LI M U
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển hùng mạnh của nền kinh tế của một quốc gia là một trong
những cơ sở quyết định sự ổn định của đất nớc. Yêu cầu của sự phát triển luôn
đòi hỏi một cơ cấu kinh tế hợp lý, xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành
kinh tế, quan hệ giữa các vùng kinh tế lãnh thổ, quan hệ giữa các thành phần
kinh tế. Nhng mối quan hệ này đợc biểu hiện cả về chất và số lợng, chúng
luôn thay đổi cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời
kỳ.
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung trong đó có cơ cấu kinh tế nông
thôn (KTNT) là một đòi hỏi tất yếu khách quan của quá trình vận động phát
triển kinh tế ở mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ lịch sử. Chuyển đổi cơ cấu
KTNT nhanh, đúng xu thế của thời đại phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi
quốc gia cho phép khai thác có hiệu quả các tiềm năng kinh tế, chính trị, xã
hội để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH)
nông nghiệp, nông thôn. Ngợc lại, chuyển đổi cơ cấu KTNT chậm, không hợp
lý, không những không phát huy đợc lợi thế so sánh của từng vùng mà thậm
chí mà còn cản trở tốc độ phát triển của nền kinh tế, hạn chế tiến trình chuyển
biến nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn.
Là một quốc gia nông nghiệp, trình độ phát triển thấp, cơ cấu kinh tế cha
đợc hình thành một cách rõ nét. Trong bối cảnh chung của thế giới, với những
thuận lợi cơ bản do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tạo ra, đòi hỏi phải có
bớc đột phá thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển mới có thể hội nhập vào nền
kinh tế thế giới, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững. Thực hiện mục
tiêu trên, Đại hội lần thứ VI Đảng nhân dân cách mạng đã xác định "Lấy chủ
trơng, chính sách xây dựng cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp gắn với công
nghiệp và dịch vụ ngay từ đầu; coi nông - lâm nghiệp là cơ bản và lấy việc xây
dựng công nghiệp chủ yếu làm trọng điểm; khuyến khích và phát triển mạnh
ngành dịch vụ theo hớng từng bớc hiện đại hoá. Những năm qua, dới sự lãnh
đạo của Đảng, cơ cấu KTNT bớc đầu đã đợc hình thành, nhng so với yêu cầu
- Phản ánh thực trạng cơ cấu KTNT và sự chuyển đổi cơ cấu KTNT của
xã Liệp tuyết. Đánh giá kết quả và những tồn tại của quá trình chuyển đổi cơ
cấu KTNT của xã .
- Xây dựng định hớng và một số giải pháp khả thi nhằm chuyển đổi cơ cấu
KTNT theo hớng sản xuất hàng hoá của xã giai đoạn 2003 - 2005 - 2010.
1.3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tợng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu thực trạng cơ cấu kinh tế của trên các đối tợng nh:
các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, các ngành sản
xuất và các hộ nông dân do xã quản lý, dựa trên sự đánh giá thực trạng, tổng
kết các kết quả đạt đợc và tồn tại cần tháo gỡ giải quyết, nhằm đa ra định hớng
và giải pháp khai thác tốt hơn mọi nguồn lực vào phát triển KT - XH ở địa phơng.
2
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Vì điều kiện thời gian có hạn, nên chúng tôi chỉ dừng lại
nghiên cứu cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo ngành.
- Về phạm vi không gian, chủ yếu nghiên cứu tình hình chuyển đổi cơ
cấu kinh tế theo ngành trên địa bàn xã .
- Về thời gian: nghiên cứu quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ năm
1995-2002 và dự báo cho những năm tiếp theo từ 2005-2010.
- Về thời gian thực tập nghiên cứu đề tài từ 15/06 đến 15/12 năm 2004
3
Phần II
những điều kiện không gian và thời gian nhất định tạo thành một hệ thống
kinh tế trong nông nghiệp nông thôn .
b. ý nghĩa của chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn
Cơ cấu KTNT là một nhân tố quan trọng hàng đầu để phát triển KTNT
4
một cách có hiệu quả và bền vững. Nhng ngày nay xu hớng phát triển cao của
nền KT- XH, đặc biệt là sự phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao
động ngày càng thể hiện rõ nét. Vì vậy nông thôn không chỉ đơn thuần là khu
vực chỉ có hoạt động sản xuất nông nghiệp đơn thuần mà nó ngày càng phát
triển nhiều ngành sản xuất khác phong phú, đa dạng hơn nh công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, dịch vụ và cả dịch vụ sinh thái, du lịch làng nghề truyền
thống.
Khu vực KTNT là khu vực kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Điều quan trọng hơn cả bởi lẽ đây là nơi trực tiếp sản xuất ra lơng thực, thực
phẩm cung cấp đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con ngời. Đồng thời cũng là nơi
cung cấp nguyên liệu cho các ngành sản xuất khác, và đây cũng là một thị trờng tiêu thụ rộng lớn cho tất cả các ngành sản xuất trong nền kinh tế quốc
dân.
Các mối quan hệ trong cơ cấu kinh tế nông thôn phản ánh trình độ phát
triển của phân công lao động xã hội, của quá trình chuyên môn hoá, hợp tác
hoá sự dới hình thức này hay hình thức khác. Cơ cấu KTNT càng phức tạp cả
chiều rộng và chiều sâu thì càng phản ánh trình độ phát triển cao hay thấp của
lực lợng sản xuất và phân công lao động trong khu vực nông thôn . Qua đó
chúng ta có thể thấy: để có một cơ cấu KTNT hợp lý là cả một quá trình phức
tạp đòi hỏi đồng thời giải quyết hàng loạt mối quan hệ KT-XH, phải có bớc đi
đúng đắn và có sự phối hợp chỉ huy giữa các ngành, các cấp gắn liền với điều
kiện hoàn cảnh cụ thể.
Tóm lại, chuyển đổi cơ cấu KT NT ở nớc nói chung và ở xã Liệp Tuyết nói
phẩm đó trở thành hàng hoá. Hàng hoá có 2 thuộc tính:
- Giá trị và giá trị sử dụng, giá trị của hàng hoá đợc xác định bởi lao động
xã hội kết tinh trong sản xuất hàng hoá đó, hàng hoá càng phát triển, nhu cầu
của con ngời trong xã hội ngày càng phong phú và đa dạng, thì nhu cầu trao
đổi sản phẩm hàng hoá ngày càng phong phú và tăng lên.
Sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm để bán Chuyển quyền sở hữu
và sử dụng. Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển dựa trên cơ sở phát triển
của các phơng thức sản xuất và phân công lao động xã hội. Nhu cầu các sản
phẩm dịch vụ của xã hội đa dạng hơn đời sống của con ngời ngày càng một
nâng lên. Điều đó làm cho quá trình trao đổi sản phẩm hàng diễn ra ở Nông
thôn ngày càng mạnh mẽ và đa dạng hơn.
2.1.4. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hớng sản xuất
hàng hoá.
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hớng sản xuất hàng hoá là quá
trình đa nền kinh tế nông thôn từ trình độ thấp lên trình độ cao, tiến bộ đợc cải
6
thiện bởi đặc trng thay đổi về tỷ lệ % giữa các loại sản phẩm, giữa các bộ phận
cấu thành của ngành và nội bộ từng ngành cụ thể, giữa các yếu tố đầu t cho
sản xuất.
Theo nội dung chuyển đổi bao gồm:
- Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm hàng hoá theo ngành công nghiệp nông
lâm thuỷ sản, dịch vụ và xây dựng (khối lợng và giá trị).
- Chuyển đổi cơ cấu hàng hoá trong từng ngành công nghiệp, nông lâm
nghiệp, thuỷ sản và dịch vụ và xây dựng cơ bản (khối lợng và giá trị).
- Chuyển đổi cơ cấu lao động trong các ngành và nội bộ từng ngành.
- Chuyển đổi cơ cấu vốn đầu t cho các ngành, Nội bộ ngành và các khâu
xã hội nhất định.
2.2.3 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn không ngừng vận
động, biến đổi theo xu hớng ngày càng hoàn thiện, hợp lý và
có hiệu quả
Cơ cấu KTNT luôn gắn liền với sự biến đổi của lực lợng sản xuất và phân
công lao động xã hội. Trình độ của lực lợng càng phát triển, cùng với sự phát
triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật công nghệ dẫn đến phân công lao
động xã hội tỷ mỉ, sâu sắc ngày càng cao sẽ kéo theo cơ cấu KTNT ngày càng
hoàn thiện. Quá trình vận động, biến đổi của cơ cấu KTNT không chỉ xảy ra
khi có sự thay đổi của các yếu tố, các bộ phận trong nền kinh tế quốc dân mà
quá trình này còn xảy ra ở ngay tại bản thân nó để thích ứng với thay đổi này.
2.2.4 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn là một quá trình
luôn phù hợp với quy luật thực tế khách quan
Cũng nh cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu KTNT nói riêng luôn phải thay
đổi phù hợp với sự thay đổi của các điều kiện và lịch sử phát triển xã hội. Quá
trình vận động và chuyển hoá xẩy ra từ cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu kinh tế
mới đều diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định. Bản chất của quá trình
này: đó là sự thay đổi về lợng và chất của các sự vật, hiện tợng KT-XH. Do
vậy, chúng ta phải nắm bắt các quy luật khách quan của chúng, tuỳ thuộc vào
diễn biến thực tế để tác động nhằm đạt đợc mục tiêu đặt ra.
2.2.5 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn vận động, phát
triển trên một địa bàn rộng lớn, phức tạp
Kinh tế nông thôn diễn ra trên một phạm vi rộng lớn và hết sức đa dạng
mà sản xuất ở đó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, KTXH, đặc biệt
ở ngành nông nghiệp. Trình độ lao động và phân công lao động xã hội còn ở
mức thấp, phong tục tập quán cũng có nhiều khác biệt giữa các cộng đồng dân
c. Trong quá trình đổi cơ cấu KTNT không thể không tính toán kỹ lỡng và lựa
8
Tuy nhiên không phải lúc nào điều kiện tự nhiên cũng thuận lợi cho hình
thành và phát triển cơ cấu KTNT. Các điều kiện thời tiết, khí hậu luôn có diễn
biến phức tạp, bất ngờ đã gây ảnh hởng không nhỏ tới sản xuất, đặc biệt là
ngành nông nghiệp. Vì vậy chúng ta luôn phải linh hoạt trong tổ chức sản xuất
và có phơng án nhằm giảm thiểu thiệt hại khi có sự biến đổi bất lợi của các
điều kiện tự nhiên.
9
2.3.2 Nhóm nhân tố thuộc về kinh tế - xã hội
Các nhân tố KTXH ảnh hởng tới cơ cấu KTNT bao gồm: thị trờng (trong
và ngoài nớc), hệ thống các chính sách vĩ mô của Nhà nớc, vốn, cơ sở hạ tầng
trong nông thôn, sự phát triển của các khu công nghiệp, đô thị, kinh nghiệm,
tập quán và truyền thống phong tục của dân c.
Trong điều kiện kinh tế hàng hoá các quan hệ kinh tế đợc thực hiện thông
qua thị trờng. Theo tính chất của sản phẩm trao đổi trên thị trờng, có thể phân
thành thị trờng hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ và thị trờng các yếu tố sản xuất.
Do sự phát triển của xã hội ngày càng đa dạng về nhu cầu, đòi hỏi về chất lợng ngày một cao, càng khiến các ngành, các thành phần kinh tế phải linh
hoạt trong bố trí cơ cấu sản phẩm, cơ cấu đầu t hợp lý.
Hiện nay ta thực hiện các chính sách mở cửa của nền kinh tế và xu hớng
toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, ngoài mặt tích cực thì luôn ẩn chứa các tác
động bất lợi vốn có của nền kinh tế thị trờng mang tính chất toàn cầu. Thông
qua các quan hệ quốc tế, các quốc gia ngày càng có điều kiện tham gia sâu
vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế. Đây là nhân tố quan
trọng ảnh hởng tới quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu KTNT. Mặt
khác, thông qua hợp tác và tham gia thị trờng quốc tế càng thuận lợi hơn cho
các cơ hội tìm kiếm các công nghệ, kỹ thuật mới cũng nh các nguồn vốn đầu
t để phát triển nhanh nền kinh tế, đồng thời góp phần đẩy nhanh quá trình
chuyển đổi cơ cấu KTNT. Trong điều kiện kinh tế thị trờng, các chính sách
2.3.3 Nhóm nhân tố về tổ chức, kỹ thuật
Những nhân tố về tổ chức, kỹ thuật bao gồm: quá trình tổ chức sản xuất,
phát triển và ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào
sản xuất.
Tổ chức sản xuất là đa ra các kế hoạch mục tiêu và quản lý điều hành nh
thế nào để đạt đợc những mục tiêu đó với hiệu quả kinh tế cao. Gắn liền với
quá trình tổ chức sản xuất và việc áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật,
nhằm giảm bớt các chi phí, giảm giá thành sản phẩm nâng cao chất lợng sản
phẩm và tối đa hoá lợi nhuận. Trình độ cơ giới hoá, tự động hoá là những tiêu
chuẩn đánh giá trình độ trang bị kỹ thuật trong cơ cấu KTNT đó là mức độ: thuỷ
lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, hoá học hoá.
Ngày nay khoa học, kỹ thuật đang trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp,
nhng việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại
không có nghĩa là quên đi các kinh nghiệm quý báu của làng nghề truyền
thống, những công cụ cải tiến nửa cơ khí. Điều này có nghĩa rằng trong điều
kiện KTNT hiện nay, chúng ta đã biết kết hợp nhiều trình độ công nghệ, vừa
tận dụng công nghệ sẵn có và từng bớc cải tiến nâng cao, vừa cố gắng tranh
thủ nhanh công nghệ mới, biết lựa chọn từng khâu, từng mặt trong mỗi ngành,
mỗi vùng và thành phần kinh tế có khả năng tiến thẳng vào công nghệ hiện
11
đại.
Cơ cấu KTNT chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố khác nhau. Mỗi nhân tố
đều có vai trò, vị trí tác động nhất định tới cơ cấu KTNT. Có những nhân tố
tác động tích cực, nhng cũng có những nhân tố tiêu cực, có nhân tố vào thời
điểm này, vùng này, ngành này đợc coi là năng động nhng vào thời điểm khác
lại đợc coi là trì trệ cho chuyển đổi cơ cấu KTNT. Nắm đợc các yếu tố ảnh hởng trên, từ đó có thể lựa chọn một cách linh hoạt cơ cấu kinh tế nào hợp lý
nhất, phù hợp lý nhất.
yêu cầu trên thị trờng. Xí nghiệp Hơng Trấn không chỉ tăng nhanh về số lợng,
đa dạng hoá các hình thức sở hữu, mà còn mở rộng phạm vi sản xuất kinh
doanh với nhiều ngành nghề công nghiệp, nông nghiệp, thơng nghiệp, dịch vụ.
Đến cuối năm 1992 tổng xí nghiệp hơng trấn trên 20 triệu đơn vị, giá trị sản lợng đạt 1,27 tỷ nhân dân tệ thu hút 105 triệu lao động.
Inđônêxia, chính phủ đã đề ra các chơng trình phát triển ngành nghề tiểu
thủ công nghiệp ở nông thôn bằng nhiều hoạt động khác nhau nh: tổ chức ra
trung tâm trợ giúp công nghiệp nhỏ, đặt mối quan hệ với công nghiệp lớn. Để
thu hút đầu t trong nớc và nớc ngoài, Chính phủ đã đề ra chính sách u tiên
công nghiệp nhỏ chế biến nông sản xuất khẩu cùng với các chính sách thuế
hấp dẫn.
2.4.3 Chuyển đổi từ nền sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc
sang ngành nông nghiệp đa canh, sản xuất gắn với chế biến hớng về xuất khẩu
Malaixia tiến hành công nghiệp hoá bắt đầu từ nông nghiệp. Ngời
Malaixia phát triển nông nghiệp không phải lấy lơng thực là trọng tâm nh ở
nhiều nớc châu á khác, mà họ tập trung vào khai thác và phát huy thế mạnh
truyền thống. Trong năm 1960, đi đôi với thâm canh, Malaixia đầu t phát triển
diện tích cây cao su, cọ dầu xuất khẩu. Trong thời gian này sản lợng dầu cọ và
cao su chiếm 75% và 62% trên toàn thế giới.
Nhằm phát triển công nghiệp trong điều kiện xuất phát từ nông nghiệp
lạc hậu, Thái Lan đã bắt đầu ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học vào
sản xuất. Sản lợng sắn của Thái Lan dứng đầu châu á (20 triệu tấn). Hoa các
loại của Thái Lan mới xuất hiện trên thị trờng thế giới vào những năm cuối
thập niên 80, nhng đã nhanh chóng tìm đợc chỗ đứng. Kim ngạch xuất khẩu
hàng năm đạt 400 triệu đô la Mỹ với nhiều loại hoa đa dạng
2.4.4 Kinh nghiệm của Việt Nam
Việt Nam là một trong những nớc có điều kiện thuận lợi để phát triển
nông nghiệp toàn diện. Tuy vậy, nếu xem xét cụ thể về các yếu tố nh khí hậu,
địa hình, trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất nhất là
trình độ quản lý kinh tế thì cũng còn nhiều vấn đề phức tạp khó khăn gây ra
cho sự phát triển nông nghiệp bền vững cho các ngành, các thành phần kinh
quản lý và đổi mới hệ thống chính sách vĩ mô trong nông nghiệp nông thôn.
nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào nông nghiệp nông thôn với tốc
độ nhanh thúc đẩy cơ cấu KTNT chuyển dịch theo hớng sản xuất hàng hoá.
Các nguồn lực đợc tăng cờng về số lợng lẫn chất lợng đặc biệt là nâng cao
năng lực lãnh đạo và chỉ đạo cũng nh trình độ quản lý và kỹ năng của ngời lao
đông. Tuy đạt đợc những thành công lớn nhng Việt Nam cũng còn nhiều khó
khăn và thách thức đặt ra cần giải quyết đó là: Tốc độ chuyển dịch cơ cấu sản
xuất theo hớng sản xuất hàng hoá còn chậm.
14
Phần III
đặc điểm địa bàn nghiên cứu và ph ơng pháp
nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Vài nét về đặc điểm tự nhiên của xã Liệp Tuyết- Quốc Oai- Hà
Tây
Xã Liệp Tuyết nằm ở phía Tây Bắc của huyện Quốc Oai, cách huyện lỵ
khoảng 40 km. Là một xã có quy mô 5 thôn, diện tích tự nhiên toàn xã là
363,9 trong đó có diện tích canh tác là 255,3 ha
Địa hình xã Liệp Tuyết nhìn chung khôg bằng phẳng, nhng có thể phát triển đợc hầu hết các cây ngắn ngày
Xã Liệp Tuyết mang khí hậu đặc trng của khu vực đồng bằng Bắc Bộ,
một năm chia làm 2 mùa rõ rệt( xem Bảng 1 và Bảng 2)
3.1.2 Vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Liệp Tuyết
Xã liệp Tuyết có tổng diện tích đất tự nhiên là 363,9 ha, trong đó đất
nông nghiệp 265,9 ha, diện tích trồng lúa nớc 197,3 ha. Đất trồng cây hàng
năm tăng lên năm 2003 so với năm 2002 tăng lên 10,79%. Riêng đất cha sử
dụng còn rất lớn, năm 2003 diện tích đất cha sử dụng còn 185,1 ha do vậy
đến hộ tham gia sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu KTNN. Trên đây
chúng tôi giới thiệu vài nét về đặc điểm của xã Liệp Tuyết để trên cơ sở đó phát
triển sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu KTNT, cần nắm vững để có cơ
sở phát triển thị trờng tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả.
Hiện nay Với 363 hộ, dân số nông nghiệp chiếm 52,27%, lao động
chính là 2789 ngời làm việc rất cần cù chịu khó, có tinh thần cách mạng và tơng trợ giúp đỡ nhau cao trong phát triển kinh tế - xã hội.
Đợc sự quan tâm của cán bộ lãnh đạo của các cấp, các ngành trong việc
phát triển kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn. Nhân dân trong xã
đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia vào việc chuyển đổi CCKT NT
3.1.3.2 Những trở ngại và thách thức
- Nền kinh tế của xã Liệp tuyết chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp, tuy đã
hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá nhng nhỏ bé. Sản xuất nông nghiệp vẫn
còn lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nhất là tới tiêu cha khoa học, lợi dụng vào nớc
trời tới cho cây trồng là cơ bản, sản phẩm hàng hoá làm ra cha nhiều nhng thị trờng
tiêu thụ sản phẩm cha ổn định, giá nông sản thấp cha khuyến khích phát triển sản
xuất hàng hoá. Sản xuất của nông dân rất manh mún, đầu t tiến bộ khoa học kỹ thuật
chuyển giao cho nông dân còn ít và chậm chạp hiệu quả thấp.
- Vốn đầu t cho chuyển đổi cơ cấu KT NT và phát triển kinh tế còn
thiếu và đầu t dàn trải cha hiệu quả. Số hộ vay vốn cha đợc nhiều, sử dụng cha
đúng mục tiêu vay vốn. Ngân sách xã đầu t cho sản xuất phát triển kinh tế xã
16
hội còn hạn chế, việc thu hút vốn đầu t bên ngoài rất hạn hẹp đã gây nhiều khó
khăn cho việc phát triển sản xuất hàng hoá ở xã Liệp Tuyết.
- Dân số và lao động nông nghiệp nông thôn đang gia tăng những đào
tạo và bồi dỡng để nâng cao trình độ tri thức và học vấn của xã còn thấp. Cơ
sở chế biến cha hình thành chủ yếu nông sản hàng hoá của xã xuất khẩu và
bán ở dạng thô chất lợng cha cao, sức cạnh tranh thấp giá bán nông sản cha
đợc công bố và thu thập những số liệu mới trên phạm vi xã và ở các thôn đợc
chọn làm điểm nghiên cứu đặc biệt là các nông hộ.
3.2.2.1 Thu thập tài liệu đã công bố
Chúng tôi tiến hành điều tra, thu thập số liệu về tình hình, kết quả phát
triển chuyển đổi cơ cấu KTNT theo hớng sản xuất hàng hoá ở các hộ nông
dân, những nguyên nhân và các yếu tố kinh tế kỹ thuật, tổ chức quản lý ở tầm
vĩ mô và vi mô ảnh hởng tới kết quả và hiệu quả sản xuất. Các kết quả nghiên
cứu có liên quan đạt đợc trớc đó và tại thời gian nghiên cứu để đánh giá đúng
mức độ và phạm vi các vấn đề đợc giải quyết. Những số liệu và thông tin đã
công bố chủ yếu từ các cơ quan Trung ơng, các Viện nghiên cứu, các Trờng
đại học và các bộ phận khác có liên quan nh: tạp chí chuyên ngành kinh tế và
những báo cáo hội thảo khoa học, trong tạp chí hay kỷ yếu khoa học, Phòng
Thống kê, Phòng Nông nghiệp của xã và tại các điểm nghiên cứu trong xã .
3.2.2.2 Thu thập số liệu mới
* Phơng pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA): thông qua việc đi thực
địa để quan sát thực tế, phỏng vấn không chính thức các cán bộ và những ngời
dân sống tại địa phơng làng xã, thu lợm những tài liệu thông tin đã có tại điểm
nghiên cứu.
* Phơng pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của dân (RRA). Tiếp
xúc trực tiếp với dân tại các điểm nghiên cứu, khơi dậy sự tham gia của nông
dân vào những vấn đề mà chính mình cần nghiên cứu, thu lợm những ý kiến
và sự hiểu biết của họ về những khó khăn mà họ đang gặp phải trong sản xuất
kinh doanh để có cơ sở căn cứ phân tích và đề xuất những giải pháp khả thi
thúc đẩy cơ cấu kinh tế nông thôn đạt hiệu quả cao.
* Phơng pháp điều tra hộ: Việc thu thập số liệu ở phạm vi hộ phát triển
chuyển đổi cơ cấu KTNT theo hớng sản xuất hàng hóa.
Kết quả số hộ và cơ cấu các nhóm hộ điều tra thể hiện theo tiêu chí thu
nhập bình quân đầu ngời/tháng và các tiêu chí liên quan khác.
Phần IV
Kết quả nghiên cứu
4.1 Khái quát thực trạng và xu h ớng chuyển đổi cơ
cấu kinh tế nông thôn xã liệp tuyết- quốc oai- hà tây
4.1.1 Khái quát phát triển kinh tế và cơ cấu kinh tế xã Liệp
Tuyết
4.1.1.1 Cơ cấu sản xuất của các ngành kinh tế
Cơ cấu kinh tế (GDP) trong những năm qua giữa các ngành nông nghiệp,
công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đã có sự chuyển dịch tích cực.
Cơ cấu nông nghiệp trong tổng cơ cấu GDP từ 61,2% trong năm 1990 giảm
19
xuống còn 55,2% năm 1995 và 51,8% năm 2000. Cơ cấu ngành nông nghiệp
vẫn còn ở mức cao so với các xã khác
Lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 14,5% năm 1990 tăng lên
19,1% năm 1995 và 22,6% năm 2000. Cơ cấu GDP ngành dịch vụ chững lại và
có xu hớng giảm, giai đoạn từ năm 1990 - 1995 tăng từ 24,3 lên 25,7% và giảm
xuống còn 25,1% năm 2000.
Giai đoạn 2002 - 2003 xu hớng chuyển dịch cơ cấu GDP có chiều hớng tiến
bộ tỷ trọng nông nghiệp có chiều hớng giảm xuống từ 52,3% giảm xuống còn
50,6% , tỷ trọng công nghiệp có chiều hớng tăng lên từ 22,6% năm 2002 lên
24,9% vào năm 2003 . Tuy vậy dịch vụ cha tăng hơn so với năm 2002 mà lại
giảm đi 0,2% chỉ chiếm 24,9% (xem Bảng 8)
4.1.1.2 Cơ cấu thu nhập
Cùng với nhịp độ tăng trởng của nền kinh tế đã xuất hiện hàng loạt các vấn
đề xã hội cần quan tâm giải quyết. Một trong các vấn đề đó là khoảng cách thu
nhập giữa các thôn trong xã, giữa ngời giàu và ngời nghèo và ngay cả trong cộng
4.2.1 Kết quả sản xuất và cơ cấu kinh tế của xã Liệp Tuyết
a. Kết quả giá trị sản xuất của xã qua 3 năm
- Về giá trị sản xuất (GO): Xã Liệp tuyết là một trong những xã có
chiều hớng phát triển kinh tế mạnh của tỉnh, trong những năm gần đây sản
xuất đã có những khởi sắc đáng kể. Giá trị sản xuất của các ngành kinh tế
trong xã đạt đợc có chiều hớng tăng lên qua các năm nhất là ngành nông
nghiệp và ngành công nghiệp cụ thể nh sau: giá trị sản xuất của xã năm 2002
đạt 18,517 tỷ đồng tăng so với năm 2000 là 9,65% và có tốc độ tăng bình
quân của giai đoạn này là 4,72% (xem bảng 6):
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2002 đạt 4,692 tỷ đồng tăng
hơn so với năm 2000 là 13,14%, bình quân 3 năm 2000 - 2002 tăng 6,37%. Tơng ứng với các chỉ tiêu trên ngành công nghiệp là 8,254 tỷ, tăng 28,69% và
13,44 %. Ngành dịch vụ đạt 2,569 tỷ đồng giảm so với năm 2000 là 2,35%
Và tốc độ giảm bình quân 3 năm là 2,35%.
- Về kết quả sản xuất theo giá trị gia tăng (GDP) năm 2000 - 2002
+ Kết quả sản xuất theo giá trị gia tăng (GDP) của các ngành kinh tế
trong xã giai đoạn 2000 - 2002 cho thấy: ngành nông nghiệp (trồng trọt và
chăn nuôi giảm 1,57% bình quân 3 năm, tuy vậy năm 2002 giá trị GDP đã đạt
29,178 tỷ đồng tăng so với năm 2001 là 5,47%, nhng so với năm 2000 vẫn
giảm 3,12%. Có sự tăng giảm thất thờng là do thị trờng tiêu thụ của các ngành
này không ổn định mặc dầu tốc độ phát triển bình quân 3 năm của ngành
trồng trọt và chăn nuôi giảm 1,57%, nhng ngành thuỷ sản tăng 13,91%, ngành
lâm nghiệp tăng 66,83%, ngành xây dựng cơ bản tăng 9,7%, ngành công
21
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng 16,16% và ngành dịch vụ tăng 0,9% (xem
bảng 6).
b. Cơ cấu kinh tế giai đoạn năm 2001 - 2003
22
cơ sở dự báo và ra quyết định trồng cây gì? nuôi con gì? và phát triển ngành
nào ở nông thôn cho hợp lý và có hiệu quả cao nhất vào những năm tiếp theo.
4.2.2 Cơ cấu kinh tế nông thôn phân theo nội bộ ngành của xã
4.2.2.1 Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp (trồng
trọt & chăn nuôi)
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội nó tạo ra nhiều lơng thực thực phẩm cung cấp cho con ngời tồn tại và phát triển, nó còn cung cấp
nông sản xuất khẩu tạo ra nhiều ngoại tệ để phát triển công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc. Ngoài ra nó là thị trờng tiêu thụ sản phẩm cho ngành công nghiệp và
các ngành dịch vụ khác trong nền kinh tế quốc dân. Nó là nơi cung cấp nguồn lực
cho các ngành kinh tế của đất nớc. Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông
nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), nghề cá thuỷ sản và lâm nghiệp.
Tốc độ phát triển bình quân của ngành trồng trọt năm 2000 - 2002 đã
giảm đi 4,57%, trong đó nhóm cây lơng thực tăng bình quân 1,69%; cây công
nghiệp tăng 13,52% và nhóm cây rau quả giảm 65,35% (xem bảng 10).
- Tỷ trọng ngành chăn nuôi năm 2003 chỉ chiếm 29,4%, điều này cho thấy
chăn nuôi ở đây phát triển cha cao. Chăn nuôi đại gia súc và gia cầm còn nhiều
nơi thả rông cha có hớng thâm canh sản xuất hàng hoá. đây là những khó khăn
trong việc chuyển đổi và phát triển hàng hoá của cơ cấu kinh tế xã . Trong chăn
nuôi tỷ trọng gia súc chiếm tới 93,7% còn lại gia cầm chỉ chiếm 6,35% (năm
2003). Tốc độ phát triển ngành chăn nuôi qua 3 năm 2001 - 2003 tăng bình quân
6,3%, trong đó đại gia súc tăng 4,8% và gia cầm tăng 40,37% (xem bảng 8 ).
Xét về cơ cấu và quy mô đàn gia súc (xem bảng 9 ) cho thấy: hàng năm hầu hết
các loại đại gia súc, lợn và gia cầm có xu hớng tốc độ tăng trởng tăng lên. So
sánh quy mô chúng ta thấy về đàn trâu năm 2003 đạt 3909 con tăng 3,52% năm
2003 so với năm 2001 tăng 3,52%; đàn bò tăng5,39%; đàn lợn tăng 50,745; đàn
dê tăng63,64%; đàn gia cầm tăng 3,15% Do vậy, cần phát triển chăn nuôi nhất là
ngành thơng mại đạt 1,133 tỷ đồng đến năm 2003 giảm xuống còn 1,1 tỷ giảm so
với năm 2001 là 1,2% chính ngành này chiếm tỷ trọng lớn giảm đi làm cho tổng cơ
cấu của ngành dịch vụ giảm theo
4.3 Đánh giá chung sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
thôn của xã liệp Tuyết trong những năm qua
4.3.1 Những thành tựu đạt đợc
Trong những năm qua nền kinh tế của xã Liệp Tuyết nằm trong bối
cảnh còn nhiều khó khăn, điểm xuất phát thấp, dới tác động gián tiếp của cuộc
khủng khoảng kinh tế tiền tệ của các nớc trong khu vực. Tuy vậy, dới sự lãnh
24
đạo của Đảng và chính phủ kết quả phát triển kinh tế của xã đã đạt đợc những
thành tựu đáng kể
Tốc độ tăng trởng GDP bình quân giai đoạn 2001 - 2003 tăng 6,72%, tốc
độ tăng bình quân 3 năm là 4,72%. Tốc độ phát triển nông nghiệp có chiều hớng
tăng dần năm 2002 so với năm 2001 (GO) tăng 2,41%, năm 2003 so với năm
2001 tăng 13,14%, điều này chứng tỏ cơ cấu kinh tế của xã chủ yếu vẫn chú
trọng phát triển nông nghiệp. Kinh tế công nghiệp có chiều hớng tăng dần năm
2003 so với năm 2001 về GO tăng 28,69% , GDP tăng 34,93%, dịch vụ đang có
chiều hớng giảm dần năm 2003 so với năm 2001 giảm 4,64%, bình quân 3 năm
giảm 2,35% . Lý do chủ yếu là công nghệ và máy móc cũ và lạc hậu những tiến
bộ kỹ thuật mới cha đợc áp dụng vào ngành dịch vụ. Nên cần nhiều vốn hơn nữa
trong tơng lai ( xem bảng 11)
- Sản lợng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2002 đạt 1230 tấn bình quân
đầu ngời 22,7 kg tăng so với năm 2001 tăng 25,16%. Nhờ có kết quả đạt đợc
hàng năm có xu hớng tăng lên và một số ngành kinh tế của xã nhất là ngành nông
nghiệp vẫn chiếm địa vị chủ yếu và ngày một phát triển nên năng suất lao động