Hiệu quả xoá đói giảm nghèo từ các dự án phát triển nông thôn tại hà tĩnh - Pdf 10

Hiệu quả xoá đói giảm nghèo từ các dự án phát
triển nông thôn tại Hà Tĩnh

Phan Thành Biển

Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Quản trị kinh doanh; Mã số: 60 34 05
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đàm Văn Huệ
Năm bảo vệ: 2008 Abstract: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo
trong nền kinh tế thị trường. Giới thiệu đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Hà
Tĩnh. Trình bày thực trạng hiệu quả xóa đói giảm nghèo từ các dự án phát triển nông thôn
tại tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian vừa qua như: dự án phát triển nông thôn Hà Tĩnh
(HRDP), dự án hạ tầng cơ sở nông thôn dựa vào cộng đồng (CBRIP), dự án Ngành cơ sở
hạ tầng nông thôn Hà Tĩnh, dự án Xóa đói giảm nghèo đa mục tiêu của huyện Vũ Quang
và vùng phụ cận tỉnh Hà Tĩnh (MPRP). Đánh giá hiệu quả xóa đói giảm nghèo từ các dự
án đó. Đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu như: nhóm giải pháp về xác định đúng đối
tượng tác động và nhóm giải pháp về tìm kiếm đối tác, huy động nguồn lực nhằm nâng
cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo trong các các dự án phát triển nông thôn tại tỉnh Hà
Tĩnh.

Keywords: Giảm nghèo; Phát triển nông thôn; Quản lý dự án; Xóa đói; Hà Tĩnh Content
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo đói là một vấn đề của nhiều quốc gia trên thế giới. Tại phiên họp Đại Hội đồng Liên Hiệp
Quốc (6/2000), các thành viên tham gia đã cam kết giảm một nửa số người đói nghèo vào năm

hiểu của các học giả cũng như các tổ chức quốc tế. Liên quan đến vấn đề xoá đói, giảm nghèo có
một số đề tài nghiên cứu. Tuy vậy, các đề tài này tập trung nghiên cứu các cấp độ khác nhau
(quốc gia, vùng và địa phương ), chưa có đề tài nào đi sâu vào việc nghiên cứu phân tích hiệu
quả giảm nghèo của các Dự án PTNT tại Hà Tĩnh giai đoạn 1999- 2007 để từ đó đưa các bài học
kinh nghiệm và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xoá đói giảm nghèo cho các dự án PTNT
tại Hà Tĩnh và những địa phương có điều kiện tương tự. Điều này trở nên cấp bách khi gắn với
xu hướng phân cấp quản lý các dự án phát triển cho các địa phương đang là xu hướng chủ đạo
hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích:
Đánh giá thực trạng và từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xoá đói giảm nghèo các dự án
PTNT tại tỉnh Hà Tĩnh.
Để đạt được mục đích trên, luận văn đi vào giải quyết những nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói và xoá đói giảm nghèo trong bối cảnh nền
kinh tế thị trường.
- Đánh giá thực trạng hiệu quả xoá đói giảm nghèo của các dự án PTNT tại Hà Tĩnh.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả xoá đói giảm nghèo trong các dự án
PTNT tại Hà Tĩnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Các dự án PTNT tại Hà Tĩnh được đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
của các tổ chức song phương và đa phương. Trong luận văn này, tác giả dùng khái niệm “Dự án”
để làm tên gọi chung cho các chương trình, dự án cụ thể về PTNT trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
+ Hiệu quả xoá đói giảm nghèo của các dự án PTNT tại Hà Tĩnh.
- Phạm vi nghiên cứu: Những điểm lựa chọn thực hiện các dự án PTNT thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
- Thời kỳ nghiên cứu: Giai đoạn 1999- 2007.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử; Nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu tài liệu/số
liệu có sẵn; các tài liệu chưa được công bố
- Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu thống kê, so sánh, tham vấn

- Tỷ lệ sinh của hộ nghèo còn cao.
- Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác.
- Bất bình đẳng giới ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của phụ nữ và trẻ em.
- Bệnh tật và sức khoẻ yếu kém cũng là yếu tố thúc đẩy con người vào tình trạng nghèo đói trầm
trọng.
1.1.1.3. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, bất bình đẳng và nghèo đói
1.1.1.4. Tầm quan trọng của vấn đề xoá đói giảm nghèo đối với tăng trưởng và phát triển kinh
tế bền vững
Nghèo đói đi liền với lạc hậu, chậm phát triển, là trở ngại lớn đối với phát triển. Nói một cách
khác, xoá đói giảm nghèo là tiền đề của tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững, chúng có mối
liên hệ tác động qua lại mang tính nhân quả giữa đói nghèo với lạc hậu, chậm phát triển, giữa
xoá đói giảm nghèo với phát triển. Nghèo đói càng gay gắt thì phát triển càng bị kìm hãm. Trình
độ phát triển càng chậm chạp thì càng thiếu điều kiện và khả năng để khắc phục nghèo đói. Xoá
đói giảm nghèo là cơ sở để duy trì cho sự ổn định về chính trị xã hội.
1.1.2. Phương pháp xác định chuẩn nghèo
1.1.2.1. Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào nhu cầu chi tiêu
1.1.2.2. Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào so sánh với thu nhập bình quân đầu
người của các hộ gia đình
1.1.2.3. Phương pháp điều chỉnh chuẩn nghèo
- Điều chỉnh chuẩn nghèo theo giá cả thực tế
- Điều chỉnh chuẩn nghèo theo lạm phát
1.1.3. Chuẩn nghèo của Việt Nam
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban
hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006- 2010, chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn này
như sau:
Khu vực nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng
(2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo;
Khu vực thành thị: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng
(3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Trước năm 2006, chuẩn nghèo khu vực nông thôn đồng bằng cao hơn chuẩn nghèo khu vực nông

- Xác định đúng đối tượng dự án.
- Sự phù hợp với địa phương, vùng.
- Trình độ của cán bộ dự án.
- Thị trường.

CHƢƠNG 2. HIỆU QUẢ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN TẠI HÀ TĨNH TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Đặc điểm tự nhiên- kinh tế và xã hội tỉnh Hà Tĩnh
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế xã hội
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ có diện tích tự nhiên 6.018,97 km
2
, phía Bắc giáp tỉnh
Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp tỉnh Bôlikhămxay và Khămmuộn của
Lào và phía Đông giáp Biển Đông. Hà Tĩnh có 12 đơn vị hành chính cấp huyện, (1 thành phố, 1
thị xã, 10 huyện) trung tâm tỉnh lỵ là thành phố Hà Tĩnh. Hà Tĩnh có vị trí đặc biệt quan trọng
không chỉ với cả nước, mà còn với nước bạn Lào và vùng Đông Bắc của Thái Lan.
Với bờ biển dài 137 km, trên 20 con sông lớn, nhỏ đổ ra biển và 4 cửa sông lớn Hà Tĩnh có tiềm
năng to lớn trong việc phát triển toàn diện kinh tế biển, thích hợp để xây dựng các bến cá, cảng
cá, phát triển du lịch biển Ngoài ra, Hà Tĩnh có tiềm năng di sản văn hoá phong phú, đa dạng,
có giá trị và mang bản sắc riêng, độc đáo, như khu bảo tồn thiên nhiên hồ Kẻ Gỗ và vườn quốc
gia Vũ Quang, các bãi tắm: Xuân Thành, Thiên Cầm, Thạch Hải Kỳ Ninh, Khu du lịch Nước
Sốt, Núi Hồng Lĩnh, chùa Hương Tích , có thể kết hợp với nhau thành các tuyến du lịch.
Dân số Hà Tĩnh năm 2007 là 1,280 triệu người, trong đó dân số nông thôn chiếm khoảng
88%, (cả nước là 72,9%). Mật độ dân số trung bình năm 2006 là 217 người/km
2
, cao hơn trung
bình toàn vùng Bắc Trung Bộ (207 người/km
2
), nhưng thấp hơn trung bình cả nước (254

Khê, Nhà máy liên hợp luyện thép tại Khu kinh tế Vũng Áng, Dự án thuỷ lợi, thuỷ điện Ngàn
Trươi - Cẩm Trang, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo
Các xã thuộc vùng núi cao được Nhà nước quan tâm, có chính sách đầu tư phát triển hệ
thống hạ tầng cơ sở: giao thông, thuỷ lợi và các công trình phúc lợi xã hội, góp phần xoá đói
giảm nghèo, giảm dần khoảng cách giữa miền núi với miền xuôi.
Các lĩnh vực văn hoá-xã hội được duy trì và phát triển, đạt nhiều kết quả tốt, đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; quốc phòng - an ninh bảo đảm, chính trị ổn định.
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu năm 2005-2007
Các chỉ tiêu kinh tế
Đơn vị
tính
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Tăng trưởng kinh tế
%
8,9
9,56
10,5
Thu nhập bình quân đầu người
triệu đồng
4,5
5,0
5,3
Kim ngạch xuất khẩu
triệu USD
40,86

gian qua đã đạt được thành tựu đáng kể, nhiều biện pháp xóa đói giảm nghèo đã được triển khai
và đạt kết quả tốt, trong 5 năm gần đây đã tạo việc làm cho hơn 142 nghìn người. Tỷ lệ hộ đói
nghèo giảm xuống rõ rệt, từ 28,8% năm 2000 xuống còn 10,5% năm 2005 (cả nước là 7%, theo
chuẩn cũ). Theo chuẩn nghèo mới (giai đoạn 2006-2010) thì tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 là 38,62%,
năm 2006 là 33,41%, năm 2007 là 31,86%. Đời sống của người nghèo đã được nâng lên một
bước. Nhưng nhìn chung Hà Tĩnh vẫn là một tỉnh nghèo so với bình quân cả nước. Theo chuẩn
nghèo được Thủ tướng Chính phủ ban hành áp dụng cho giai đoạn 2006-2010, thì tỷ lệ hộ đói
nghèo của Hà Tĩnh còn cao, dân cư đa số là người nghèo nông thôn, có 23% số xã có tỷ lệ nghèo
đói trên 50% và gần 40% số hộ nghèo.
2.2. Thực trạng hiệu quả xoá đói giảm nghèo của các dự án PTNT tại Hà Tĩnh thời gian
qua
2.2.1. Dự án PTNT Hà Tĩnh (HRDP)
Đây là dự án ODA do Quỹ Quốc tế về Phát triển Nông nghiệp (IFAD) tài trợ, đối tượng của dự
án là các hộ nghèo và phụ nữ tại 10 huyện của tỉnh.
Mục tiêu của dự án nhằm cải thiện thu nhập và mức sống của những hộ nghèo nông thôn và tăng
cường khả năng tham gia của họ vào quá trình phát triển, với tổng kinh phí đầu tư là 19.130.807
USD. Dự án PTNT Hà Tĩnh được thực hiện từ tháng 9/1999, kết thúc vào tháng 9/2005. Dự án
có 4 hợp phần chính:
2.2.1.1. Hợp phần phát triển tham dự
2.2.1.2. Hợp phần đa dạng hóa thu nhập.
2.2.1.3. Hợp phần cầu và đường nông thôn
2.2.1.4. Hợp phần quản lý dự án
2.2.2. Dự án hạ tầng cơ sở nông thôn dựa vào cộng đồng (CBRIP)
Đây là dự án ODA do WB tài trợ vốn cho 13 tỉnh miền trung nhằm thực hiện chương trình xoá
đói giảm nghèo giai đoạn 2000- 2010. Hà Tĩnh là một trong 13 tỉnh được dự án đầu tư với tổng
kinh phí 17.211.000 USD, trong đó vốn đối ứng 2.090.000 USD. Dự án triển khai trên địa bàn 84
xã nghèo thuộc 10 huyện.
Mục tiêu của dự án: Nâng cao năng lực cho các xã nghèo đối với việc lập kế hoạch và quản lý
các hoạt động phát triển có sự tham gia của cộng đồng; Xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở
cần thiết cho các xã nghèo. Tạo thu nhập cho người nghèo bằng cách tạo việc làm cho họ thông

phần: Phát triển hệ thống giao thông nông thôn; phát triển hệ thống thủy lợi quy mô nhỏ; phát
triển hệ thống điện nông thôn; phát triển cơ sở hạ tầng giáo dục, phát triển chợ nông thôn và
quản lý các hoạt động hành chính của dự án.
Dự án được thực hiện theo 5 mục tiêu chính

2.2.4.1. Phát triển giao thông nông thôn
2.2.4.2. Phát triển thuỷ lợi nhỏ
2.2.4.3. Phát triển giáo dục
2.2.4.4. Phát triển điện nông thôn
2.2.4.5. Phát triển chợ nông thôn
2.3. Đánh giá hiệu quả xoá đói giảm nghèo từ các dự án PTNT tại Hà Tĩnh và bài học kinh
nghiệm
2.3.1. Kết quả đạt được
2.3.1.1. Kết cấu cơ sở hạ tầng ở các vùng nghèo, vùng khó khăn được cải thiện.
2.3.1.2. Cải thiện điều kiện tiếp cận các dịch vụ cho người dân, đặc biệt là các gia đình nghèo
2.3.1.3. Năng lực, kỹ năng lao động của người dân vùng hưởng lợi được tăng cường và cải
thiện
2.3.1.4. Các dự án xoá đói giảm nghèo trên địa bàn đã góp phần đáng kể làm tăng thu nhập,
thay đổi cơ cấu chi tiêu và cải thiện đời sống cho các hộ nghèo
2.3.1.5. Tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm xuống rõ rệt
2.3.1.6. Mức độ tham gia của người nghèo vào đời sống chính trị của cộng đồng được nâng
cao một bước
2.3.2. Hạn chế và những nguyên nhân
2.3.2.1. Hạn chế
- Theo chuẩn nghèo được Thủ tướng Chính phủ ban hành áp dụng cho giai đoạn 2006-2010, thì
tỷ lệ hộ đói nghèo của Hà Tĩnh còn cao, dân cư đa số là người nghèo nông thôn, có 23% số xã có
tỷ lệ nghèo đói trên 50% và gần 40% số hộ nghèo. Ví dụ, ngay cả những hộ đã thoát nghèo theo
chuẩn cũ theo số liệu năm 2005 là 10,5% nhưng khi áp dụng chuẩn nghèo mới thì tỷ lệ này lại
tăng lên đến 38,62% [20], điều đó có nghĩa là có một bộ phận rất lớn dân cư của Hà Tĩnh đang
nằm sát ngay trên chuẩn nghèo, và như vậy thì nguy cơ tái nghèo là rất cao.

hưởng lợi. Các dự án chưa thể giải quyết hết các vấn đề khó khăn của người nghèo, vùng nghèo
một cách triệt để do hạn chế về nguồn lực. Thời gian thực hiện các dự án cũng chỉ trong một giới
hạn nhất định, do vậy người dân nghèo chưa quen với cách tiếp cận mới về vấn đề giải quyết
việc làm và xóa đói giảm nghèo để tự vươn lên thoát cảnh đói nghèo và làm giàu mà các dự án
đưa lại.
- Các nhà tài trợ muốn đồng vốn bỏ ra phát huy hiệu quả cao nên đưa ra quy định mức đóng góp
đối với người hưởng lợi để họ có trách nhiệm với các công việc của dự án cũng như trách nhiệm
của việc duy tu bảo dưỡng và vận hành công trình sau này. Vì vậy, việc phải bỏ ra một khoản
tiền lớn hoặc bỏ công sức lao động để tham gia thực hiện dự án, công trình nhưng không mang
lại lợi ích trực tiếp đến thu nhập của gia đình và bản thân là điều không dễ thực hiện đối với
những vùng còn nhiều khó khăn, vùng có tỷ lệ đói nghèo cao.
- Trình độ dân trí của các vùng nghèo thường thấp, nhận thức về tầm quan trọng của các dự án
mà Nhà nước triển khai trên địa bàn để cải thiện tình trạng nghèo đói cho chính bản thân và cộng
đồng chưa đầy đủ. Họ còn duy trì lối sống và làm việc chịu khổ nhưng không chịu khó. Việc
tham gia vào các buổi tập huấn, đào tạo do các dự án tổ chức của người dân không thường xuyên
liên tục vì sợ mất thời gian, vô bổ, ảnh hưởng đến công việc đồng áng nên các kiến thức mà các
dự án đưa lại chưa được xâu chuỗi thành hệ thống để đưa vào áp dụng trong thực tế sản xuất đời
sống.
- Sự phối, kết hợp giữa các dự án chưa cao trong việc triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục,
vì vậy chưa nâng cao nhận thức của người dân về ý nghĩa, tác dụng của các dự án một cách đầy
đủ. Công tác theo dõi, giám sát, đánh giá các dự án PTNT còn thực hiện theo yêu cầu riêng của
nhà tài trợ, các dự án còn đánh giá riêng lẻ theo từng mục tiêu, chương trình của mình. Mặc dù,
tỉnh đã thành lập một Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm nhưng Ban này
chưa phát huy hết quyền hạn và trách nhiệm hoặc do chưa được trao quyền quản lý các dự án
này nên không thể đánh giá một cách toàn diện về tác dụng, ý nghĩa của các dự án xóa đói giảm
nghèo triển khai trên địa bàn toàn tỉnh.
- Việc chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới trong
vấn đề giảm nghèo có hiệu quả hơn. Mức sống thấp của người nghèo nông thôn là kết quả của 2
yếu tố chủ yếu, đó là sự yếu kém của thị trường hoặc sự tê liệt của thị trường. i) Thứ nhất, đó là
tiềm năng hạn chế cho việc tăng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp; ii) Thứ hai, đó là các cơ hội

lấy thị trường làm trung tâm của các hoạt động xúc tiến, hỗ trợ. Những mô hình phát triển thị
trường phải chú trọng vào việc cải thiện các mối liên kết giữa các bên tham gia thị trường, tạo
dựng một môi trường có hiệu quả cho thị trường, cung cấp thông tin và các quá trình lập kế
hoạch và phát triển các những cơ cấu tổ chức có hiệu quả. Mô hình phát triển thị trường này là
một cách tiếp cận tổng thể đối với hệ thống thị trường, và việc phát triển các hệ thống thị trường
nên nhằm mục đích tối đa hoá sự tham gia của các bên liên quan trong khu vực nông thôn, bao
gồm cả người nghèo.
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TRONG
CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TẠI HÀ TĨNH
3.1. Đánh giá tổng hợp những thuận lợi, khó khăn ảnh hƣởng đến quá trình phát triển kinh
tế-xã hội của tỉnh
3.2. Phƣơng hƣớng, mục tiêu và quan điểm về xóa đói giảm nghèo của tỉnh Hà Tĩnh đến
năm 2010 3.2.1. Phương hướng
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XVI nêu rõ: "…Đẩy mạnh thực hiện
Nghị quyết 02 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá XV) về xoá đói giảm nghèo, giải quyết
việc làm gắn với xây dựng nông thôn mới ".
3.2.2. Mục tiêu chủ yếu
- Phấn đấu đến năm 2010 giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 12%.
- Ngói hoá nhà ở cho 3.000 hộ nghèo/năm.
- 100% hộ thuộc diện chính sách ưu đãi có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống của
cộng đồng nơi họ cư trú.
- 100% xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn được đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu.
- 100% số hộ nghèo được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như: (xem truyền hình, đọc
sách, nghe đài, đọc báo…)
- 100% người nghèo được khám chữa bệnh miễn phí và 100% học sinh con hộ nghèo được
miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường lớp.
3.2.3. Quan điểm về xóa đói giảm nghèo khi xây dựng các giải pháp

chương trình (theo lĩnh vực, theo địa bàn).
Ngoài ra, cần sử dụng kết hợp hài hòa với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong quá
trình phát triển kinh tế- xã hội cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo để chúng bổ sung cho nhau,
cộng hưởng với nhau.
3.3.3. Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao hiệu quả các đợt tập
huấn, các khóa đào tạo
Các dự án cần thiết kế các hợp phần các khóa đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao hiệu quả, như
chuẩn bị tốt về chương trình, nội dung, tài liệu, kinh phí, giáo viên, địa điểm đồng thời bố trí
vào các thời gian thích hợp để mọi người trong đối tượng mục tiêu hay các đối tượng được lựa
chọn có thể tham gia đầy đủ.
Đối với các dự án PTNT, nhất là các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất nên thiết kế hạng mục đào
tạo, tập huấn nghiêng về hướng dẫn cách làm ăn, phổ biến kỹ thuật mới cho người nghèo; đảm
bảo hình thành hệ thống thông tin, ngân hàng dữ liệu về xóa đói giảm nghèo, nắm tình hình biến
đổi của các đối tượng nghèo: hộ nghèo, xã nghèo làm cơ sở cho việc đánh giá xây dựng các
phương án, lựa chọn mô hình, tổ chức hướng dẫn cách làm ăn, phổ biến kiến thức
Các khóa đào tạo cần lựa chọn được các đối tượng là cán bộ thôn xóm để họ có thể truyền đạt,
đào tạo lại cho mọi người dân trong thôn, xóm; đặc biệt là hình thành các nhóm hỗ trợ người
nghèo ở cộng đồng, nhóm công tác tự nguyện vì người nghèo và các hình thức khác đảm bảo cho
khoảng 70-80% hộ đói nghèo, đặc biệt chú ý chủ hộ là phụ nữ, được tiếp nhận kỹ thuật mới,
được phổ biến cách làm ăn, dạy nghề để họ có thể tự vươn lên sản xuất có hiệu quả hơn, biết chi
tiêu ở gia đình hợp lý, tiết kiệm.
Nội dung hướng dẫn cách làm ăn, chuyển giao công nghệ cho hộ nghèo có thể bao gồm: giúp hộ
lựa chọn các loại cây trồng, vật nuôi, hoặc ngành nghề phù hợp với điều kiện thực tế của từng
địa phương và khả năng của từng hộ gia đình; phổ biến những kiến thức, kỹ thuật, quy trình sản
xuất, kinh doanh dịch vụ tại chỗ thông qua các mô hình thực tế thích hợp với điều kiện của từng
địa phương, nâng cao năng suất lao động và đảm bảo môi trường.
3.3.4. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng
Các hoạt động của dự án cần thiết kế theo cách thức nhằm khuyến khích sự tham giam của cộng
đồng và phân cấp, tránh kiểu hình thức áp đặt từ trên xuống. Cần tránh việc yêu cầu quá nhiều
đóng góp của cộng đồng trong tất cả các loại công trình cơ sở hạ tầng dân dụng, để đạt mục tiêu

công cuộc xoá đói giảm nghèo và lồng ghép giới;
- Về mặt lập kế hoạch, chú trọng vào cấp xã hơn là chú trọng cấp thôn hoặc các hộ gia đình cá
thể, nhưng phải đảm bảo có sự tham gia của các hộ gia đình, các thôn và các nhóm đối tượng
khác nhau trong việc đưa ra quyết định và thực hiện các quyết định;
- Tránh áp dụng phương pháp tiếp cận cả gói, mỗi một dự án chỉ hỗ trợ các hoạt động mà nó có
nhiều lợi thế so sánh;
- Đảm bảo thiết kế dự án phải linh hoạt, nhất là về thủ tục tài chính;
- Thiết kế các hoạt động có thể hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho các mối liên
kết và thông tin qua lại giữa các hoạt động với nhau;
- Thiết kế dự án đơn giản về cả tổ chức thể chế và vận hành.
3.4. Kiến nghị
3.4.1. Về phía Trung ương
- Hà Tĩnh là tỉnh nghèo, còn nhiều khó khăn, nguồn thu ngân sách hàng năm còn nhỏ bé, thu
không đủ chi, phải nhận nguồn trợ cấp từ ngân sách Trung ương khá lớn. Vì vậy, đề nghị Chính
phủ, các Bộ, ngành Trung ương tiếp tục quan tâm tạo điều kiện định hướng và điều phối cho Hà
Tĩnh các dự án ODA, đặc biệt là về PTNT và xóa đói giảm nghèo để đầu tư phát triển hạ tầng
kinh tế, nâng cao năng lực và đời sống nhân dân, nhất là người nghèo; đồng thời cân đối hỗ trợ
nguồn đối ứng cho các dự án ODA nói chung, các dự án xóa đói giảm nghèo nói riêng để Hà
Tĩnh triển khai thực hiện các dự án đạt hiệu quả cao hơn.
- Thường xuyên rà soát đánh giá các xã đã hoàn thành mục tiêu xóa đói giảm nghèo để có chính
sách động viên, khen thưởng kịp thời, nhưng cũng có biện pháp để tránh "bệnh thành tích"; đồng
thời bổ sung các xã còn khó khăn để đưa vào danh mục các xã ưu tiên đầu tư, nhất là các vùng có
nhiều hộ chỉ sống trên mức đói nghèo và có nhiều nguy cơ rơi vào đói nghèo khi thay đổi chuẩn
nghèo.
- Kịp thời có các văn bản hướng dẫn, các chủ trương, chính sách, quy định của nhà nước về xóa
đói giảm nghèo, PTNT phù hợp với tình hình thực tế địa phương.
3.4.2. Về phía các nhà tài trợ
- Trong quá trình thiết kế các dự án PTNT, các nhà tài trợ cần tạo điều kiện cho các bên
liên quan (người hưởng lợi, các cơ quan thực hiện ) được tham gia để nâng cao tính tự chủ và
hiểu biết của họ về thiết kế cuối cùng của dự án. Đồng thời, cần dựa vào các quy định hiện hành

trợ của các tổ chức quốc tế như: WB, ADB, IFAD, UNDP Trong đó, tác động của các dự án
PTNT triển khai thực hiện trên địa bàn là không nhỏ.
Với những nội dung nghiên cứu trong luận văn, tác giả mong muốn góp phần đánh giá hiệu quả
xóa đói giảm nghèo của các dự án PTNT tại Hà Tĩnh, góp phần nâng cao hiệu quả xóa đói giảm
nghèo của các dự án PTNT Hà Tĩnh trong thời gian tới. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, trình
độ lý luận và kinh nghiệm nghiên cứu, hơn nữa đây là một vấn đề rộng, phức tạp, mang tính đa
chiều, vì vậy Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tác giả rất mong nhận
được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, các đồng nghiệp quan tâm
đến lĩnh vực này. References
Tiếng Việt
1
ADB (2007), Chiến lược và chương trình quốc gia Việt Nam 2007- 2010, Hà Nội.
2
ADB, AusAID, DFID, GTZ, JICA, UNDP, WB (2003), Nghèo, Báo cáo chung của
các nhà tài trợ Việt Nam, Hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam, Hà Nội.
3
Báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 1999-2004 (2004), Những thay đổi và xu
hướng chủ yếu, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4
Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (1993), Đói nghèo ở Việt Nam, Nxb Lao động,
thương binh và Xã hội, Hà Nội.
5
Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (2005), Phương pháp xác định chuẩn nghèo.
Hà Nội.
6
Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (2006), Tài liệu tập huấn cán bộ giảm nghèo
2006, Nxb Lao động.

Tổng cục thống kê (2007), Niên giám thống kế năm 2006, Nxb Thống kê.
18
Trung tâm KHXH & NVQG (2000), Phát triển con người từ quan niệm đến chiến
lược hành động, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
19
Trung tâm KHXH & NVQG (2000), Tư duy mới về phát triển cho thế kỷ XXI, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
20
UBND tỉnh Hà Tĩnh (2007), Báo cáo tình hình thực hiện các chương trình, dự án
ODA trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2001- 2006, phương hướng nhiệm vụ 2007-
2010. Hà Tĩnh.
21
UBND tỉnh Hà tĩnh (2008), Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-
xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020. Hà Tĩnh.
22
UNDP (2005), Báo cáo phát triển Việt Nam 2004, Hà Nội.
23
UNDP (2006), Báo cáo giám sát hàng năm, báo cáo đánh giá giữa kỳ, báo cáo kết
thúc Dự án VIE/01/023- UNDP.
24
Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XVI.
25
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng.
26
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng.
27
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng.
28
WB (2002) Toàn cầu hoá, tăng trưởng và nghèo đói - xây dựng một nền kinh tế thế
giới hội nhập, Nxb VHTT.

Development in Vietnam (2007), Collection of Master Theses on Rural
Development (Volume 2), Agriculture Publishing House, Hanoi, Vietnam, 2008.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status