Tiểu luận vấn đề phát triển kinh tế trang trại vùng trung du và miền núi phía bắc thực trạng và giải pháp - Pdf 37

LI M U

Nhỡn li chng ng phỏt trin ca nn nụng nghip Vit Nam, ó thy
Vit Nam t mt t nc b thiu lng thc trin miờn tr thnh mt trong
nhng nc xut khu nụng sn hng u th gii nh: chố, c phờ, cao su,
go S phỏt trin vt bc ny l kt qu ca cỏc cuc ci cỏch v ch yu
da trờn kinh t nụng h m nay ó tr thnh nhng trang tri ln trong sn xut
nụng nghip.
Kinh t trang tri ra i, thay th kinh t nụng h l mt tt yu khỏch
quan, phự hp vi yờu cu ca th trng, ca quy lut phỏt trin. Tuy mi xut
hin trong nhng nm gn õy song kinh t trang tri ó to ra s phỏt trin mi
trong nụng nghip nụng thụn, to iu kin thun li nụng nghip nc ta
chuyn nhanh sang sn xut hng hoỏ.
Kinh t trang tri phỏt trin nhanh hu ht cỏc vựng, cỏc tnh trong c
nc. c bit nhng nm gn õy vựng trung du v min nỳi phớa Bc ó
hỡnh thnh v phỏt trin kinh t trang tri rt a dng c v ni dung v hỡnh
thc. Hot ng ch yu l sn xut nụng nghip, lõm nghip, nuụi trng thu
sn. Tuy hỡnh thc ny cũn phỏt trin t phỏt, thiu quy hoch, nh hng v
thiu thụng tin nh lng. Mt khỏc bn thõn min nỳi cng cú rt nhiu khú
khn v v trớ a lý , giao thụng i li khú khn, kinh t cũn chm phỏt trin.
tp trung phỏt trin mụ hỡnh kinh t trang tri trong vựng cn phi ra c
nhng gii phỏp cn thit, a hot ng sn xut i ỳng hng v phỏt
trin ton din, to cho phỏt trin nụng nghip núi riờng v phỏt trin kinh t
c nc núi chung, c bit l khi nn kinh t nc ta ang trong quỏ trỡnh hi
nhp. ú l lý do em chn ti: vấn đề phát triển kinh tế

trang trại vùng Trung Du và Miền Núi

phía Bắc - thực trạng

và giải pháp

Đặc trng thứ hai của trang trại là quy mô sản xuất và thu nhập của trang trại lớn
hơn quy mô trung bình của kinh tế hộ tại địa bàn:
Sản xuất hàng hóa đòi hỏi một số điều kiện nhất định, trong đó quy mô

2


sản xuất tơng đối lớn là một trong những điều kiện đó. Đó là tiêu chí định hớng
về quy mô sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản. Tuy nhiên, quy mô sản xuất phụ
thuộc và từng ngành, từng lĩnh vực và từng vùng cụ thể. ở Việt Nam hiện nay có
thể quy định quy mô trang trại với từng ngành cụ thể nh sau:
Đối với trại trồng các loại cây hàng năm nh lúa, ngô, mía, lạc các tỉnh
miền Bắc phải có diện tích từ 2 triệu ha trở lên, các tỉnh Nam Bộ phải có diện
tích từ 3 ha trở lên hoặc xấp xỉ mức đó. Quy mô này xoay quanh mức hạn điền
quy định trong luật đất đai năm 1993 đối với từng vùng.
Đối với trang trại trồng các loại cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả,
nh: chè, cà phê, cao su, điều, cam, dứa, xoài, nhãn, vải, chôm chôm các tỉnh
miền Bắc phải có diện tích từ 3 ha trở lên, riêng đối với trang trại hồ tiêu phải có
ít nhất 1 ha.
Đối với trang trại chăn nuôi trâu, bò phải có từ 50 con trở lên, lợn là 100
con trở lên( không kể lợn sũa ), gia cầm có từ 2000 con trở lên, không tính số
con dới 7 ngày tuổi.
Đối với trang trại lâm nghiệp phải có từ 10 ha trở lên.
Đối với các trang trại nuôi trồng thủy sản phải có từ 2 ha mặt nớc trở lên.
Riêng trang trại nuôi trồng thủy sản giống ít nhất là 1 ha mặt nớc
Đặc trng thứ ba của trang trại là có sử dụng lao động làm thêm:
Sản xuất hàng hóa có quy mô lớn, các chủ trang trại không thể chỉ sử dụng
lao động gia đình mà nhất thiết phải có thuê mớn nhân công, nhất là vào thời vụ
gieo trồng, thu hoạch. Đó là xu hớng phổ biến của bất kỳ nền sản xuất hàng hóa
nào, ngành sản xuất nào.

+ Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất lấy việc khai thác tiềm năng và
lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm phơng thức sản xuất chủ yếu. Vì vậy,
nó cho phép huy động, khai thác đất đai, sức lao động và các nguồn lực khác
một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả. Nhờ vậy, nó góp phần tích cực thúc đẩy
tăng trởng , phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
+ Trang trại với kết qủa và hiệu quả sản xuất cao góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao,
khắc phục dần tình trạng manh mún, tạo vùng chuyên môn hóa, tập trung hóa
cao, đẩy nhanh nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa.

4


+ Qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại tạo ra nhiều nông
sản, nhất là các nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp. Vì vậy trang trại góp
phần thúc đẩy công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở
nông thôn phát triển.
+ Trang trại là đơn vị sản xuất có quy mô lớn hơn kinh tế hộ, vì vậy có
khả năng áp dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản
xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
+ Với cách thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh tiên tiến, trang
trại là nơi tiếp nhận và truyền tải các tiến bộ khoa học và công nghệ đến hộ
thông qua chính hoạt động sản xuất của mình.
+ Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại làm tăng hộ giàu trong nông
thôn, tạo việc làm và tăng thu nhập góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng
nông thôn, là tấm gơng cho các hộ nông dân về cách thức tổ chức kinh doanh
tiên tiến và có hiệu quảTất cả những điều đó góp phần quan trọng giải quyết
các vấn đề kinh tế, xã hội nông thôn.
1.3 tiêu chí nhận dạng trang trại
Tiêu chí nhận dạng trang trại là những chỉ tiêu mang tính định lợng để

sữa), dê thịt từ 200 con trở lên.
- Chăn nuôi gia cầm ( gà, vịt, ngan, ngỗng) có th ờng xuyên từ 2000 con
trở lên( không tính số đầu con dới 7 ngày tuổi).

Trang trại nuôi trồng thủy sản
Diện tích mặt nớc để nuôi trồng thủy sản có từ 2 ha trở lên ( riêng đối với
nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên).

Đối với các loại sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tính
chất đặc thù nh: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản và đặc
sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lợng hàng hóa.
1.4/ các điều kiện ra đời và phát triển của trang trại trong nền kinh tế
thị trờng
Để cho các trang trại ra đời và phát triển cần có các điều kiện sau:
- Các điều kiện về môi trờng kinh tế và pháp lý:
+ Có sự tác động tích cực và phù hợp của nhà nớc
+ Có quỹ ruộng đất cần thiết và chính sách để tập trung ruộng đất
+ Có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến

6


+ Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng, trớc hết là giao thông,
thủy lợi.
+ Có sự hình thành vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hóa.
+ Có sự phát triển nhất định của các hình thức liên kết kinh tế trong nông
nghiệp.
+ Có môi trờng pháp lý thuận lợi cho trang trại ra đời và phát triển.
- Các điều kiện đối với trang trại và chủ trang trại:
+ Chủ trang trại phải là ngời có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nghề nông.

sản xuất thực phẩm trọng điểm xung quanh đô thị, khu công nghiệp, gần thị trờng tiêu thụ.
+ Trang trại sản xuất cây công nghiệp : chè, cà phê, cao su, mía th ờng
phát triển ở vùng cây công nghiệp, gắn với hệ thống chế biến.
+ Trang trại sản xuất cây ăn quả nằm ở vùng cây ăn quả tập trung, có cơ
sở chế biến và thị trờng tiêu thụ thuận lợi.
+ Trang trại nuôi trồng sinh vật cảnh thờng phát triển ở gần các khu đô thị,
các khu du lịch lớn, thuận tiện cho việc tiêu thụ.
+ Trang trại nuôi trồng cây đặc sản: hơu, rắn, ba ba, dênằm ở những nơi
thuận lợi thuận lợi cho nuôi trồng và tiêu thụ
+ Trang trại chăn nuôi đại gia súc : trâu, bò , gia súc: lợn, hoặc gia cầm.
Có thể chăn nuôi tổng hợp hoặc chuyên môn hóa từng loại gia súc.
+ Trang trại kinh doanh nông lâm nghiệp tổng hợp, thờng phát triển ở các
vùng trung du và miền núi có điều kiện về đất đai và hạn chế thị trờng tiêu thụ.
+ss Trang trại kinh doanh nông, công nghiệp, dịch vụ đa dạng, nhng hoạt
động nông nghiệp vẫn là chủ yếu.

8


II./ thực trạng kinh tế trang trại ở trung du và
miền núi phía bắc
Trung du và miền núi phía Bắc là vùng đất rộng, ngời tha, kinh tế chủ yếu
dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp truyền thống mang nặng tính tự cấp tự túc.
Đất đai vùng này chủ yếu là đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp. Trong số 10.5
triệu ha diện tích đất tự nhiên có 1,2 triệu ha đất nông nghiêp, 2,8 triệu ha đất
lâm nghiệp ( 2,1 triệu ha rừng tự nhiên ). Diện tích đất có khả năng nông, lâm
nghiệp còn rất nhiều ( 5,9 triệu ha). Đó là tiềm năng lớn, là điều kiện quan trọng
để phát triển trang trại.
Trong những năm đổi mới, dới tác động của cơ chế và chính sách mới của
Đảng và nhà nớc, nhất là cơ chế hộ tự chủ , chính sách giao đất, giao rừng cho hộ

trung du, miền núi phía Bắc cũng bộc lộ những hạn chế yếu kém, đó là tốc độ
tăng chậm so với các vùng khác trong cả nớc. bình quân năm 2003- 2006số lợng
trang trại tăng khoảng10,8% trong khi đó ở vùng đồng bằng sông Hồng tăng
11,6%, vùng đông nam bộ tăng khoảng 30,6%, vùng Tây nguyên tăng 46,6%. Số
lợng trang trại chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 4,85% so với tổng số 110.813 trang trại
của cả nớc ( riêng vùng tây bắc chỉ khoảng 0,36% ). Quy mô nhỏ, trong tổng số
3336 trang trại đợc điều tra năm 2005 có tới 57,2% quy mô dới 5 ha; Cơ cấu chủ
yếu là trồng trọt chiếm 65,92% ( trong đó có 21,48% trang trại trồng rừng). Hiệu
quả kinh tế xã hội còn thấp , giá trị hàng hóa dịch vụ bán ra bình quân một trang
trại là 65,39 triệu đồng ( cả nớc là 112,56 triệu đồng), bằng 33,83% so với vùng
đồng bằng sông Hồng và bằng 86,32% so với vùng đông nam bộ.

Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Phú Thọ:
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi nằm ở đỉnh tam giác châu thổ sông
Hồng, nối liền giữa Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc, có diện tích tự nhiên
347.679,86 ha, dân số 1.288.799 ngời và mật độ dân số 386,5 ngời / km2 ( năm
2003). Nhìn chung Phú Thọ là tỉnh nhiều đồi núi ( chiếm 65,37% diện tích tự
nhiên ), địa hình đa dạng và phong phú góp phần phát triển nhanh kinh tế trang
trại trong tỉnh/
Theo số liệu báo cáo của tổng cục thống kê đến 6/8/2005 toàn tỉnh Phú Thọ có
450 trang trại, tăng 258 trang trại so với năm 2004
+ Phân theo loại hình sản xuất:

10


2003 đến năm 2004: số lợng trang trại toàn tỉnh đã tăng lên đáng kể, trong đó
tăng nhanh nhất là trang trại nuôi trồng thủy sản, và trang trại lâm nghiệp.
+ Quy mô đất của trang trại:
bảng: quy mô cơ cấu đất trong trang trại tỉnh Phú Thọ qua nhiều năm


12,8

2006
Tỷ lệ %
12,4
57,5
30,1
100,0

Trong cơ cấu đất của các trang trại ở tỉnh Phú Thọ, đất lâm nghiệp chiếm
tỉ lệ cao sau 2 năm phát triển kinh tế trang trại, số lợng trang trại trong tỉnh tăng
lên nhng quy mô, diện tích của trang trại giảm dần diện tích bình quân trang trại
giảm từ 17,8 ha ( 2006) xuống còn 12,8 ha (2005)
Về lực lực lợng lao động của trang trại: phần lớn trang trại sử dụng lao
động của gia đình là chính và thuê thêm lao động theo thời vụ để sản xuất, thu
hoạch sản phẩm. Năm 2005 tổng số lao động của trang trại 1.423 ngời ( nh vậy
bình quân mỗi trang trại có 2,5 lao động ). Lao động thuê ngoài thờng xuyên 395
lao động ( bình quân mỗi trang trại có 2,1 lao động thuê thờng xuyên ), lao động
thuê ngoài thời vụ 543 lao động. Hình thức trả công lao động theo thỏa thuận
giữa 2 bên, hợp đồng lao động bằng miệng là chủ yếu. Giá tiền công thuê theo
thời vụ từ 15.000 20.000 đ/ngày. Thuê lao động thờng xuyên trả công công
theo tháng 600- 700 ng đ/tháng
+ Về vốn đầu t của trang trại : Tổng số vốn đầu t đến ngày 1/8/2005 là
17.292,2 triệu đồng. Bình quân mỗi trang trại đã đầu t 85,44 triệu bình quân mỗi
trang trại vay 21,37 triệu đồng.

11



Thị xã Nghĩa Lộ

Số trang trại
1930
1712
1348
944
818
393
50
14
13

Tỷ lệ / hộ nn-nt
12,5%
8,3%
6,7%
3,6%
5,1%
12,1%
2,0%
0,3%
1,0%

Nh vậy các trang trại sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản đợc hình thành và
phát triển ở cả 9 huyện, thị xã trong tỉnh với 158 xã, phờng toàn tỉnh, đợc phát
triển ở tất cả các vùng trong tỉnh từ vùng thấp có điều kiện sản xuất thuận lợi đến
các xã vùng cao kinh tế khó khăn.
Chủ trang trại chủ yếu là nông hộ
Về cơ cấu của chủ trang trại:


2,8%

- Chăn nuôi:

287





4,0%

- Nuôi trồng thủy sản:

11





0,2%

- Lâm nghiệp:

683






- Từ 2 đến dới 10 ha:

108





38,0%

- Từ 3 đến dới 10 ha:

44





15,5%

- Từ 10 ha trở lên:

13





4,6%

20,7%
6,9%

Tổng số trang trại trồng cây lâu năm và cây ăn quả có 203 trang trại,
chiếm 2, 8% bình quân 1 trang trại có 3, 7 ha trồng cây lâu năm. Loại trang trại
này đợc phát triển ở khắp các địa bàn của tỉnh, chủ yếu tập trung vào trồng các
loại cây: quế, chè, nhãn, cam, bởi. Hiện nay đã hình thành nên một số vùng
chuyên canh nh vùng quế ở Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn; Vùng chè: Yên
Bình, Văn Chấn, Trấn Yên, Thị xã Yên Bái; Vùng trồng cây ăn quả: Văn Chấn,
Lục Yên, Yên Bình. Hàng năm đã sản xuất một lợng hàng hóa cho xuất khẩu và
cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến của tỉnh. Điển hình là trang trại
ông Phúc chyên canh cây cà phê cho huỵện Yên Bình, trang trại trồng chè của
ông Ngô Cao Qúy huyện Văn Chấn, trang trại trồng cây ăn quả của ông Phạm
Hồng Thất, ông Bốn, bà Hụê huyện Văn Chấn, trang trại trồng quế của ông
Nguyễn Văn Tham, ông Hòang Ngọc Lân, ông Lý Kim Thang huyện Văn
Yên.
So với cả nớc các trang trại trồng cây lơng thực đã góp phần đa ngành lơng
thực nớc ta từ chỗ sản xuất không đủ ăn nay đã có d thừa để xuất khẩu. Trong 10

14


năm qua xuất khẩu lơng thực bình quân đạt 3 triệu tấn/ năm. Trong nông nghiệp
đã xuất hiện nhiều trang trại trồng cây công nghiệp, cây ăn qủa và nuôi trồng
thủy sản, nhờ đó đã tạo ra nhiều sản phẩm xuất khẩu góp phần tăng thu ngoại tệ
cho đất nớc. Nổi bật là một số mặt hàng nh cao su, cà phê, hạt điều, thủy sản.
kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản tăng nhanh nhất trong 10 năm gần đây: Nếu
năm 1990 tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản chỉ đạt trên 1,1 tỷ USD thì đến
năm 2005 đã lên tới gần 6 tỷ USD. Kết quả xuất khẩu một số nông sản chính nh
sau:



60,4%

- Từ 10 ha đến dới 20 ha:

101



14,8%

- Từ 20 ha đến dới 50 ha:

34





5,0%

- Từ 50 ha đến dới 100 ha:

2






trồng phù hợp với từng vùng sinh thái. Các mô hình trang trại đã thể hiện sự kết
hợp lấy ngắn nuôi dài; sử dụng mô hình canh tác đất dốc hợp lý nh trên đỉnh đồi
độ dốc cao thì trồng rừng, giữa trồng chè, cây ăn quả, thấp hơn trồng cà phê, đất
bằng trồng cây lơng thực, thực phẩm. Ruộng lầy thụt hoặc ớm bang thì đào ao,
đắp đập thả cá. Đồng thời lấy việc thâm canh và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật nh giống mới có năng suất cao, sử dụng phân hữu cơ và vô cơ với tỷ lệ
thích hợp, biết cách chăm sóc và bảo vệ cây trồng tốt nên kết quả sản xuất
kinh doanh của các chủ trang trại đạt hiệu quả khá.
Trang trại có sử dụng lao động làm thuê nhng với số lợng ít
Bình quân 1 trang trại có gần 3 lao động. Đối với các trang trại có quy mô từ
5 ha trở xuống chủ yếu dùng lao động của gia đình mình và kết hợp với làm đổi
công trong lúc thời vụ khẩn trơng. Đối với các trang trại có từ 50-10 ha, ngoài
lao động gia đình và đổi công trong lúc thời vụ còn thuê mớn từ 2-5 lao động
trong thời gian từ 1-3 tháng. Đối với trang trại có quy mô từ 10 ha trở lên, ngoài
việc sử dụng lao động trong gia đình còn phải thuê mớn lao động làm thời vụ
hoặc lao động thờng xuyên từ 5-10 lao động. Riêng trang trại ông ông Đỗ Thập,
huyện Yên Bình, thuê khoán thờng xuyên gần 100 lao động trong năm. về chế
độ trả công lao động thuê mớn nhìn chung tơng ứng với công sức lao động bỏ ra
ở vùng nông thôn. giá trị 1 ngày lao động thu đợc từ 10-15 nghìn đồng.
Nh vậy, các hộ trang trại đã tạo công ăn việc làm ổn định và có thu nhập cho
gia đình mình, đồng thời thu hút thêm một phần lao động nhàn rỗi trong nông
thôn.

16


Vốn đầu t chủ yếu là vốn tự có
Qua điều tra gần 400 hộ trang trại có quy mô sản xuất tơng đối lớn của các
mô hình trang trại nh trang trại cây hàng năm từ 2,0 ha trở lên, trang trại cây lâu
năm từ 3,0 ha trở lên, trang trại lâm nghiệp từ 10.0 ha trở lên cho thấy vốn bình

44,6%

+ Trang trại lâm nghiệp

59,0%

+ Trang trại thủy sản

77,8%

+ Trang trại tổng hợp

57,0%

Tổng số

55,1%

Nh vậy sản phẩm hàng hóa của trang trại chiếm 55, 1% so với tổng giá trị
thu của trang trại và giá trị hàng hóa bán ra của trang trại đều tăng qua các năm:
giá trị sản phẩm bán ra năm 2006 so với năm2005 là 221,6%, sản phẩm hàng
hóa năm 2006 so với năm 2005 là 181,9%. Theo đánh giá của các huyện, thị, sản
phẩm hàng hóa bán ra của các trang trại bao gồm: chè búp tơi bán năm 2005
chiếm 16,0% sản lợng chè toàn tỉnh, quế vỏ chiếm 30,0%, gỗ rừng trồng cung
cấp cho công nghiệp chế biến của tỉnh là 30,0%
Nhìn chung sản phẩm sản xuất ra của các chủ trang trại khi tiêu thụ trên thị
trờng ổn định, giá cả hợp lý, nh búp chè tơi. Một số sản phẩm tiêu thụ còn khó
khăn, thị trờng không ổn định, giá thấp và còn bị ép giá nh: gỗ nguyên liệu giấy,
quế vỏ, một số sản phẩm chăn nuôi. Sản phẩm bán ra của trang trại chủ yếu
bán ở dạng sản phẩm thô ( 96,7%), cha có sự chế biến để làm tăng giá trị sản

0,23%

- Từ 100 triệu đến 500 triệu

2





0,07%

Theo kết quả điều tra thu nhập của kinh tế trang trại năm 2005 đạt 112,1 tỷ
đồng, bình quân 1 trang trại là 17,4 triệu đồng. Trong các mô hình trang trại,
trang trại trồng cây lâu năm(21,5 triệu đồng), trang trại thủy sản ( 23,0 triệu
đồng) đạt kết quả bình quân có khá hơn. Tuy mức thu nhập chủ yếu của kinh tế
trang trại tập trung ở mức dới 50,0 triệu đồng, song có một số trang trại bớc đầu
đã thu đợc kết quả khá Qua kết quả điều tra cho thấy thu nhập của kinh tế
trang trại qua các năm đều tăng khá nh : thu nhập năm 2005 so với năm 2004
tăng 20,1%, thu nhập năm 2006 so với năm 2005 tăng 36,5%. Thu nhập bình
quân 1 nhân khẩu của trang trại năm 2005 đạt 5,2 triệu đồng/năm, 454 nghìn
đông/tháng, cao gấp 2,7 lần thu nhập bình quân của nông dân trên cùng địa bàn
nông thôn.
Đóng góp cho nhà nớc còn ít
Xuất phát từ đặc điểm các trang trại nông, lâm nghiệp, thủy sản hiện nay đợc
hình thành trên các vùng đất hoang hóa hoặc khô cằn, chủ trang trại phải đầu t
vốn và lao động để cải tạo đất, xây dựng cơ sở hạ tầng và lấy trồng cây lâu năm,
sản xuất nông, lâm kết hợp làm hớng chính, nên phần đóng góp cho Nhà nớc còn
hạn chế. Năm 2005, bình quân 1 trang trại nộp thuế 0,5 triệu đồng, trong đó
trang trại trồng cây hàng năm 0,3 triệu đồng, cây lâu năm đã thu hoạch 0,2 triệu

bình quân 1 trang trại là 38 triệu đồng/1năm, trong đó 59% muốn vay tín dụng
nhà nớc. 28% số trang trại có nhu cầu mở rộng diện tích đất và đợc nhà nớc cho
thuê để sử dụng lâu dài. Nhu cầu về đất bình quân 1 trang trại hiện nay là 24 ha.
Về vấn đề phát triển sản xuất, phát triển thêm ngành nghề thì có 72% trang
trại chỉ làm nông, lâm nghiệp, thủy sản, 54% không muốn phát triển ngành nghề
dịch vụ. Nguyên nhân chủ yếu của xu hớng này do thiếu vốn, thiếu sự hỗ trợ của
nhà nớc và nhất là khó khăn về đầu ra, 97% sản phẩm trang trại chỉ bán ở dạng
thô, 37,4% sản phẩm bán qua thơng lái, 61% sản phẩm bán với giá thấp, cha hợp
lý.
Gần 40% số chủ trang trại có nguyện vọng mở rộng sản xuất kinh doanh, lấy
nông, lâm nghiệp làm hớng chính. Để mở rộng sản xuất ngành nghề, các chủ
trang trại có nguyện vọng đề nghị Nhà nớc hỗ trợ vốn, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ

20


giống cây, con, nâng cấp cơ sở hạ tầng, nhất là đờng ô tô, điện lới, thủy lợi và
hợp pháp hóa quỹ đất của các chủ trang trại đã khai hoang, phục hóa hoặc nhận
chuyển nhợng từ các hộ khác dới nhiều hình thức tự phát hợp tình nhng cha đủ
cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, nguyện vọng này cũng không giống nhau giữa các loại
trang trại và các địa phơng: 68,3% số chủ trang trại có nguyện vọng là Nhà nớc
hỗ trợ vốn. Sau vốn, vấn đề tiêu thụ sản phẩm của các trang trại đang nổi lên và
trở thành yêu cầu bức xúc, nhất là các trang trại trồng và chế biến chè. Tuy vậy,
do các trang trại chủ yếu là trồng rừng, chăm sóc rừng, sản phâm hàng hóa cha
nhiều nên vấn đề tiêu thụ săn phẩm cha bức xúc nh các địa phơng khác, chỉ có
8,2% số trang trại loại này đề nghị Nhà nớc hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm.
Các nguyện vọng khác nh hỗ trợ kỹ thuật, đầu t cơ sở hạ tầng, hợp pháp hóa
quỹ đất, quan tâm của chính quyền địa phơng và cơ sởcũng đợc các chủ trang
trại đề cập ở mức độ khác nhau, nhng cha phổ biến nh vấn đề vốn tiêu thụ sản
phẩm.

sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn với tính chất không rõ ràng, không
nhất quán và thiếu đồng bộ trong cơ chế, chính sách và luật pháp hiện hành.
Thực tế là các trang trại hiện nay đang đứng trớc rất nhiều khó khăn trong
quá trình phát triển, trong đó rõ nét nhất là:
- Cha đợc nhà nớc thừa nhận về mặt pháp lý, nên cha có t cách pháp nhân
trong quan hệ giao dịch với các cơ quan nhà nớc và các tổ chức kinh tế, nhất là
với ngân hàng. Thực tế chủ trang trại chỉ đợc xem là một chủ hộ nông dân bình
thờng, trong khi đó quy mô sản xuất của chủ trang trại lớn gấp hàng trăm, thậm
chí hàng ngàn lần so với chủ hộ nông dân, nhất là vốn. Thiếu t cách pháp nhân,
chủ trang trại phải chịu thiệt thòi về nhiều mặt, do đó họ cha yên tâm và không
có điều kiện để mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Các chủ trang trại đều có quy mô ruộng đất vợt hạn điền theo quy định của
luật đất đai sửa đổi năm 1993. Hầu hết quỹ đất của trang trại là do khai hoang,
phục hóa, và nhận chuyển nhợng từ nguồn vốn và lao động của gia đình họ. Đó
là quỹ đất đợc tích tụ hợp lý, hợp tình nhng lại cha đợc luật pháp thừa nhận. Đến
nay Nhà nớc vẫn cha có chính sách về đất đai vợt hạn điền của các trang trại
thành nhiều chủ hoặc chuyển nhợng ngầm còn diễn ra phổ biến.
- Thiếu vốn nghiêm trọng nhng nhà nớc cha có chính sách tín dụng hỗ trợ
các trang trại, nhất là trong những năm đầu thành lập.

22


- Thiếu kỹ thuật, máy móc, nông cụ và thiếu cả lao động lành nghề, nhng
bản thân các trang trại không có điều kiện đào tạo, bồi dỡng trong khi nhà nớc
cha quan tâm.
- Cơ sở hạ tầng yếu kém, gây khó khăn cho phát triển và mở rộng quy mô
sản xuât. Hầu hết các trang trại hiện nay đợc hình thành ở vùng Trung du, miền
núi đất xấu, địa hình phức tạp, giao thông, thủy lợi, điều kiện khó khăn. Điều
này thể hiện rõ nhất ở các trang trại của miền núi Yên Bái, sản phẩm làm ra

III./ định hớng và giải pháp
3.1/ định hớng
Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cao hơn kinh tế nông
hộ và đó là sự phát triển tất yếu của quá trình chuyển nền nông nghiệp ( mở
rộng) từ tự cấp tự túc manh mún, phân tán, quy mô nhỏ, lạc hậu lên sản xuất
hàng hóa tập trung, quy mô lớn và kỹ thuật hiện đại, phù hợp với đờng lối phát
triển kinh tế nhiều thành phần, coi trọng vai trò kinh tế hộ nông nghiệp của Đảng
và Nhà nớc. Kinh tế trang trại trong nông nghiệp nớc ta phát triển ở tất cả các
thành phần kinh tế: nhà nớc, tập thể, HTX, t nhân và cá thể. Sự phát triển đó
không hề làm loch hớng XHCN, ngợc lại nó làm tăng sức sống của các nông trờng, lâm trờng, HTX NN, hộ nông dân thông qua việc huy động nhân tài vật lực
cho phát triển sản xuất nông, lâm, ng nghiệp trên cơ sở khai thác hợp lý tiềm
năng đất đai và lao động, 2 nguồn lực lớn của đất nớc. ở vùng trung du và miền
núi phía Bắc, trang trại còn là hớng phát triển có hiệu qủa cả về kinh tế- xã hộimôi trờng, nhất là bảo vệ rừng và đất rừng.
Hầu hết các trang trại đợc xây dựng trên đất hoang hóa, rừng nghèo kiệt,
vô chủ, dân c tha thớt, lao động thiếu, ở các vùng Trung du, miền núi, nên phát
triển trang trại vừa đem lại hiệu quả kinh tế cụ thể và thiết thực, vừa có ý nghĩa
bảo vệ tài nguyên, môi trờng, cân bằng sinh thái, phân bố lao động, dân c, góp
phần củng cố an ninh quốc phòng. Xét về hiệu quả xã hội, các trang trại đã tạo ra
hàng chục vạn việc làm mới để thu hút lao động d thừa ở nông thôn, xóa đói
giảm nghèo, đa miền núi tiến kịp miền xuôi mà không cần đầu t nhiều của nhà
nớc.
Các chủ trang trại là những nông dân, có vốn, có kiến thức và kinh nghiệm
sản xuất hàng hóa, mới giàu lên trong cơ chế mới, có nguyện vọng làm giàu
chính đáng cho bản thân gia đình họ và đất nớc. Họ bỏ vốn đầu t khai phá đất
hoang, mua sắm máy móc, nông cụ, thuê mớn lao động, vốn đang d thừa ở nông

24


thôn và lấy sản xuất hàng hóa làm hớng chính. Trong số chủ trang trại, có nhiều




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status