BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
ĐINH XUÂN ĐẠI
PHÂN TÍCH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ
CỦA CÁC BỆNH NHÂN HIV/AIDS
NGOẠI TRÖ TẠI TRUNG TÂM
PHÕNG CHỐNG HIV/AIDS
TỈNH HẢI DƢƠNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
ĐINH XUÂN ĐẠI
PHÂN TÍCH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ
CỦA CÁC BỆNH NHÂN HIV/AIDS
NGOẠI TRÖ TẠI TRUNG TÂM
PHÕNG CHỐNG HIV/AIDS
TỈNH HẢI DƢƠNG
quý giá trong cuộc sống.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn Nguyễn Vũ Lam và tất cả bạn bè
của tôi đã luôn sát cánh bên tôi, luôn động viên và giúp đỡ tôi cả trong học tập và
trong cuộc sống.
Hà Nội, ngày 06 tháng 02 năm 2016
Học viên
Đinh Xuân Đại
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
CHƢƠNG I - TỔNG QUAN
2
1.1. Thực trạng về HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam
2
1.1.1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
2
1.1.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam
5
17
1.2.2.1. Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV
17
1.2.2.2. Các loại thuốc điều trị HIV/AIDS
17
1.2.2.3. Các phác đồ điều trị HIV/AIDS tại Việt Nam
18
1.3. Chi phí và phân tích chi phí
19
1.3.1. Một số khái niệm
19
1.3.2. Phân tích chi phí y tế
19
1.3.2.1. Góc độ đánh giá chi phí
20
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
24
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
24
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu, kỹ thuật chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên
24
cứu
2.2.3. Các loại chi phí ở Trung tâm phòng chống HIV/AIDS
25
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả
27
2.2.5. Các biến số nghiên cứu
27
CHƢƠNG III – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
34
3.1. Đặc điểm của các bệnh nhân HIV/AIDS
3.1.1.7. Khoảng cách trung bình từ nhà bệnh nhân đến phòng khám
36
3.1.1.8. Phương tiện đi lại của bệnh nhân
37
3.1.1.9. Loại hình Bảo hiểm y tế bệnh nhân sử dụng
37
3.1.1.10. Các thành viên trong gia đình của 1 bệnh nhân
38
3.1.2. Khả năng kinh tế của bệnh nhân và gia đình
40
3.1.3. Các đặc điểm về điều trị ngoại trú của bệnh nhân
42
3.1.3.1. Năm bắt đầu điều trị
42
3.1.3.2. Bệnh mắc kèm
46
3.1.4.3. Số người chăm sóc, hỗ trợ đi cùng bệnh nhân
47
3.2. Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân ngoại trú
47
3.2.1. Chi phí điều trị bình quân hàng năm cho một bệnh nhân HIV/AIDS
47
ngoại trú
3.2.1.1. Tổng chi phí điều trị HIV/AIDS cho một bệnh nhân ngoại trú trong
47
thời gian một năm
3.2.1.2. Thành phần chi phí từ phía trung tâm phòng chống HIV/AIDS
48
3.2.1.3. Thành phần chi phí từ phía bệnh nhân và gia đình
49
3.2.2. So sánh chi phí điều trị cho các bệnh nhân giữa các phác đồ
3.2.5. Chi phí điều trị HIV/AIDS của đối tượng người lớn và trẻ em
58
CHƢƠNG 4 – BÀN LUẬN
60
4.1. Đặc điểm quần thể bệnh nhân
60
4.2. Chi phí điều trị của bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú trong năm 2015
66
4.3. Ƣu điểm và nhƣợc điểm của nghiên cứu
74
KẾT LUẬN
77
KIẾN NGHỊ
78
Thuốc kháng HIV
AZT
Zidovudine
AIDS
Bảo hiểm y tế
BHYT
CD4
CHAI
EFV
HIV
Cluster of Differentiation 4
The Clinton Health Access
Initiative
Human Immunodeficiency
Virus gây ra hội chứng suy giảm miễn
Virus
dịch mắc phải ở người
Isoniazid
Sáng kiến truy cập y tế Clinton
Efavirenz
INH
NNRTI
Tế bào CD4
President's Emergency Plan
Chương trình cứu trợ khẩn cấp của Tổng
For AIDS Relief
thống Hoa Kỳ
Protease inhibitors
Nhóm ức chế enzyme protease
Phụ nữ có thai
PNCT
PPY
Per patient per year
Đô la Mĩ
WHO
World Health Organization
Tổ chức Y tế Thế giới
DANH MỤC BẢNG
Tên
Bảng 1.1
Bảng 1.2
Bảng 1.3
Bảng 1.4
Bảng 1.5
Bảng 1.6
Bảng 1.7
Nội dung
Chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia ở châu Á và
châu Đại Dương
Chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia ở châu Âu và
châu Mĩ
Chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia ở miền Nam
Các biến số nghiên cứu
27
Bảng 3.10
Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân theo giới tính
34
Bảng 3.11
Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân theo địa điểm sống
36
Bảng 3.12
Khoảng cách từ nhà bệnh nhân đến phòng khám
36
Bảng 3.13
Phương tiện đi lại của bệnh nhân
37
Bảng 3.14
Bảng 3.19
Phân loại điều kiện kinh tế của gia đình bệnh nhân
42
Bảng 3.20
Nguồn vay vốn của bệnh nhân HIV/AIDS
42
Bảng 3.21
Số lượng bệnh mắc kèm của bệnh nhân
43
Bảng 3.22
Bảng 3.23
Giai đoạn lâm sàng của bệnh nhân lúc mới điều trị và trong
năm 2015
Chỉ số CD4 của bệnh nhân lúc mới điều trị, năm 2015 và lần
đo gần nhất
43
44
Bảng 3.33
Bảng 3.34
Bảng 3.35
Bảng 3.36
Tổng chi phí điều trị HIV/AIDS bình quân 1 năm cho 1 bệnh
nhân
Chi phí điều trị từ phía chính phủ và trung tâm phòng chống
HIV/AIDS bình quân 1 bệnh nhân 1 năm
Chi phí điều trị HIV/AIDS từ phía bệnh nhân và gia đình bình
quân 1 năm
Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân phân theo phác
đồ điều trị
Chi phí điều trị HIV/AIDS cho tất cả các bệnh nhân sử dụng
phác đồ bậc 1
Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân sử dụng phác đồ
1C
Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân sử dụng phác đồ
1C người lớn và phác đồ 1C trẻ em
Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân sử dụng phác đồ
1D
Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân sử dụng phác đồ
1E
Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân sử dụng phác đồ
48
Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân người lớn và trẻ
em
Giá đơn vị đóng gói nhỏ nhất đối với từng loại thuốc ARV
57
58
59
70
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Tên
Hình 1.1
Nội dung
Bản đồ phân bố số lượng người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
năm 2013
Trang
2
Hình 1.2
Thành phần chi phi điều trị HIV/AIDS của PEPFAR
14
Hình 1.3
Các loại bảo hiểm y tế được bệnh nhân sử dụng
37
Hình 3.9
Tổng số thành viên trong gia đình bệnh nhân
38
Hình 3.10
Thu nhập bình quân hàng tháng của bệnh nhân
40
Hình 3.11
Thu nhập bình quân hàng tháng của cả gia đình bệnh nhân
40
Hình 3.12
Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của gia đình bệnh
nhân
41
người lớn, 32% trẻ em và 73% phụ nữ có thai nhiễm HIV nhận được điều trị [56].
Tại Việt Nam, tính đến ngày 18/06/2015, toàn quốc có 227.114 bệnh nhân
HIV/AIDS còn sống, số bệnh nhân AIDS là 71.115, số ca tử vong vì AIDS là 74.442.
Tất cả các tỉnh, thành phố; 98,9% quận, huyện và 80,3% xã, phường báo cáo có trường
hợp nhiễm HIV [9]. Tỷ lệ nhiễm HIV trên toàn dân là 248/100.000 người. Nam giới
chiếm 67,6%, nữ giới chiếm 32,4%. 74,9% các trường hợp nhiễm HIV/AIDS tập trung
vào nhóm tuổi 20-39 trong đó chủ yếu là từ 30-39 tuổi [8]. Hiện nay, mới chỉ có 95.752
bệnh nhân được điều trị ARV trong đó có 91.156 người lớn và 4.596 trẻ em.
Ngân sách điều trị HIV/AIDS ở Việt Nam hiện đang chủ yếu đến từ nguồn tài
trợ nước ngoài. Tuy nhiên, Việt Nam đang dần thoát khỏi nhóm các quốc gia nghèo và
thu nhập thấp nên trong thời gian tới, nguồn kinh phí viện trợ từ nước ngoài bị cắt giảm
nghiêm trọng. Hiện nay, nhiều nhà tài trợ đã ngừng cấp kinh phí hỗ trợ công tác điều trị
và phòng chống HIV/AIDS cho Việt Nam [9]. Nhằm đem lại một số thông tin về các
chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân ngoại trú để góp phần hỗ trợ Chính phủ
ước tính nguồn kinh phí cần thiết cho công tác phòng chống HIV/AIDS khi nguồn viện
trợ quốc tế bị cắt giảm trong thời gian tới, chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích chi phí
điều trị của các bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS
tỉnh Hải Dương” với 2 mục tiêu:
- Mô tả một số đặc điểm của các bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú được điều trị
tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương.
- Phân tích cơ cấu chi phí điều trị của các bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú được
điều trị tại cơ sở điều trị nói trên trong năm 2015.
1
CHƢƠNG I – TỔNG QUAN
1.1. Thực trạng về HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
HIV là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, có thể dẫn đến hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). Không giống như một số virus khác, cơ thể con
trẻ em mất cha hoặc mẹ hoặc cả hai vì AIDS. Mức độ bao phủ điều trị HIV cho trẻ em
chỉ bằng 1/2 so với người lớn. Cứ 50 tiếng thì có thêm một phụ nữ trẻ nhiễm HIV [53].
HIV là yếu tố nguy cơ lớn nhất cho việc phát triển bệnh lao. Trong năm 2013,
khoảng 360.000 trường hợp tử vong do bệnh lao xảy ra ở những người sống chung với
HIV, chiếm một phần tư trong số 1,5 triệu người tử vong do HIV trong năm đó. Đa số
những người sống chung với HIV và lao cư trú ở khu vực miền Nam sa mạc Sahara
châu Phi (khoảng 78% các trường hợp trên toàn thế giới) [79]. Bên cạnh đó, trong số
35 triệu trường hợp sống chung với HIV, có 2 – 4 triệu người đồng nhiễm HBV và 4 –
5 triệu trường hợp đồng nhiễm HCV [55].
Theo số liệu của WHO và UNAIDS, sự tiếp cận của các bệnh nhân HIV/AIDS
đến ART tăng gấp 40 lần từ năm 2002 đến năm 2012 [53]. Tính đến tháng 3 năm 2015,
15 triệu bệnh nhân đã được điều trị ARV trên toàn thế giới. Trong số này, gần 13,5
triệu trường hợp sống ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. 41% (38 – 46%)
bệnh nhân người lớn, 32% (30 – 34%) trẻ em và 73% (68 – 79%) phụ nữ có thai nhiễm
HIV nhận được điều trị [56]. Khoảng 70% phụ nữ mang thai nhiễm HIV ở các nước có
thu nhập trung bình và thấp nhận được thuốc ngăn ngừa lây truyền từ mẹ sang con.
Khoảng 2 triệu người mới bắt đầu bước vào điều trị ARV trong năm 2013 và 2014 –
một mức tăng hàng năm lớn nhất từ trước đến nay.
Các đối tượng có nguy cơ cao bị nhiễm HIV được WHO cảnh báo [70]:
- Quan hệ tình dục đồng giới ở nam: Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ
tình dục đồng giới lớn hơn so với dân số nói chung khoảng 13 lần. Lý do chính là do
quan hệ qua đường hậu môn không sử dụng bao cao su [52].
3
- Các tù nhân và những người bị giam giữ: Tỷ lệ nhiễm HIV và các bệnh lây
truyền qua đường tình dục ở các đối tượng trong tù và bị giam giữ cao gấp 2 đến 10 lần
so với dân số nói chung [21]. Bên cạnh những hành vi gây nguy cơ cao nhiễm HIV
trong nhà tù như các hoạt động tình dục không an toàn, tiêm chích ma túy và xăm mình
thì các yếu tố liên quan đến cơ sở hạ tầng nhà tù, quản lý trại giam và hệ thống tư pháp
1.1.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam
Các trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam đã được báo cáo trong năm
1990 tại thành phố Hồ Chí Minh. Kể từ đó, số trường hợp nhiễm HIV đã tăng lên một
cách đáng kể. Theo báo cáo mới nhất của Bộ Y tế ngày 18/06/2015, số người nhiễm
HIV ở Việt Nam đang còn sống là 227.114 người, số bệnh nhân AIDS là 71.115 người
và số trường hợp tử vong 74.442 người [9].
Tỷ lệ người hiện mắc HIV toàn quốc trên 100.000 dân theo báo cáo là 248
người. Tỷ lệ hiện mắc HIV trên 100.000 dân cao ở các khu vực miền núi phía Bắc, các
tỉnh miền Đông Nam Bộ. Tỉnh Điện Biên là địa phương có tỷ lệ hiện mắc HIV trên
100.000 dân cao nhất cả nước (875), tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (690), xếp thứ
3 là tỉnh Thái Nguyên (636). Phần lớn các tỉnh có số người nhiễm HIV cao là các tỉnh,
thành phố có dân số nhiều và kinh tế phát triển, tuy nhiên một số tỉnh như Sơn La, Thái
Nguyên có số lượng người nhiễm HIV cao có liên quan nhiều đến việc nghiện chích
ma túy [8]. Xu hướng dịch HIV tiếp tục giảm qua các năm, tuy nhiên mỗi vùng, miền
có mức độ dịch HIV khác nhau.
Về địa bàn phân bố dịch: Đến giữa năm 2015, tất cả các tỉnh, thành phố; 80,3%
số xã, phường, thị trấn và 98,9% số quận, huyện đã báo cáo có người nhiễm HIV [9].
Phân loại theo giới tính: nam giới chiếm 67,6%, nữ giới chiếm 32,4%. Các trường hợp
nhiễm HIV chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi từ 20 - 39 tuổi, chiếm khoảng 74,9% tổng số
người nhiễm. Độ tuổi nhiễm HIV có xu hướng tập trung vào nhóm tuổi 30 - 39 [8].
Phân bố người nhiễm HIV theo đường lây truyền: lây truyền qua đường tình dục
ngày chiếm tỷ trọng cao trong khi lây truyền qua đường máu có xu hướng giảm. Báo
cáo trong 3 tháng đầu năm 2014 cho thấy tỷ lệ người nhiễm HIV được xét nghiệm phát
hiện lây truyền qua đường tình dục chiếm tới 48,2%, đường máu 36,8%, tỷ lệ người
nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sang con chiếm 2% và có 13% tỷ lệ người nhiễm HIV
không rõ đường lây truyền [8]. Số người nhiễm HIV phát hiện mới có xu hướng giảm
trong 7 năm gần đây, tuy nhiên vẫn ở mức cao khoảng 12.000 - 14.000 ca mỗi năm [9].
Tỷ lệ người nhiễm HIV là người nghiện chích ma túy vẫn chiếm chủ yếu trong khi tỷ lệ
người nhiễm HIV được phát hiện là đối tượng tình dục khác giới có xu hướng gia tăng.
đặc biệt về luật thương mại quốc tế. Việc cắt giảm phần lớn giá thuốc có ý nghĩa to lớn
trong việc mở rộng phạm vi điều trị trên quy mô toàn cầu [26]. Năm 2003, WHO đưa
ra mục tiêu đạt 3 triệu người ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình được
điều trị thuốc kháng HIV vào năm 2005 tuy nhiên đến năm 2007 thì các chỉ tiêu đặt ra
mới đạt được. Số lượng bệnh nhân được điều trị tăng từ 400 nghìn người vào năm 2003
lên 1,3 triệu người trong năm 2005, trong đó vùng Sahara châu Phi tăng gấp 8 lần [64].
Xem xét một số thành công đã đạt được, một mục tiêu trong năm 2006 đã được thiết
lập cho việc tiếp cận sự phổ cập điều trị, phòng ngừa và chăm sóc HIV vào năm 2010.
Tuy nhiên, UNAIDS, UNICEF và WHO thừa nhận rằng hầu hết các nước không đáp
6
ứng được các mục tiêu năm 2010 là 80% số bệnh nhân được điều trị. Trong năm 2011,
cộng đồng quốc tế tiếp tục mục tiêu tiếp cận phổ cập nói trên. Lần này, các nước cam
kết đạt được tiếp cận phổ cập vào năm 2015.
1.1.3.2. Tại Việt Nam
Chương trình điều trị bằng thuốc ARV miễn phí cho bệnh nhân HIV/AIDS được
bắt đầu từ năm 2006. Hiện nay, toàn quốc có 312 phòng khám ngoại trú và 526 điểm
cấp phát thuốc ARV tại các xã, phường; đang điều trị ARV tại 23 trại giam và 33
Trung tâm 06. Hiện có 95.752 bệnh nhân đang điều trị ARV, trong đó 91.156 người
lớn và 4.596 trẻ em. Tình trạng điều trị muộn đã được cải thiện với tỷ lệ CD4 < 100 tế
bào/mm3 khi bắt đầu điều trị ARV giảm từ 51% của năm 2012 xuống còn 34,4%. Tỷ lệ
bệnh nhân đã điều trị ARV ít nhất 36 tháng có tải lượng HIV dưới 1.000 bản sao/ml là
95,1%, trong đó điều trị ARV bậc 1 là 92,9%. Tình trạng HIV kháng thuốc ở mức độ
thấp: tỷ lệ HIV kháng thuốc trên bệnh nhân điều trị ARV từ 36 tháng trở lên là 4,6%.
Tính đến ngày 31/5/2015, 46 tỉnh, thành phố đã triển khai chương trình điều trị
Methadone với 170 cơ sở, hiện điều trị cho 31.162 bệnh nhân. Trong quý 1 năm 2015,
42 tỉnh, thành phố triển khai chương trình bơm kim tiêm, phân phát miễn phí trên 4,1
triệu bơm kim tiêm. Chương trình phân phát bao cao su đã được triển khai tại 56 tỉnh,
thành phố. Số lượng bao cao su được phân phát miễn phí 3 tháng đầu năm 2015 là 1,8
HIV/AIDS [73]. Nhìn chung, trong tổng ngân sách HIV/AIDS toàn cầu, nguồn ngân
sách cho phòng bệnh, công tác chăm sóc và điều trị chiếm tỷ trọng lớn nhất [46].
Đông Âu và Trung Á là những khu vực bị ảnh hưởng lớn trước tác động của
việc giảm tài trợ ngân sách từ bên ngoài và cuộc khủng hoảng kinh tế. Ít hơn một phần
tư số người cần điều trị HIV/AIDS trong các khu vực này nhận được điều trị và ngân
sách y tế của chính phủ cho chương trình điều trị HIV/AIDS bị giảm mạnh [71].
Theo số liệu từ AVERTing HIV and AIDS, trong năm 2013, chi phí trung bình
điều trị ARV theo PĐĐT bậc 1 (first-line), bậc 2 (second-line) và bậc 3 (third-line) ở
các nước có thu nhập trung bình và thấp lần lượt là 115 USD, 330 USD và hơn 1.500
USD mỗi bệnh nhân một năm (PPY). Số liệu từ UNAIDS năm 2013 cho thấy chi phí
của phác đồ bậc 1 ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp đã giảm xuống còn
140 USD PPY [53].
Chi phí điều trị cho các bệnh nhân HIV/AIDS đã giảm đi rất nhiều so với con số
là 10.000 – 15.000 USD PPY vào cuối thế kỷ 20 nhờ những đột phá trong việc cung
cấp các thuốc generic điều trị HIV/AIDS giá rẻ. Tuy nhiên, hiện nay nhiều quốc gia thu
nhập trung bình ở châu Á, Mỹ Latin, Đông Âu và Trung Á vẫn đang phải trả chi phí
cao hơn do không có khả năng tiếp cận với các thuốc generic giá rẻ nói trên [72]. Theo
các báo cáo từ UNAIDS, chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia trên thế giới
được thể hiện ở Bảng 1.1, 1.2, 1.3 và 1.4.
8
Bảng 1.1. Chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia ở châu Á
và châu Đại Dương
TT
1
Quốc gia
điều trị, nhiễm trùng cơ hội 21,2% và chi phí chăm sóc ở nhà là 26,7%.
- Chi phí dành cho phòng bệnh là chủ yếu, chiếm 38,63%, chi phí
Tajikistan chăm sóc và điều trị chỉ 9,62% tổng chi phí.
4
[75]
Fiji
5
[22, 43]
- Chi phí ARV chỉ chiếm 9,45% tổng chi phí chăm sóc và điều trị, cao
nhất là chi phí dành cho xét nghiệm và tư vấn (62,44% năm 2009).
- Chi phí dành cho phòng bệnh là chủ yếu, chiếm 64% tổng ngân sách.
Chi phí cho chăm sóc và chữa bệnh rất ít, chỉ 1% trong khoảng
2007/09 và năm 2012 là 0% do số người nhiễm HIV rất ít (chỉ khoảng
45 người năm 2010). Năm 2012, ngân sách dành cho những người
sống chung với HIV là 0,00 USD.
Indonesia
6
[30]
- Năm 2007, ngân sách dành cho HIV/AIDS là 58,4 triệu USD. Chi phí
điều trị cho mỗi bệnh nhân khoảng 234 USD PPY.
- Chi phí dành cho phòng bệnh cao nhất (chiếm 41,53%), chi phí dành
cho chăm sóc và điều trị chiếm 15,8% tổng ngân sách dành cho
HIV/AIDS.
9
điều trị ARV chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các loại chi phí, chiếm
56,6% tổng chi phí chăm sóc và điều trị; dự phòng nhiễm trùng cơ hội
là 3,9% và điều trị nhiễm trùng cơ hội là 0%.
Bảng 1.2. Chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia ở châu Âu và châu Mĩ
TT
Quốc gia
Chi phí điều trị HIV/AIDS
- Hàng năm, chi phí dành cho 1 bệnh nhân ước tính khoảng 674 USD.
Jamaica
1
[28]
Belarus
2
[57]
- Chi phí dành cho chăm sóc và điều trị thấp hơn chi phí phòng bệnh
nhưng tăng mạnh từ 18,21% năm 2011/12 lên 28,76% năm 2012/13.
Chi phí cho điều trị ART chiếm tỷ lệ cao nhất với 56,39% tổng chi phí
chăm sóc và điều trị năm 2012/13.
- Chi phí dành cho chăm sóc và điều trị HIV/AIDS (có xu hướng tăng
lên) thấp hơn rất nhiều so với chi phí dành cho phòng bệnh (có xu
hướng giảm), lần lượt chiếm 18,27% và 54,53% năm 2011.
- Chi phí điều trị ARV cao nhất, chiếm 40,85%, điều trị nhiễm trùng cơ
hội chiếm 23,53% tổng chi phí chăm sóc và điều trị. Chi phí điều trị
HIV/AIDS khoảng 276,5 USD PPY. Trung bình, chi phí của PĐĐT
USD và năm 2008/09 là 900 USD.
Namibia
1
[26]
- Chi phí dành cho chăm sóc và chữa bệnh chiếm 56% tổng ngân sách,
phòng bệnh chiếm 30%. Đặc biệt ở Namibia, trong nhóm chi phí dành
cho chăm sóc và điều trị, chi phí cho ART cực kỳ thấp, chỉ 0,02% cho
năm 2007/08.
Lesotho
[29]
- Trong chi phí điều trị và chăm sóc, chi phí cho ART cao nhất, chiếm
78%, hỗ trợ dinh dưỡng 14% và điều trị NTCH 4%.
Botswana
- Là một trong những nước có tỷ lệ nhiễm cao nhất thế giới với 1,8
triệu người sống chung với HIV.
[16]
- Chi phí cho ARV chiếm 32% trong khi chăm sóc bệnh nhân chiếm
2
3
11
8
Mozambique
[47]
- Là quốc gia có số người nhiễm HIV rất cao (7,1% toàn cầu), chi phí
trung bình cho 1 bệnh nhân là khoảng 127,58 USD PPY.
- Trong chi phí chăm sóc và điều trị, chi phí cho ART chiếm 56%,
điều trị nhiễm trùng cơ hội 7% và dinh dưỡng hỗ trợ 7%.
Bảng 1.4. Chi phí điều trị HIV/AIDS của 1 số quốc gia ở phía Đông và Tây châu Phi
TT
1
2
Quốc gia
Tanzania
[46]
Sierra
Leone
[34, 35]
Chi phí điều trị HIV/AIDS
trong năm 2011.
- Chăm sóc và điều trị chiếm 31,43% tổng chi phí, phòng bệnh chiếm
17,02%. Trong chi phí chăm sóc và điều trị, chi phí cho ARV chiếm
14,3%, các chất dinh dưỡng bổ sung chiếm 21,9%.
- Chi phí từ phía hộ gia đình: chi phí nhập viện trực tiếp là 120 USD
PPY, cho ARV là 41,5 USD PPY, cho những thuốc khác là 47 USD
PPY và cho các chất dinh dưỡng là 113,4 USD PPY.
- Trong chi phí dành cho chăm sóc và điều trị, chi phí cho ARV chiếm
60,1% năm 2010/11 và 55% năm 2011/12; chi phí cho dinh dưỡng hỗ
trợ ART khoảng 10,5% tổng chi phí.
12