Luận văn
Thực trạng và một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh trong hoạt động nhập
khẩu tại Công ty Vật tư kỹ thuật
Ngân hàng
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Khoa QTKD
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI
CÁC DOANH NGHIỆP.
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHẬP KHẨU.
1.1. Khái niệm hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
1.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
1.3. Phân loại nhập khẩu.
1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu
1. Những quan điểm và định hướng kinh doanh của Công ty Vật tư kỹ
thuật Ngân hàng.
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Khoa QTKD
2
2. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập
khẩu của Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng
3. Kiến nghị.
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế trước sự phát triển như vũ bão
của khoa học kỹ thuật công nghệ thông tin. Việc đẩy mạnh hoạt động xuất
nhập khẩu là một hướng đi hoàn toàn đúng đắn để phát triển kinh tế đất nước,
tránh được tụt hậu về kinh tế và tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế một
cách toàn diện và sâu sắc.
Cùng với sự phát triển của quá trình giao lưu thương mại, hoạt động xuất
nhập khẩu của nước ta nhìn chung đã đạt được những thành tựu đáng kể, trong
đó Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng đã và đang góp phần tạo nên thành công
đó. Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng là một đơn vị đầu mối về nhập khẩu
các thiết bị chuyên dùng của ngành Ngân hàng phục vụ cho việc hiện đại hoá
hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam. Trong những năm qua Công ty đã thực hiện
nhập khẩu một cách có hiệu quả để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế,
qua đó tạo được uy tín của Công ty đối với thị trường trong nước và quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay vừa mở ra những cơ hội mới cho
doanh nghiệp nhưng cũng đồng thời nó cũng chứa đựng những rủi ro lớn. Vì
vậy nó đòi hỏi các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường quốc tế ngày càng
phải tự hoàn thiện mình, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để đảm bảo
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Khoa QTKD
4
doanh nghiệp có thể tồn tại được. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tham
gia hoạt động xuất nhập khẩu thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh cang trở
nên bức thiết và quan trọng hơn bao giờ hết.
Qua thực trạng hoạt động của Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng trong
những năm qua được ghi nhận trong những năm qua trong quá trình thực tập
kết hợp với những kiến thức em đã học được tại Trường Đại học em xin mạnh
dạn chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng”.
Hà nội, tháng 5 năm 2004.
Sinh viên
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Khoa QTKD
Khoa QTKD
7
công lao động quốc tế, kết hợp hài hoà và có hiệu quả giữa nhập khẩu và cải
thiện cán cân thanh toán.
thiện cán cân thanh toán quốc tế .
1.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Hoạt động nhập khẩu là hoạt động phức tạp so với hoạt động kinh doanh
trong nước. Hoạt động nhập khẩu có những đặc điểm sau:
- Hoạt động nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật như điều
ước quốc tế và Ngoại thương, luật quốc gia của các nước hữu quan, tập quán
Thương mại quốc tế.
- Các phương thức giao dịch mua bán trên thị trường quốc tế rất phong
phú: Giao dịch thông thường, giao dịch qua trung gian, giao dịch tại hội chợ
triển lãm.
- Các phương thức thanh toán rất đa dạng: nhờ thu, hàng đổi hàng, L/C
- Tiền tệ dùng trong thanh toán thường là ngoại tệ mạnh có sức chuyển
đổi cao như : USD, bảng Anh
- Điều kiện cơ sở giao hàng: có nhiều hình thức nhưng phổ biến là nhập
khẩu theo điều kiện CIF, FOB
- Kinh doanh nhập khẩu là kinh doanh trên phạm vi quốc tế nên dịa bàn
rộng, thủ tục phức tạp, thời gian thực hiện lâu.
- Kinh doanh nhập khẩu phụ thuộc vào kiến thức kinh doanh, trình độ
quản lý, trình độ nghiệp vụ Ngoại thương, sự nhanh nhạy nắm bắt thông tin.
- Trong hoạt động nhập khẩu có thể xảy ra những rủi ro thuộc về hàng
hoá. Để đề phong rủi ro, có thể mua bảo hiểm tương ứng.
- Hoạt động nhập khẩu là cơ hội để các doanh nghiệp có quốc tịch khác
nhau hợp tác lâu dài. Thương mại quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Khoa QTKD
9
giữa các doanh nghiệp phù hợp với những quy định của pháp lệnh hợp đồng
kinh tế.
Như vậy, hợp đồng uỷ thác nhập khẩu được hình thành giữa các doanh
nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu một loại vật tư,
thiết bị nào đó nhưng lại không được phép nhập khẩu trực tiếp hoặc gặp khó
khăn trong việc tìm kiếm bạn hàng, thực hiện thủ tục uỷ thác nhập khẩu cho
doanh nghiệp có chức năng thương mại quốc tế tiến hành nhập khẩu theo yêu
cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải cung cấp cho bên uỷ thác các thông tin về
thị trường, giá cả, khách hàng, những điều kiện có liên quan đến đơn hàng uỷ
thác thương lượng đàm phán và ký kết hợp đồng uỷ thác. Bên nhận uỷ thác
phải tiến hành làm các thủ tục nhập khẩu và được hưởng phần thù lao gọi là
phí uỷ thác.
Đặc điểm: Doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ nhập khẩu uỷ thác không
phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, không phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ
hàng nhập, giá trị hàng nhập chỉ được tính vào kim ngạch XNK không được
tính vào doanh thu. Khi nhận uỷ thác phải làm hai hợp đồng: Một hợp đồng
mua bán hàng hoá, vật tư với nước ngoài và một hợp đồng uỷ thác nhập khẩu
với bên uỷ thác ở trong nước.
1.3.3. Buôn bán đối lưu.
Buôn bán đối lưu trong Thương mại quốc tế là một phương thức giao
dịch trao đổi hàng hoá trong đó nhập khẩu kết hợp chặt chẽ với xuất khẩu,
người bán đồng thời là người mua và ngược lại. Lượng hàng hoá dịch vụ trao
đổi có giá trị tương đương. Giao dịch đối lưu dựa trên bốn nguyên tắc cân
bằng: Cân bằng về mặt hàng, cân bằng về giá cả, cân bằng về cùng một điều
kiện giao hàng và cân bằng về tổng giá trị hàng hoá trao đổi.
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Khoa QTKD
11
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một họat động kinh doanh hết sức
phức tạp và nhạy cảm với môi trường kinh doanh. Kinh doanh nhập khẩu chịu
ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố. Có hai nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt
động nhập khẩu, đó là:
1.4.1. Những nhân tố ảnh hưởng bên trong doanh nghiệp.
Các yếu tố bên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp, nó tác động một cách trực tiếp và là
yếu tố nội lực quyết định hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp có đạt hiệu
quả hay không. Các nhân tố đó là:
* Tổ chức hoạt động kinh doanh: Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến
điều kiện hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Nếu như việc tổ
chức kinh doanh càng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp, phù
hợp với yêu cầu kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường
thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Làm tốt công
tác tổ chức kinh doanh có nghĩa là doanh nghiệp phải là tốt các khâu: Chuẩn bị
trước khi giao dịch như nghiên cứu thị trường, khai thác nhu cầu tiêu dùng
trong nước, lập phương án kinh doanh thận trọng
* Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp: Bộ máy quản lý doanh nghiệp
có ảnh hưởng một cách gián tiếp tới hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập
khẩu nói riêng và hoạt động kinh doanh toàn doanh nghiệp nói chung. Tổ chức
bộ máy quản lý hợp lý, gọn nhẹ, làm việc có hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho công
tác nâng cao hiệu quả kinh doanh. Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức
bộ máy của doanh nghiệp là một điều hết sức quan trọng trong kinh doanh
XNK.
* Nhân tố con người: Đội ngũ cán bộ công nhân viên là một nhân tố
quan trọng có tính chất quyết định đối với sự thành công hay thất bại trong
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Khoa QTKD
13
* Hệ thống luật pháp: Nó tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt
động. Hệ thống luật pháp yêu cầu phải động bộ, nhất quán và phù hợp với
thông lệ quốc tế.
* Môi trường chính trị - xã hội: Nhân tố này gây ảnh hưởng không nhỏ
đến hoạt động nhập khẩu. Có đảm bảo ổn định về chính trị, giữ vững môi
trường hoà bình và hữu nghị với các nước trên khu vực và trên thế giới thì mới
tạo bầu không khí thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt
động nhập khẩu nói riêng.
* Môi trường kinh doanh: Phải đảm bảo sự ổn định vĩ mô nên kinh tế
trong đó chú ý đảm bảo tỷ giá hối đoái ổn định và phù hợp, khắc phụ sự thâm
hụt của cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế nhăm lành mạnh hoá
môi trường kinh doanh, sẽ tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh nhập
khẩu.
1.5. Vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một trong hai bộ phận cấu thành nên
nghiệp vụ ngoại thương. Biểu hiện là việc mua hàng hoá và dịch vụ từ nước
ngoài về phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc nhằm tái sản xuất với mục
đích thu lợi nhuận. Nhập khẩu thể hiện mối tương quan gắn bó chặt chẽ với
nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên
mỗi một thời kỳ đều có đặc điểm riêng, chiến lược phát triển kinh tế riêngvì
vậy mà vai trò, nhiệm vụcủa hoạt động kinh doanh nhập khẩu cũng được điều
chỉnh cho phù hợp với mục tiêu nhà nước đề ra.
Trên thực tế, một khi nền kinh tế quốc gia đã hoà nhập vào nền kinh tế
thế giới thì vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu ngày càng trở nên quan
trọng, có thể thấy cụ thể là:
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Khoa QTKD
15
nước đã đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại phù hợp với nền kinh tế thị
trường thì hoạt động nhập khẩu đang dần khởi sắc và đi vào quỹ đạo của nó.
Tuy chỉ qua một thời gian ngắn mà hoạt động nhập khẩu đã phát
huy được vai trò lớn của nó, thực sự đã tạo cho thị trường trong nước trở nên
sôi động, đa dạng và phong phú về hàng hoá, vật tư. Tạo ra sự cạnh tranh
mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nền kinh tế
nước ta đang chuyển mình hoà nhập với nền kinh tế khu vự và thế giới.
2. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NHẬP KHẨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP.
2.1. Nghiên cứu thị trường nhập khẩu
Nghiên cứu thị trường nhập khẩu là cả một quá trình tìm kiếm khách
hàng và có hệ thống cùng với việc phát triển tổng hợp các thông tin cần thiết
để giải quyết vấn đề Marketing. Bởi vậy, nghiên cứu thị trường ngày càng
đóng vai trò quan trọng để giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao trong hoạt
động nhập khẩu.
Để nắm vững các yếu tố thị trường hiểu rõ quy luật vận động của thị
trường nhăm ứng xử kịp thời, các nhà nhập khẩu nhất thiết phải tiến hành công
tác nghiên cứu thị trường, bao gồm: Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu, nghiên
cứu dung lượng thị trường, lựa chọn bạn hàng, nghiên cứu giá cả hàng hoá
trong nhập khẩu.
2.1.1. Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu.
Mục đích nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu là để tiến hành nhập khẩu
đúng chủng loại mà thị trường trong nước cần kinh doanh có hiệu quả, đạt
được mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Việc nhận biết mặt hàng nhập khẩu
trước hết căn cứ vào nghiên cứu sản xuất và tiêu dùng trong nước về số lượng,
chất lượng, tính thời vụ, thị hiếu cũng như tập quán tiêu dùng của từng vùng,
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Khoa QTKD
17
Giá quốc tế có tính chất đại diện đối với một loại hàng hoá nhất định
trên thị trường thế giới và là giá của những giao dịch thông thường, không kèm
theo một điều kiện đặc biệt nào và thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.
2.2. Lập phương án kinh doanh.
Bao gồm các bước sau:
- Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân.
- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh.
- Đề ra những mục tiêu cụ thể như : sẽ nhập khẩu bao nhiêu với giá cả
bao nhiêu, nhập ở thị trường nào và tình hình tiêu thụ hàng hoá đó như thế nào.
- Đề ra biện pháp thức hiện: Bao gồm cả biện pháp đối với trong nước
và biện pháp đối với thị trường ngoài.
- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh
2.3. Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng.
2.3.1. Các phương thức chủ yếu trong giao dịch nhập khẩu.
Dưới đây là một số phương thức giao dịch cơ bản trong buôn bán quốc
tế:
* Giao dịch trực tiếp: Giao dịch trực tiếp trong kinh doanh thương mại
quốc tế là giao dịch mà người mua (hoặc bán) thoả thuận, bàn bạc trực tiếp
(hoặc thông qua thư từ, điện tín ) với người bán (người mua) về hàng hoá, giá
cả, giao dịch, phương thức thanh toán. Trong phương thức thanh toán này hai
bên tiếp cận thị trường hỏi giá, báo giá, chào hàng và đi đến chấp thuận giá cả
của hàng hoá đó. Và từ đó đi đến ký kết hợp đồng nhập khẩu hàng hoá.
* Giao dịch qua trung gian: Giao dịch qua trung gian trong kinh doanh
Thương mại quốc tế là giao dịch mà người mua (hoặc người bán) quy định về
điều kiện trong giao dịch mua bán về hàng hoá, giá cả, điều kiện giao dịch,
phương thức thanh toán phải qua một người thứ ba là người trung gian buôn
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Khoa QTKD
19
chi tiết, mặc dù trước đó đã có đơn đặt hàng và chào hàng, nhưng vẫn phải
thiết lập văn bản hợp đồng làm cơ sở pháp lý cụ thể cho các hoạt động trao đổi
hàng hoá từ quốc gia này sang quốc gia khác, và làm căn cứ cho việc xác định
lỗi khi có tranh chấp xảy ra.
2.4. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Sau khi hợp đồng nhập khẩu được ký kết, đơn vị kinh doanh XNK với
tư cách là một bên ký kết - phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Nói chung cần
tiến hành các công việc sau:
- Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số doanh nghiệp xuất
nhập khẩu và xin giấy phép nhập khẩu đối với hàng chuyên ngành.
- Kiểm tra chất lượng hàng hoá nhập khẩu: Theo NĐ 200/CP ngày
31/12/1973 và Thông tư liên Bộ GTVT- Ngoại thương số 52/TTLB ngày
25/1/1975, hàng nhập khẩu khi đi qua cửa khẩu cần được kiểm tra kỹ càng.
Doanh nghiệp nhập khẩu, với tư cách là một bên đứng tên trong vận đơn, phải
lập thư dự kháng nếu nghi ngờ hoặc thực sự thấy hàng có tổn thất, sau đó phải
yêu cầu công ty bảo hiểm lập biên bản giám định nếu tổn thất xảy ra bởi những
rủi ro đã được mua bảo hiểm.
- Thuê tàu chở hoặc uỷ thác thuê tàu: Trong quá trình thực hiện hợp
đồng nhập khẩu việc thuê tàu chở hàng được tiến hành dựa vào: Những điều
khoản của hợp đồng mua bán ngoại thương, đặc điểm hàng mua bán và điều
kiện vận tải. Chủ hàng nhập khẩu phải căn cứ vào đặc điểm và khối lượng vận
chuyển của hàng hoá để lựa chọn thuê tàu cho phù hợp đảm bảo thuận lợi và
nhanh chóng.
- Mua bảo hiểm: Các chủ hàng nhập khẩu của ta, khi cần mua bảo hiểm,
3. CÁC KHÁI NIỆM VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG
HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP.
3.1. Các quan điểm về hiệu quả.
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Khoa QTKD
21
Khi đề cập đến vấn đề hiệu quả có thể đứng trên nhiều góc độ khác nhau
để xem xét.
Nếu xét theo hiệu quả cuối cùng thì: Hiệu quả kinh tế là mức độ chênh
lêch giữa doanh số thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Đứng
trên góc độ này thì phạm trù hiệu quả đông nhất với lợi nhuận. Hiệu quả kinh
doanh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào trình độ tổ chức hoạt động sản xuất - kinh
doanh và tổ chức quản lý trong toàn doanh nghiệp.
Nếu đứng trên góc độ các yếu tố riêng lẻ để xem xét thì hiệu quả thể hiện
trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố đó trong quá trình sản xuất-kinh
doanh. Nó phản ánh kết quả kinh tế thu được từ việc sử dụng các yếu tố tham
gia vào hoạt động sản xuất-kinh doanh. Chỉ tiêu hiệu quả là một chỉ tiêu chất
lượng tổng hợp phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố tham gia quá trình sản
xuất-kinh doanh. Đồng thời là phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hoá,
phản ánh trình độ của nền sản xuất hàng hoá, sản xuất hàng hoá có phát triển
hay không là do hiệu quả đạt được cao hay thấp, chỉ tiêu hiệu quả phản ánh cả
về mặt định lượng và cả về mặt định tính. Về mặt định lượng thì hiệu quả kinh
tế của hoạt động sản xuất-kinh doanh phản ánh mối tương quan giữa kết quả
thu được và chi phí bỏ ra. Về mặt định tính nó phản ánh ảnh hưởng của hoạt
động sản xuất - kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu
kinh tế, những yêu cầu và mục tiêu chính trị - xã hội.
Khi đứng trên phạm vi khác nhau để xem xét vấn đề hiệu quả thì có thể
quả kinh tế được đánh giá theo công thức:
Q
H=
C
Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khoá luận tốt nghiệp
Khoa QTKD
23
Trong đó: Q : Là kết quả đạt được.
C : Là chi phí bỏ ra.
Theo cách đánh giá hiệu quả kinh tế của quan điểm này thì số lần đạt
được kết quả so với chi phí ngày càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao. Đại
diện cho quan điểm này là Colicop phát biểu: “Hiệu quả sản xuất là tính hiệu
quả của một nền sản xuất nhất định. Chúng ta sẽ so sánh kết quả với chi phí
cần thiết để đạt kết quả đó. Khi lấy tổng sản phẩm chia cho vốn sản xuất chúng
ta được hiệu suất vật tư, tổng sản phẩm chia cho số vật tư ta được hiệu suất lao
động ”. Trong cuốn “ Những vấn đề cơ bản về nâng cao hiệu quả kinh tế của
nền sản xuất xã hội” xuất bản năm 1982, PTS Trần Văn Đức cho rằng: “Hiệu
quả kinh tế được xem xét trong mối tương quan giữa một bên là kết quả thu
được và một bên là chi phí bỏ ra ”. Tác giả Lê Thụ cũng đã xác định: “Hiệu
quả kinh tế là chỉ tiêu tổng hợp nhất về chất lượng của hoạt động
SX-KD. Nội dung của nó là so sánh kết quả thu được và chi phí bỏ ra”.
* Hệ thống quan điểm thứ hai: Cho rằng hiệu quả kinh tế được đo bằng
hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và chi phí bỏ ra đẻe đạt được kết quả đó.
Theo quan điểm này hiệu quả kinh tế được xác định bằng công thức:
H = Q - C
Trong đó: Q : Là giá trị sản xuất đạt được.
kinh tế theo từng lĩnh vực với mức độ, phạm vi không gian thời gian cụ thể.
Chẳng hạn khi phân tích kết quả kinh tế của một hiện tượng mà chỉ chú trọng
tới hệ thông quan điểm thứ nhất thì sẽ không được hiệu quả thực của các mức
đầu tư tạ các giai đoạn khác của hoạt động kinh tế đó. Điều đó dẫn tới sai sót
trong việc hoạch định kết quả quản lý trong tương lai. Thường những ngành
đạt tỷ suất nguồn vốn lớn là ngành sản xuất có quy mô nhỏ, có chu kỳ sống của