LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn
đến quý thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị, cùng các thầy cô trong và
ngoài trường Đại học sư phạm. Đặc biệt, tôi gửi lời cảm ơn đến Cô giáo
Thạc sỹ Lê Thị Thu Hương người đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực
hiện đề tài này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến Phòng LĐ - TBXH, Phòng thống kê
huyện Nam Đông; Thư viện rường Đại học sư phạm đã tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi trong thời gian nghiên cứu và thu thập số liệu để hoàn thành
chuyên tốt nghiệp này.
Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến bà con các hộ gia đình mà tôi đã
trực tiếp điều tra phỏng vấn và cung cấp số liệu liên quan đến đề tài của tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè đã động viên
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành đề tài này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh
nhất. Song do thời gian ngắn, trình độ năng lực có hạn chế, kinh nghiệm
trong thực tiễn còn non trẻ nên đề tài không thể tránh khỏi sự sai sót. Rất
mong quý thầy cô giáo và bạn bè góp ý để chuyên đề của tôi được hoàn
thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
2
WB
:
Dân tộc thiểu số
LĐ-TBXH
:
Lao động - thương binh xã hội
SXKD
:
Sản xuất kinh doanh
KT-XH
:
Kinh tế-xã hội
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HS-SV
:
Trung học phổ thông
GDTX
:
Giáo dục thường xuyên
XĐGN
:
Xóa đói giảm nghèo
MỤC LỤC
3
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng
Biểu đồ
4
A. MỞ ĐẦU
cuộc sống.
Nam Đông là một huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế cách
thành phố Huế khoảng 50 km về phía Tây Nam, tái lập vào tháng 10 năm
1990. Cuộc sống của người dân chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp, đời
sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt do ảnh hưởng bất thường
của thời tiết khí hậu gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sản xuất nông
nghiệp, mất mùa thường xuyên xảy ra dẫn đến đói nghèo. Xác định được
tầm quan trọng của vấn đề, nhiều năm qua cùng với sự quan tâm của các
cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đã lập kế hoạch, đề ra chiến lược,
mục tiêu phù hợp, tổ chức triển khai chính sách xóa đói giảm nghèo và đã
đạt được một số kết quả tốt. Nhiều chương trình, dự án, mục tiêu giảm
nghèo đã tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Tuy nhiên số hộ nghèo của huyện trong những năm qua vẫn còn
cao(chiếm tỷ lệ 6%), chính sách xóa đói giảm nghèo thực hiện còn nhiều
hạn chế. Từ thực trạng này, là một người con của huyện Nam Đông, tôi
quyết định chọn đề tài: “ Nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo cho đồng
bào dân tộc thiểu số huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghèo đói là một vấn đề không mới, song nó lại nhận được sự quan
tâm rất nhiều người. Đặc biệt ở thời điểm hiện tại khi đất nước đang đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nghèo đói lại một lần nữa tỏa ra sức
nóng, trở thành một vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Ở nhiều khía cạnh
khác nhau đã có rất nhiều tác giả, công trình nghiên cứu về đói nghèo, tiêu
biểu như:
- Lê Thị Oanh: “ Công tác xóa đói giảm nghèo của huyện Nghi Xuân”.
Người nghiên cứu đã nêu được thực trạng về nghèo đói ở huyện Nghi
Xuân- Hà Tĩnh, trên cơ sở đó chỉ ra nguyên nhân, đề xuất giải pháp nhằm
6
nghèo của người thiểu số ở miền núi, đặc biệt là đồng bào dân tộc Mông và
nhu cầu xóa đói giảm nghèo. Qua việc mô tả đời sống của người dân thông
qua các chỉ số, những số liệu, những thông tin thu được từ các cuộc khảo
sát xã hội học, người nghiên cứu đã đưa ra những kiến nghị, những giải
pháp nhằm tháo gỡ khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện chương
trình xóa đói giảm nghèo tại địa bàn, giúp người nghèo tự vươn lên trong
cuộc sống.
Các công trình nghiên cứu trên đề cập đến vấn đề nghèo đói dưới
các góc độ khác nhau và khảo sát ở từng địa phương riêng biệt. Chính vì
vậy kết quả của các công trình nghiên cứu đó khó có thể thực hiện và áp
dụng đại trà ở nhiều địa phương. Ý thức được tầm quan trọng của vấn
đề này trên cơ sở tiếp thu và kế thừa có chọn lọc kết quả của những nhà
nghiên cứu đi trước, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả
xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Nam Đông,
tỉnh Thừa Thiên Huế” dưới góc độ kinh tế chính trị. Đề tài nghiên cứu
này sẽ góp phần bổ sung hoàn chỉnh về công tác xóa đói giảm nghèo,
nâng cao hiệu quả ở các vùng nông thôn, vùng núi còn khó khăn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xóa đói giảm nghèo
cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Nam Đông.
Từ đó, đề tài đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu qủa xóa đói giảm
nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên
Huế trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:
-
Phương pháp phân tích tổng hợp dựa vào cơ sở lý luận của vấn đề
xóa đói giảm nghèo: các khái niệm liên quan đến đói nghèo, chuẩn nghèo
qua từng giai đoạn, đặc điểm của nghèo đói, quan điểm của Đảng và Nhà
nước, kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của một số địa phương trong
nước…
Phương pháp nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phân tích và
tổng hợp, sưu tầm và xử lý số liệu, so sánh thống kê, điều tra về vấn đề xóa
đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Nam Đông, từ đó
tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo cho đồng
bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện.
6. Kết cấu của đề tài
9
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3
chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận chung về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo
Chương 2. Thực trạng nghèo đói ở đồng bào dân tộc thiểu số huyện
Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương 3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo
cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
B. NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. Cơ sở lý luận về nghèo đói
1.1.1. Khái niệm về nghèo đói
Quan niệm nghèo đói được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tuỳ thuộc
vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc
gia.
thiện, đòi hỏi những nhu cầu thiết yếu cơ bản cao hơn, tất nhiên không phải
tất cả các nhóm dân cư đều có tốc độ cải thiện giống nhau thông thường thì
nhóm không nghèo có tốc độ tăng mức thu nhập, mức sống cao hơn nhóm
nghèo. Có thể khái quát qua bảng 1.1 dưới đây:
Bảng 1.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo chuẩn quốc gia)
Chuẩn nghèo qua
các giai đoạn
Giai đoạn 1993 1995 (Mức chỉ
tiêu lương thực
quy gạo/ tháng)
Giai đoạn 1997 2000 (Mức thu
nhập quy ra gạo
Phân loại người
nghèo đói
Hộ đói ở nông thôn
Hộ đói ở thành thị
Hộ nghèo ở nông
thôn
Hộ nghèo ở thành thị
Hộ đói
11
Mức thu nhập bình
quân/người/tháng
Dưới 80kg/người/tháng
Dưới 13kg/người/tháng
Dưới 15kg/người/tháng
Dưới 20kg/người/tháng
Hộ đói
Hộ nghèo ở khu vực
nông thôn, miền núi
và hải đảo
Hộ nghèo ở nông
thôn, đồng bằng
Hộ nghèo ở khu vực
thành thị
Hộ nghèo ở khu vực
nông thôn
Hộ nghèo ở khu vực
thành thị
Hộ nghèo ở nông
thôn
Hộ nghèo ở thành thị
Hộ nghèo ở nông
thôn
Hộ nghèo ở thành thị
Dưới 15kg
gạo/người/tháng tương
đương 55.000 đồng
Dưới 20kg
gạo/người/tháng tương
đương 70.000 đồng
Dưới 25kg
gạo/người/tháng tương
đương 90.000 đồng
Dưới 50.000
- Thu nhập bình quân đầu người của địa phương cao hơn thu nhập
bình quân của cả nước.
- Có tỉ lệ nghèo thấp hơn bình quân cả nước.
- Có đủ nguồn lực cân đối cho các giải pháp xóa đói giảm nghèo
Nghèo tương đối: “ Là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương”[9;6]
Theo cách xác định này , nghèo tương đối xuất hiện bất chấp qui mô
của nghèo đói tuyệt đối hay nói cách khác có thể xóa bỏ nghèo đói tuyệt đối
chứ không thể xóa bỏ được nghèo đói tương đối.
Để đánh giá nghèo đói, người ta thường sử dụng khái niệm nghèo đói
tuyệt đối vì nó cho phép phân tích có tính so sánh, trong khi nghèo đói
tương đối được coi là tiêu chuẩn đánh giá sự công bằng của Chính phủ với
một bộ phận dân cư có thu nhập thấp.
Qua các định nghĩa trên, ta có thể đưa ra định nghĩa chung về nghèo
đói: “ Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều
kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được
tham gia vào các quyết định của cộng đồng”.[19]
Tóm lại, nghèo đói là một phạm trù lịch sử, có tính đương đối. Tính
chất và đặc trưng của nghèo đói phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên,
nhân tố chính trị, văn hóa và trình độ phát triển kinh tế- xã hội của vùng,
miền, quốc gia, khu vực.
1.1.2. Khái niệm về xóa đói giảm nghèo
Xóa đói giảm nghèo: Là tổng thể các quan điểm, tư tưởng các giải
pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế
xã hội nhằm giải quyết những vấn đề nghèo đói, thực hiện mục tiêu xóa đói
giảm nghèo từ đó xây dựng một đất nước giàu mạnh.[9;7]
13
đói là sự thiếu hụt so với mức sống nhất định mà sự thiếu hụt này được xác
định theo các chuẩn mực xã hội và phụ thuộc vào không gian và thời gian.
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) thì hiện nay trên thế giới
có khoảng 1,3 tỷ người sống dưới mức nghèo khổ, trong đó phần lớn là phụ
nữ và trẻ em.
Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng
Cốc Thái Lan tháng 9.1993 đã đưa ra khái niệm về nghèo đói như sau: “ Đói
nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn
những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo
trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa
phương”.[9;8]
Thế giới có hai hướng đánh giá sự giàu, nghèo: quốc gia giàu, nghèo
và người giàu, nghèo.
Để đánh giá mức độ giàu, nghèo của các quốc gia, Ngân hàng thế
giới đưa ra chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân đầu người, theo tỷ giá hối
đoái và tính theo USD thì phân thành 6 loại giàu nghèo của các nước như
sau:
-
Trên 25000 USD / năm là nước cực giàu
-
Từ 20000 đến dưới 25000 USD/ năm là nước cực giàu
-
Từ 10000 đến dưới 20000 USD/ năm là nước khá giàu
sống như lương thực, y tế, giáo dục, vải vóc, nhiên liệu... để xác định giới
hạn nghèo. Theo định nghĩa này một người được xem là nghèo nếu có mức
sống dưới mức tối thiểu đã được chấp nhận.
Tóm lại, những tiêu chí phân định đói nghèo do cách tiếp cận khác
nhau nên có những kiến giải khác nhau. Như vậy, có thể kết luận rằng quan
niệm đói nghèo các nước, các quốc gia, khu vực khác nhau, là không giống
nhau và đói nghèo chỉ là quan niệm có tính chất tương đối.
* Theo chuẩn nghèo Việt Nam
Nghèo đói ở Việt Nam là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế
của người dân chỉ giành toàn bộ cho chi ăn uống, thậm chí không đủ cho ăn
uống, nên phần tích lũy không có, vì vậy các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra các
mặt khác như ở, văn hóa, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đáp ứng một phần rất ít
không đáng kể.
Theo báo cáo phát triển Việt Nam tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ
Việt Nam năm 2003 đã nêu rõ:
“ Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không đủ các điều kiện vật
chất và tinh thần để duy trì cuộc sống ở mức tối thiểu trong điều kiện
chung của cộng đồng. Mức sống tối thiểu gồm: ăn, mặc, ở, học hành, đi lại,
chữa bệnh... Đói là bộ phận của những người nghèo, không những không
đủ các nhu cầu cơ bản tối thiểu mà không đủ lương thực để duy trì cuộc
sống hằng ngày. Hay nghèo đói là tình trạng thua kém về nhiều mặt, từ thu
nhập đến tính dễ bị tổn thương khi bị rủi ro và ít có khả năng tham gia vào
quá trình ra quyết định chung”.
16
Chuẩn nghèo Việt Nam là một tiêu chuẩn để đo lường mức độ nghèo
của các hộ dân tại Việt Nam. Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quân
trên thế giới.
hoặc ở nhờ nhà người khác.
Những hộ có số nhân khẩu trong gia đình cao hơn bình quân
chung.Hệ quả là quy mô gia đình càng lớn thì thu nhập bình quân đầu
người sẽ giảm và khả năng nghèo đói của hộ càng cao. Theo báo cáo quốc
gia giai đoạn 2011 - 2014 Việt Nam giữ vững tốc độ tăng GDP ổn định, cụ
thể: năm 2012 đạt 5,25%, 5,42% năm 2013, 5,98% năm 2014 và năm 2015
đạt 6,2%. Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015, tỷ lệ nghèo cũng giảm
xuống đáng kể từ 14,2% năm 2010 còn 9,8% năm 2013. Mức sống của
người nghèo cũng được cải thiện. Những thay đổi tích cực đã đem lại diện
mạo mới cho khu vực nông thôn và miền núi. Chất lượng y tế tại các cơ sở
khám chữa bệnh, kiểm soát bệnh dịch đã được cải thiện rõ rệt.
1.1.4.2. Thu nhập bình quân trên đầu người
Đa số những người nghèo có cuộc sống rất khó khăn, cực khổ. Họ có
mức thu nhập thấp. Điều này do tính chất công việc của họ đem lại. Người
nghèo thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, thu
nhập chẳng được bao. Hơn thế nữa, những công việc này lại thường rất
bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc vào thời vụ và có tính
rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết (chẳng hạn như mưa, nắng, lũ
lụt, hạn hán, động đất…). Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp là ví dụ cho vấn đề này.
Do thu nhập thấp nên việc chi tiêu cho cuộc sống của những người
nghèo là rất hạn chế. Hầu hết các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người
như cái ăn, cái mặc, cái ở chỉ được đáp ứng với mức độ rất thấp, thẩm chí
còn không đủ. Nhiều người rơi vào cảnh thiếu ăn liên miên: chưa nói đến
vấn đề đủ dinh dưỡng, riêng việc đáp ứng calo cần thiết, tối thiểu cho con
người để có thể duy trì hoạt động sống bình thường họ cũng chưa đáp ứng
được, hoặc đáp ứng một cách khó khăn. Điều này đã kéo theo hàng loạt các
18
19
Hiện nay, môi trường giáo dục là nơi đào tạo ra con người có trình
độ tri thức cao nhằm đáp ứng cho nhu cầu lao động của xã hội. Giáo dục có
nhiệm vụ đi trước, đón đầu để đào tạo ra đội ngũ lao động chuyên nghiệp.
Dù ở bậc trung học hay phổ thông chương trình giáo dục đều giành một số
tiết để hướng nghiệp cho học sinh, giúp các em có nhiều sự lựa chọn khi
không đủ điều kiện học tập tiếp. Do đó, giáo dục là động lực thúc đẩy, nâng
cao đội ngũ lao động, không được giáo dục đồng nghĩa với việc không đủ
năng lực để đáp ứng nhu cầu về nhân lực của xã hội.
Trước đây khi chưa có chính sách phổ cập giáo dục, phần lớn con em
của những gia đình không có điều kiện, phải sớm lao vào cuộc sống xã hội
khi chưa đủ độ tuổi lao động hoặc chưa được trang bị những kiến thức cơ
bản về các ngành nghề. Bước vào cuộc sống lao động họ chủ yếu là lao động
bằng chân tay, một phần vì chưa đủ sức khỏe và không có năng lực, vì vậy,
những thành phần ấy sớm bị sa thải và trở thành người thất nghiệp.
Trong thời đại CNH- HĐH toàn cầu, với sự phát triển chóng mặt của
nền công nghệ hiện đại, đòi hỏi đội ngũ lao động có trình độ ngày càng cao.
Trong các cơ sở sản xuất họ thay sức lao động của con người bằng máy
móc, do đó người công nhân trong thời kỳ hiện đại đòi hỏi phải có trình độ
kỹ thuật cao, ít nhất là phải có hiểu biết cơ bản về cơ chế hoạt động của
thiết bị máy móc. Nếu không được đào tạo một cách đúng đắn và không có
kiến thức cơ bản thì rõ ràng họ không thể đáp ứng được yêu cầu của nhà
tuyển dụng, ngay cả khi là công nhân.
Chính vì những lí do đó, có thể thấy rằng trình độ văn hóa giữ vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển của nền kinh tế xã hội.
1.1.5. Nguyên nhân của đói nghèo ở Việt Nam
1.1.5.1. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, những người nghèo là những người có trình độ học vấn
gia đình bất ổn. Vấn đề bệnh tật và sức khỏe kém ảnh hưởng trực tiếp đến
thu nhập và chi tiêu của hộ nghèo, một mặt họ phải chịu gánh nặng mất đi
thu nhập từ lao động, một mặt gánh chịu chi phí cao cho việc khám, chữa
21
bệnh, kể cả chi phí trực tiếp và gián tiếp làm họ rơi vào vòng luẩn quẩn của
đói nghèo.
Thứ sáu, xã hội luôn quan tâm đến người nghèo, họ thường được hỗ
trợ về vật chất cũng như các dịch vụ khác để có thể thoát nghèo. Thế nhưng
một số người nghèo lại ỷ vào sự giúp đỡ đó, đã lười lao động, không chịu
khó, muốn bao cấp, từ đó họ không có ý thức vươn lên thoát nghèo gây nên
nghèo đói và hiện tượng “ tái nghèo”
1.1.5.2. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, những biến động về chính trị- xã hội, chiến tranh, thiên tai,
dịch bệnh, điều kiện sản xuất kinh doanh khó khăn là một trong những
nguyên nhân làm cho người dân rơi vào tình trạng nghèo đói. Do nguồn
thu nhập bấp bênh, khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống
chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống như mất mùa, thiên tai, đau
ốm, tai nạn… Với khả năng kinh tế mỏng manh của các hộ gia đình nghèo
trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn
trong cuộc sống của họ. Những vùng dễ bị lũ lụt, bão hoặc hạn hán thường
có tỷ lệ hộ nghèo cao. Đối với những địa phương kinh tế- xã hội(KT- XH)
chậm phát triển nguy cơ nghèo cao hơn so với địa phương có kinh tế phát
triển
Thứ hai, rủi ro gặp phải trong cuộc sống như ốm đau, tai nạn lao
động, tai nạn giao thông, thất nghiệp… cũng là nguyên nhân làm cho
người dân trở nên nghèo đói. Những rủi ro trong cuộc sống hay gặp phải
trong khi không có các biện pháp phòng ngừa hữu hiệu, khả năng đối phó
trong chiến lược phát triển chung của xã hội và đã trợ thành một chủ
trương chiến lược, nhất quán, liên tục được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ
Đại hội của Đảng.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan
trọng đặc biệt của công tác XĐGN , xác định phải nhanh chóng đưa các hộ
nghèo thoát ra khỏi hoàn cảnh túng thiếu và sớm hòa hợp với phát triển
23
chung của đất nước; đề ra Chương trình quốc gia về XĐGN trong 5 năm
1996- 2000 cùng với 10 Chương trình kinh tế- xã hội khác.
Thực hiện chủ trương của Đảng, đầu năm 1998, Chính phủ chính
thức phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN ( chương trình
133) cho chương trình 1998-2000. Tháng 7/1998, Thủ tướng Chính phủ
tiếp tục bổ sung Chương trình 135-Chương trình hỗ trợ phát triển cơ sở hạ
tầng thiết yếu các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Mục tiêu chính của Chương trình này là hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng như:
hệ thốn đường giao thông, trường học, trạm y tế… tại 1715 xã nghèo nói
trên. Kết quả là đến năm 2000 tỷ lệ nghèo của cả nước còn 10% theo chuẩn
cũ.
Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy, không thể chỉ theo đuổi mục
tiêu giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo mà cần giữ vững kết quả giảm nghèo đã
đạt được, tăng khả năng bền vững, hiệu quả của công tác giảm nghèo,
đặc biệt trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường. Vì vậy, quan điểm
giảm nghèo bền vững đã được đề cập và thể hiện trong Nghị quyết Đại
hội IX của Đảng là: “ Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xoa đói
giảm nghèo. Quan tâm xây dựng cơ sở hậ tầng cho các vùng nghèo, xã
nghèo với nơi khác, tạo điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo, vùng khó
khăn phát triển. Đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi
cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và
các nhóm dân cư. Cụ thể cần đạt được: Thu nhập của hộ nghèo tăng lên 3,5
lần; tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm, riêng các huyện nghèo, xã nghèo
4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn; Điều kiện sống của người
nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là vấn đề y tế, giáo dục, văn hóa,
nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các
dịch vụ xã hội cơ bản; Cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội ở các huyện nghèo; xã
nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo
tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện,
nước sinh hoạt.
25