ở Việt Nam, từ 2003-2013
Nguồn: FAOSTAT, 2016 [23].
Nhìn chung sản xuất cao su thiên nhiên trong nước từ 2003 - 2013, có sự
gia tăng đều đặn cả về diện tích, năng suất lẫn sản lượng, tương ứng: 266,7 ngàn
ha; 1363,0 kg/ha và 363,5 ngàn tấn, những giá trị này tương ứng ở năm 2013 là:
548,1 ngàn ha; 11731,6 kg/ha và 949,1 ngàn tấn. Gia tăng rõ nhất là sản lượng
tăng trên 3,5 lần sau 10 năm. Tuy nhiên, phát triển cao su của Việt Nam cũng
ghi nhận những thời điểm khó khăn.
10
Vị trí của ngành cao su Việt Nam trên thế giới
Việt Nam là nước đứng thứ năm về sản lượng cao su thiên nhiên và thứ tư
về xuất khẩu cao su thiên nhiên, sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia.
Theo quy hoạch phát triển ngành cao su của chính phủ, dự kiến đến năm
2015 tầm nhìn đến năm 2020, Việt Nam sẽ duy trì ổn định 800.000 ha và 1,2
triệu tấn cao su thiên nhiên hàng năm. Trong đó sẽ dành 30% cho ngành công
nghiệp chế biến trong nước và 70% còn lại dành cho xuất khẩu.
Sản phẩm gổ từ cao su được coi là thân thiện với môi trường, góp phần
hạn chế việc phá rừng lấy gổ, nên được khuyến khích phát triển trong thời gian
gần đây. Kim ngạch xuất khẩu gổ cao su ước đạt 300 triệu USD năm 2010 với
nguồn nguyên liệu từ vườn cao su tái canh trong nước và nhập khẩu, đóng góp
khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu gổ và sản phẩm gổ của Việt Nam.
Bảng 2.2: 10 thị trường nhập khẩu cao su lớn nhất từ Việt Nam năm 2012
Thị trường
36,17
115,80
Đức
30,53
94,20
Mỹ
21,88
58,80
Thổ Nhĩ Kỳ
12,55
36,77
Italy
9,45
27,17
Indonesia
vọng ngành Cao su Việt Nam đang thực sự là một trong những ngành kinh tế
mũi nhọn đóng góp nhiều tỷ USD vào nền kinh tế của đất nước.
Về mặt xu hướng giá cao su thiên nhiên sẽ tăng tỷ lệ thuận với giá dầu mỏ,
bởi vì dầu mỏ là nguyên liệu chính cho các sản phẩm cao su tổng hợp như Styren
Butadien Rubber (SBR), Nitryl Butadien Rubber (NBR), Styrene Rubber.. áp lực
giá dầu mỏ dẫn đến việc gia tăng tỷ trọng cao su thiên nhiên trong các sản phẩm
lốp xe và sản phẩm cao su kỹ thuật cao. Bên cạnh đó xu hướng tiêu dùng xanh
cũng tạo ra nhu cầu sản phẩm thiên nhiên nhất là, nệm mút cao su, găng tay y tế...
là những sản phẩm sản xuất trực tiếp từ Latex thiên nhiên mà Việt Nam hiện là
quốc gia đứng thứ 4 thế giới về nguồn nguyên liệu cao su.
Với những nỗ lực đầu tư gần đây Việt Nam hiện đang có thêm trên
500,000 ha cao su thiên nhiên tại Lào, sau đó là Myanma... chắc chắc vị thế
ngành cao su Việt Nam sẽ chiếm vị trí cao hơn nữa, đứng thứ 2,3 trong vòng 5
năm tới, và hoàn toàn tin tưởng vào mục tiêu xuất khẩu đạt 5-10 tỷ USD, [14].
2.2.3.3. Tình hình phát triển và tiêu thụ cao su
Cao su Việt Nam từ vị trí thứ 8 năm 2005 đã vươn lên đứng thứ 5 năm
2008 với kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5893 tỷ USD với sản lượng 662,9 ngàn tấn.
12
Hiện nay, Việt Nam đang đứng thứ 6 về diện tích cây cao su, thứ 5 về sản lượng,
thứ 3 về năng suất vườn cây, thứ 4 về xuất khẩu.
Chiến lược phát triển cao su của chính phủ đến năm 2020 là mở rộng diện
tích đến 860 ngàn – 1 triệu ha, tập trung ở các vùng Duyên hải miền Trung và
miền núi phía Bắc, trong đó đòi hỏi bộ giống cao su phải đa dạng về mặt di
truyền để thích nghi được với vùng sinh thái đa dạng. Vì thế, nghiên cứu đa
dạng di truyền là rất cần thiết nhằm ứng nhu cầu nêu trên.
Cuối năm 2007, Việt Nam có hơn 70 đơn vị sản xuất cao su, đạt khối
lượng sản phẩm hàng năm từ 500 đến 20.000 tấn, trong đó khoảng 70% là săm
Thủy, Minh Hóa, Tuyên Hóa và Quảng Ninh), trong đó Bố Trạch là huyện có tỷ
lệ diện tích cao su tiểu điền lớn nhất. Cao su tiểu điền được trồng chủ yếu theo
Chương trình 327, dự án Đa dạng hóa Nông nghiệp (ĐDHNN) [27].
Bảng 2.3: Diện tích cao su tiểu điền trồng mới thuộc Dự án ĐDHNN ở Việt
Nam, từ năm 2000 - 2006
Địa phương
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
Tổng
Quảng Bình
120
119
83
-
393
1007
1437
1209
916
992
5954
Quảng Ngãi
-
69
98
83
-
-
236
430
355
605
1722
Kon Tum
3
477
598
389
664
957
1589
4677
Gia Lai
278
800
Đắc Nông
37
471
1352
810
960
313
869
4812
Tổng
160
1984
3935
hình 2007
2008
2009
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
Diện tích (ha)
302000
54,3
321600
50,9
333900
Diện tích (ha)
254300
45,7
309900
49,1
343800
50,7
Sản lượng (tấn)
197600
32,6
239100
36,2
431600
39,3
Năng suất (kg/ha)
100
660000
100
711300
100
Năng suất (kg/ha)
1603
100
1654
100
1699
100
Đại điền
Tiểu điền
Cả nước
Tính đến cuối năm 2013, tổng diện tích cao su toàn huyện lên đến 3538 ha.
Những năm qua, các huyện Phong Điền, Phú Lộc, thị xã Hương Trà cũng
tập trung quy hoạch mở rộng diện tích cao su trên vùng đồi. Một thuận lợi là
Nhà nước có chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân vay vốn đầu tư
trồng và chăm sóc cao su. Nhiều lớp tập huấn kỹ thuật chăm sóc và khai thác mủ
được các ban ngành quan tâm tổ chức. Tổng diện tích cao su trên địa bàn tỉnh
nay đạt trên 9.000 ngàn ha, trong đó khoảng 4.873 ha đang trong thời kỳ khai
thác mủ, doanh thu bình quân mỗi năm hàng trăm tỷ đồng.
Bảng 2.5: Diện tích hiện có cây cao su của tỉnh Thừa Thiên Huế cập nhật
đến 2014
Đơn vị tính-ha
Phân theo đơn vị cấp huyện
2013
2014
Huyện Phong Điền
1614
1634
Thị xã Hương Trà
2442
2459
Thị xã Hương Thủy
Huyện Nam Đông có diện tích cao su lớn nhất toàn tỉnh, diện tích đạt
được năm 2014 là 3538 ha chiếm 37,6% toàn tỉnh năm 2014, tăng 76 ha so với
năm 2013. Trong đó, Thị xã Hương Thủy và Huyện Phú Lộc thì diện tích không
thay đổi. Bình quân diện tích năm 2014 so với năm 2013 diện tích các huyện
tăng khoảng 1,7%.
16
Sở dỉ, cây cao su có tốc độ tăng trưởng nhanh như vậy là nhờ sự hổ trợ
của 2 dự án, chương trình sau:
Cây cao su có mặt trên đất Thừa Thiên Huế từ năm 1993 theo dự án 327
phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Trong 5 năm từ 1993 đến 1997 với diện tích
trồng mới khoảng 2.000 ha trên địa bàn 3 huyện Trung du, miền núi là Nam
Đông, Hương Trà và Phong Điền. Do một thời gian bị gián đoạn của dự án 327
cây cao su không được chăm sóc tốt nên sinh trưởng kém.
Năm 2001, dự án Đa dạng hóa nông nghiệp (ĐDHNN) của Chính phủ bắt
đầu triển khai ở Thừa Thiên Huế. Mục đích của dự án đối với cây cao su là hổ
trợ đầu tư cho nông dân phục hồi lại diện tích cao su đả trồng giai đoạn 19931997 là 1.555,5 ha và mở rộng diện tích có thể [9].
Giai đoạn 2001-2006: Diện tích cao su trồng mới trên toàn tỉnh là
6.023,51 ha theo dự án ĐDHNN, nhìn chung cao su giai đoạn này phát triển tốt.
Hiện nay, cây cao su là cây trồng chủ lực trong xóa đói giảm nghèo ở
Thừa Thiên Huế, bởi chưa có cây trồng nào nhân rộng diện tích và mang lại hiệu
quả kinh tế cao như cao su. Cao su đã thực sự thay đổi những vùng đất nghèo
khó của tỉnh Thừa Thiên Huế và kéo theo sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo
hướng sản xuất hàng hóa và chế biến xuất khẩu ngay tại vùng nguyên liệu [9].
Bảng 2.6: Phát triển cao su tiểu điền ở Thừa Thiên Huế (1993 - 2008)
Đơn vị
1876,5
289,5
2166,0
Phong Điền
-
992,5
422,7
1415,2
A Lưới
0
713,5
0
713,5
Phú Lộc
0
2.3 Tổng quan về bệnh rụng lá Corynespora cassiicola.
Bệnh rụng lá Corynespora trên cây cao su do nấm Corynespora
cassiicola (Berk. & Curt.) Wei gây ra. Bệnh xuất hiện lần đầu tiên trên cây cao
su tại Sierra Leone (1936), tiếp theo bệnh xuất hiện lần lượt tại hầu hết các nước
trồng cao su trên thế giới. Ban đầu được xem là bệnh gây hại không đáng kể ở
vườn nhân và chỉ xuất hiện trên một vài dòng vô tính (DVT) cao su. Càng ngày
bệnh này càng trở nên nghiêm trọng và trở thành đại dịch ở nhiều quốc gia.
Bệnh có thể phát sinh, phát triển quanh năm và gây hại mọi giai đoạn sinh
trưởng của cây cao su, nhất là các dvt cao su mẫn cảm. Do khả năng tiết ra độc
chất và gây rụng lá hàng loạt, bệnh ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, sản lượng
cao su, gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho ngành trồng cao su ở nhiều nước. Do
vậy bệnh rụng lá Corynespora được coi là loại bệnh nguy hiểm nhất của cây cao
su khu vực châu Á và Phi.
Theo Safiah Atan và Noor Hisham Hamid (2003) đã sử dụng kỹ thuật
RAPD để phân tích 9 nguồn nấm C. cassiicola từ Hevea brasiliensis. Kết quả đã
phân biệt được 2 nhóm nguồn nấm, là nguồn nấm gây nhiễm cho các dòng vô
tính RRIM 2020 và nhóm nguồn nấm gây nhiễm cho các dòng vô tính RRIM
600 và các dòng vô tính cao su khác [15].
Nghiên cứu biến dị di truyền của 42 nguồn nấm C. cassiicola trên các ký
chủ khác nhau bằng phương pháp RAPD của Silva et al. (1995) cho thấy, có 5
nhóm di truyền đã được xác định, điều này có nghĩa là có sự khác biệt di truyền
đáng kể giữa các nguồn nấm C. cassiicola thu thập từ các ký chủ khác nhau.
Những kết quả nghiên cứu này làm cho việc nghiên cứu tạo ra các dòng vô tính
cao su kháng bệnh trở nên dể dàng hơn (Silva et al., 2003) [16]
Tại Malaysia, bệnh bùng phát gây hại nặng trên các dòng vô tính
RRIC103, KRS21 và RRIM725 trong năm 1985. Hiện nay bệnh ghi nhận tại tất
cả các vùng trồng cao su trong cả nước, nặng nhất tại Johor Baru và Trengganu.
Các dòng vô tính bị nhiễm bệnh bao gồm GT1, RRIM600, 701, 702, 703, 725,
901, 2009, 2020, PR261, IAN873, PB217 (Shukhur S.K. [8].
Tại Thái Lan, bệnh ghi nhận tại thí nghiệm trao đổi giống cao su quốc tế 7