TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Tiểu luận
Thị Tr ường
Chứng oán
Học kỳI -Nhóm 1
Giảng viên: Ths. Ngô Khánh Huyền
***
Đề tài: Bình
VềChứng
Điều Kiện
& Khả
Thị Luận
Trường
Khoán
ViệtNăng
Nam Huy Động Vốn Qua
Sinh viên thực hiện:
Lớp
Đặng Quốc Kỳ -A16150
:
THITRUONGCK.2
Năm 2013
phiếu từ TTCK.
Ưu điểm: Tập trung và huy động vốn rất lớn từ xã hội vì quyền tự do chuyển
nhượng và mua bán trên thị trường,giảm chi phí huy động vốn do tiếp cận trực tiếp
với nhà đầu tư;
Nhược điểm: Chịu áp lực cao từ cổ đông, nhà đầu tư về kỳ vọng, tình hình hoạt
động SXKD,giá cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi các thông tin liên quan đến Cty, quan
hệ cung cầu, tình hình TTCK…
2. Phát hành trái phiếu Công ty
Ưu điểm: Vốn đến từ nhiều đối tượng có tiềm lực tài chính (quỹ đầu tư, Cty và tập
đoàn bảo hiểm, tài chính…) và thủ tục pháp lý không quá phức tạp, DN có thể áp
dụng lãi suất linh hoạt cũng như nhiều phương án trả lãi và gốc. DN phát hành trái
phiếu không phải thế chấp tài sản, Hoạch định tài chính bằng trái phiếu rẻ hơn các
khoản vay khác.
Nhược điểm: DN phải thanh toán đầy đủ khi đáo hạn đúng theo cam kết trong hợp
đồng với mức lãi suất cố định. Trái phiếu BĐS rủi ro hơn trái phiếu ngân hàng,có
thể gặp khó khăn trong việc cấu trúc khoản vay sao cho dự án BĐS luôn có khả
năng trả lãi và gốc. Phải bảo đảm dòng tiền liên quan đến nợ không bị âm.
3. Vay ngân hàng, tổ chức tín dụng và các quỹ đầu tư
Vay ngân hàng, tổ chức tín dụng:
Ưu điểm: Một phương thức vay truyền thống và phổ biến, có những hạn chế nhất
định nhưng dễ dàng được chấp nhận hơn quy định của TTCK,có thể xin gia hạn
nếu chưa có khả năng trả (đối với Cty có uy tín và quan hệ lâu dài với ngân hàng).
Nhược điểm: Ngân hàng đang hạn chế tối đa cho vay đầu tư BĐS nhằm tránh nạn
đầu cơ và giảm lạm phát. Hiện đang thiếu hụt nguồn vốn cho vay trung và dài hạn
trong khi đối với ngành BĐS, chủ yếu NH dùng nguồn vốn trung và dài hạn để cho
vay,phải có tiềm lực tài chính mạnh, phương án sử dụng vốn khả thi mới có thể thế
chấp cầm cố BĐS.
4. Vay các quỹ đầu tư:
7. Đối tác nước ngoài:
Ưu điểm: Dành cho DN có quy mô lớn hơn: liên doanh với đối tác nước ngoài
mạnh về vốn và kinh nghiệm sẽ bổ sung kiến thức kinh nghiệm quản lý cho nguồn
nhân lực, nâng cao uy tín, khẳng định thương hiệu cho DN. Tính pháp lý của dự án
rõ ràng.
Nhược điểm: Đối tác nước ngoài thường có những phân tích rất kỹ về năng lực,
quy mô, tính khả thi của dự án. Xuất hiện những bất đồng trong quản trị DN, văn
hóa kinh doanh, nguồn nhân lực hiện tại.
8. Các quỹ tín thác BĐS (REITs)
Ưu điểm: Quỹ có thể đầu tư vào nhiều loại BĐS, trong đó thường tập trung vào các
dự án BĐS cho thuê như văn phòng cao cấp, khu công nghiệp, TTTM quy mô
lớn… mà thường các cá nhân đầu tư không thể tiếp cận được. Cty quản lý quỹ có
uy tín về nguồn lực, kinh nghiệm về thị trường BĐS, quản lý vốn… Nguồn vốn
lớn không bị giới hạn. Đầu tư qua quỹ sẽ tiết kiệm thời gian khi mua, bán và quản
lý BĐS. Trên thế giới chứng chỉ quỹ REITs mang tính thanh khoản cao, dễ dàng
chuyển nhượng, cổ tức và thu nhập bình quân hàng năm ổn định.
Nhược điểm: Là hình thức đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư từ bỏ một số cơ hội tự do
lựa chọn và cũng như mất đi cơ hội để “cảm nhận” về thị trường. Kết quả đầu tư
của một số quỹ trong thực tế rất là thất vọng. Nhà nước chưa ban hành khung pháp
lý cho hoạt động của quỹ, đặc biệt chưa có chính sách miễn thuế thu nhập cho cổ
tức của người sỡ hữu chứng chỉ quỹ REITs. Nhà đầu tư trong nước chưa quen với
hình thức đầu tư thông qua tổ chức trung gian.
PHẦN 2. ĐIỆU KIỆN VÀ THỦ TỤC PHÁT HÀNH TRÊN TTCK
1. Đối với phát hành chứng khoán lẻ
Điều 10a, Luật chứng khoán sửa đổi năm 2010 quy định:
• Chàobánchứngkhoánriênglẻcủatổchứcpháthànhkhôngphảilàcôngtyđạichúng
- Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng
Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời
không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá
hạn trên một năm;
- Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán được
Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua;
- Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát
hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện
khác.
c. Điều kiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng bao gồm:
- Tổng giá trị chứng chỉ quỹ đăng ký chào bán tối thiểu năm mươi tỷ đồng Việt Nam;
- Có phương án phát hành và phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt chào bán chứng chỉ
quỹ phù hợp với quy định của Luật này.
Công ty đại chúng đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng phải cam kết đưa chứng
khoán vào giao dịch trên thị trường có tổ chức trong thời hạn một năm, kể từ ngày kết
thúc đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Điều 4, Nghị định 14-2007 quy định điều kiện cụ thể cho một số loại hình doanh
nghiệp trong việc phát hành cổ phiếu và các loại chứng khoán khác:
Cổ phiếu
Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần kết hợp
chào bán cổ phiếu ra công chúng thì thực hiện theo quy định của pháp luật về việc
chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần kết
hợp chào bán cổ phiếu ra công chúng:
- Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng
- Có cam kết chịu trách nhiệm liên đới của Hội đồng quản trị hoặc các cổ đông sáng lập đối
với phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán;
- Có tổ chức bảo lãnh phát hành;
- Có ngân hàng giám sát việc sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán. Các
loại chứng khoán khác
Công ty cổ phần chào bán trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu có kèm theo chứng
quyền hoặc chứng quyền kèm theo cổ phiếu ưu đãi ra công chúng phải đáp ứng các
điều kiện sau đây:
- Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng
Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời
không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá
hạn trên một năm;
- Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát
hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện
khác.
- Có phương án phát hành, phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán, kế hoạch phát
hành số cổ phiếu cần thiết cho việc chuyển đổi được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Phương án chuyển đổi bao gồm điều kiện, thời hạn chuyển đổi, tỷ lệ chuyển đổi, phương
pháp tính và các điều kiện khác được xác định ngay trong phương án phát hành.
Tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu có bảo đảm ra công chúng theo
một trong hai phương thức bảo đảm bằng bảo lãnh thanh toán hoặc bảo đảm bằng
tài sản phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng
Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời
không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá
hạn trên một năm;
không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá
hạn trên một năm;
- Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán được
Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua;
- Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát
hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện
khác.
- Có nhu cầu huy động vốn làm nhiều đợt phù hợp với dự án đầu tư hoặc kế hoạch sản xuất
kinh doanh được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Có kế hoạch chào bán trong đó nêu rõ đối tượng, số lượng và thời gian dự kiến chào bán
của từng đợt.
d. Thủ tục phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng
Bước 1. Đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng
- Tổ chức phát hành thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng phải đăng ký với Uỷ
ban Chứng khoán Nhà nước.
- Các trường hợp sau đây không phải đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng:
+ Chào bán trái phiếu của Chính phủ Việt Nam;
+ Chào bán trái phiếu của tổ chức tài chính quốc tế được Chính phủ Việt Nam chấp
thuận;
+ Chào bán cổ phiếu ra công chúng của doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành
công ty cổ phần;
+ Việc bán chứng khoán theo bản án, quyết định của Toà án hoặc việc bán chứng
khoán của người quản lý hoặc người được nhận tài sản trong các trường hợp phá sản hoặc
mất khả năng thanh toán.
Bước 2. Hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng
Hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng gồm có:
- Giấy đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng;
- Bản cáo bạch;
Trường hợp một phần hoặc toàn bộ hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công
chúng được tổ chức, cá nhân có liên quan xác nhận thì tổ chức phát hành phải gửi
văn bản xác nhận của tổ chức, cá nhân đó cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
Các thông tin trong hồ sơ phải chính xác, trung thực, không gây hiểu nhầm và có
đầy đủ những nội dung quan trọng ảnh hưởng đến việc quyết định của nhà đầu tư.
Bước 3: Phân phối chứng khoán (Theo quy định tại Điều 21, Luật Chứng khoán
2006)
- Việc phân phối chứng khoán chỉ được thực hiện sau khi tổ chức phát hành bảo đảm người
mua chứng khoán tiếp cận Bản cáo bạch trong hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra
công chúng được công bố tại các địa điểm ghi trong Bản thông báo phát hành.
- Tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc tổ chức đại lý phải phân phối chứng
khoán công bằng, công khai và bảo đảm thời hạn đăng ký mua chứng khoán cho nhà đầu
tư tối thiểu là hai mươi ngày; thời hạn này phải được ghi trong Bản thông báo phát hành.
Trường hợp số lượng chứng khoán đăng ký mua vượt quá số lượng chứng khoán được
phép phát hành thì tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành phải phân phối hết
số chứng khoán được phép phát hành cho nhà đầu tư tương ứng với tỷ lệ đăng ký mua của
từng nhà đầu tư.
Ths. Ngô Khánh Huyền
Trang 12
- Tiền mua chứng khoán phải được chuyển vào tài khoản phong toả mở tại ngân hàng cho
đến khi hoàn tất đợt chào bán và báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
- Tổ chức phát hành phải hoàn thành việc phân phối chứng khoán trong thời hạn chín mươi
ngày, kể từ ngày Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng có hiệu lực.
Trường hợp tổ chức phát hành không thể hoàn thành việc phân phối chứng khoán ra công
chúng trong thời hạn này, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước xem xét gia hạn việc phân
phối chứng khoán nhưng tối đa không quá ba mươi ngày.
con số 20 công ty chứng khoán thua lỗ trong năm 2010 đã tăng lên 61/105 công ty thời
điểm hiện nay. Số công ty quản lý quỹ bị lỗ cũng tăng hơn so với năm 2010. Có tới 27/47
công ty quản lý quỹ bị lỗ, trong khi năm 2010 con số này là 22/47 công ty lỗ lũy kế.
Trong 6 tháng đầu năm 2011, chỉ có 1 quỹ đầu tư tăng vốn với giá trị 179 tỷ đồng, giá trị
tài sản ròng của các quỹ đến thời điểm cuối quý I là 11.372,8 tỷ đồng, giảm 960 tỷ đồng
so với cuối năm 2010. Thị trường chứng khoán đánh mất 27% từ 484 về 350 vào cuối
năm 2011 với thanh khoản trung bình ngày giảm 38% (26.6 triệu cổ phiếu /năm 2011 so
với 42.5 triệu đơn vị trong năm 2010).
Vô số nhà đầu tư đã thua lỗ. Nhiều thảm cảnh xã hội đã xảy ra mà không biết vì lý do nào
đã không được công bố một cách tường tận để cảnh báo nhà đầu tư, nhất là đối với số nhà
đầu tư hoàn toàn thiếu kinh nghiệm, chân ướt chân ráo nhảy vào thị trường theo làn sóng
bầy đàn.
Từ đầu năm 2011 đến tháng 5/2011, TTCK vẫn tiếp tục đi xuống và giá cổ phiếu vẫn tiếp
tục giảm thê thảm. Cùng với hiện tượng thua lỗ của hơn một nửa số công ty chứng khoán,
Trong khi đó, tâm trạng nhà đầu tư cực kỳ chán nản và u uất. Tiếng kêu khóc như ri nổi
lên tại sàn và trên các diễn đàn chứng khoán. Đó là một hiện tượng xã hội đặc thù của lĩnh
vực chứng khoán. Nhưng khác với thời khủng hoảng năm 2008, những tháng qua sự
hoang mang còn lan rộng hơn nhiều khi người ta không còn mấy hy vọng vào sự hồi
phục. Rậm rịch còn có lời đồn đoán về chuyện TTCK sẽ bị đưa trở về "thời kỳ dồ đá",
nghĩa là bị biến thành một kiểu thị trường OTC với mức thanh khoản "chết tiệt".
Chưa bao giờ trong lịch sử 11 năm của mình, TTCK Việt Nam lại rơi vào thời kỳ hỗn
loạn và tuyệt vọng như hiện nay. Bởi yếu tố xã hội là một thành tố không thể thiếu trong
tính chất đại chúng của TTCK, thị trường này lại đang phản ánh một góc cạnh xã hội của
thời kinh tế suy thoái.
Đã hàng năm trời trôi qua, nhưng dung dịch suy thoái này vẫn được bao bọc kín bởi cái
bình mang nhãn hiệu phát triển kinh tế và vẫn chẳng có con số thống kê chính thức nào về
chuyện có bao nhiêu người đã quyên sinh vì cái TTCK này.
Bởi thế, sẽ thật có ý nghĩa nhân sinh nếu như xảy ra khả năng (dù chỉ với 1% xác suất) là
TTCK bị "đóng cửa" và do đó sẽ trở thành một thứ thị trường OTC, với sự biến mất của
Kéo dài thời gian giao dịch buổi chiều
Các thông tin này khiến VN-Index đã tăng gần 40%, HNX-Index tăng 44% trong
vòng 5 tháng so với cuối năm 2011 và trở thành một trong những TTCK tăng ấn tượng
nhất trên thế giới. Tuy nhiên thành quả này đã bị đánh mất hoàn toàn sau ngày 9/5/2012.
Nửa cuối thất bại của năm 2012:
Nợ xấu tăng cao, thị trường gần như bị “shock” sau thông báo chính thức của
NHNN về tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống lên tới 10% thay vì 4% như các NHTM báo
cáo,những bất ổn vĩ mô và hệ thống ngân hàng bắt đầu xuất hiện. Niềm tin thị trường lung
lay sau “quả bom” Habubank công bố tình hình tài chính bi bét đã được che đậy với tỷ lệ
nợ xấu lên tới 13% và cần được giải cứu.
Việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được đẩy mạnh, SHB tham gia vào tái cơ cấu
Habubank. Thị trường trở nên thiếu tiền trầm trọng, mặc dù lãi suất giảm mạnh song các
doanh nghiệp không tiếp cận được vốn vay do các ngân hàng phải xử lý nợ xấu.
Tính hình trở nên bi bét hơn sau ngày 21/8 – ngày được coi là “ngày thứ ba đen tối”
của TTCK Việt Nam khi ông Nguyễn Đức Kiên – Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập của
ngân hàng ACB bị bắt. Tiếp theo đó, lãnh đạo ngân hàng ACB bị khởi tố, Chủ tịch STB
bị điều tra đã khiến lòng tin vào thị trường ngày càng lung lay. Cổ phiếu ngân hàng bị bán
sàn liên tiếp, bị cắt margin khiến thị trường gần như lao dốc không phanh.
So với đỉnh thiết lập tháng 5, mặc dù đã hồi phục khá nhiều trong tháng 12 song
VN-Index vẫn giảm 20% và HNX-Index giảm 36%.
Các lệnh thỏa thuận hàng nghìn tỷ đồng được thực hiện từ tháng 6/2012 đến tháng
12/2012 đặc biệt tập trung vào nhóm cổ phiếu ngân hàng đã khiến UBCK phải thanh tra
hoạt động ủy thác đầu tư từ các NHTM đến các công ty quản lý quỹ.
Thanh khoản giảm mạnh và gần như cạn kiệt trong những ngày giao dịch tháng 11,
bình quân 2 sàn giao dịch khớp lệnh 300 tỷ đồng/phiên, tuy nhiên nếu tính tổng thể cả
năm 2012, quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên đạt 1.316 tỷ đồng, tăng 28% so với năm
2011 nhờ kéo dài thời gian giao dịch buổi chiều.
33.7
56.1
2,907.
0
514.3
1,703.
5
1,513.
9
650.0
877.9
2.4
6.1
22.2
34.6
32.0
HNX Index
323.6
105.1
168.2
114.2
58.7
55.0
SL DNNY ( HOSE)
123.0
155.0
203.0
279.0
309.0
314.0
SL DNNY ( HNX)
50.4
125.5
143.6
88.0
85.9
EPS
4,598.
2
3,426.
5
4,768.
4
4,533.
4
3,977.
9
3,478.
6
phiếu)
GTGD QB/ngày (Tỷ VND)
HNX
KLGD BQ/ngày (Triệu cổ
phiếu)
HOSE - ratios
ROA
12.3%
10.1%
11.7%
10.7%
10.0%
9.0%
ROE
20.8%
17.4%
3.4%
4.9%
3.7%
EPS
3,864.
3
2,330.
3
2,792.
5
2,651.
3
2,177.
6
2,063.
2
P/E
25.0
6.5%
5.0%
4.8%
4.4%
ROE
20.7%
12.4%
14.4%
13.0%
10.0%
10.9%
D/E
1.9
2.9
2.3
mức bình quân 33,7 triệu cổ/ngày năm 2011.
HNX: HNX có sự cải thiện cả về thanh khoản theo khối lượng giao dịch bình
quân/ngày và giá trị giao dịch bình quân/ngày. Cụ thể, bình quân có 48,4 triệu
cổ phiếu được trao tay/phiên trên HNX năm 2012, tăng 51% so với 2011.
Trong khi đó, giá trị giao dịch bình quân cũng cải thiện đáng kể từ 386 tỷ
đồng/phiên năm 2011 lên 440 tỷ đồng/phiên trong 2012. Điều đáng lưu ý là số
lượng DNNY cuối năm 2012 là 398 DN, không tăng nhiều so với 385 DN cuối
năm 2011.
Mặt bằng định giá
P/E: Bình quân, 314 DN trên HOSE được giao dịch ở mức P/E = 11,3 lần và
trên HNX là 12,6 lần. Chỉ số P/E toàn ngành được StoxPlus tính toán bằng cách
lấy tổng vốn hóa chia cho tổng lợi nhuận của tất cả các DNNY. Tức là các
doanh nghiệp phát sinh lỗ (có P/E là số âm) cũng được phản ánh vào con số
này. Điểm lưu ý là hiện số liệu lợi nhuận mới chỉ cập nhật đến hết quý 3/2012
do số cả năm 2012 sẽ được công bố trải dài từ đầu tháng 1/2013 đến hết
3/2013.
P/B: Cuối ngày 24/12/2012, các DNNY trên HOSE được định giá ở mức 1,5
lần giá trị sổ sách kế toán tại cuối quý 3/2012. Trong khi đó các DNNY trên
HNX ở mức 0,7 lần.
Tỷ suất cổ tức: Lợi tức của HOSE bình quân là 3,7% và trong khi đó HNX là
9,7%. Đây là mức thấp so với lãi suất gửi tiết kiệm ngân hàng. Điều đáng chú ý
là có khá nhiều công ty năm nay xin ý kiến xin cổ đông giảm mức chi trả cổ tức
và hơn nữa, nhiều công ty không có đủ nguồn tiền trả cổ tức như cam kết.
Hiệu quả kinh doanh của các DNNY
Lãi trên tài sản (ROA): Năm 2012, các công ty trên HOSE có ROA ở mức
9%, giảm 1% so với năm 2011. Trên HNX, ROA có cũng suy giảm từ 4,8%
trong 2011 xuống 4,4% trong 2012.
Tuần từ
Tuần từ
Tuần từ
Tuần từ
2/1 – 4/1
7/1 – 11/1
14/1 – 18/1
21/1 – 25/1
28/1 – 31/1
VN-Index
(điểm)
418,35 426,06
434,19 462,69
458,97 454,16
447,79 468,09
479,6 479,79
Tuần từ
Tuần từ
Tuần từ
4/2 – 8/2
18/2 – 22/2
25/2 – 28/2
VN-Index (điểm)
483,42
482,38 - 494,03
493,95 - 477,69
483,69 - 474,56
KLGD (cp,tp,ccq)
76.844.944
319.162.902
483.117.540
2/1 – 4/1
7/1 – 11/1
14/1 – 18/1
21/1 – 25/1
28/1 – 31/1
HNX-Index
(điểm)
59,11 - 59,21
59 - 60,55
KLGD (cổ
phiếu)
302.500.449
GTGD (tỷ đồng)
2.070,46
60,62 - 62,05 61,16 - 61,61
62,52 - 62,62
25/2 – 28/2
HNX-Index
(điểm)
62,99
62,93 - 66,21
66,74 - 64,12
64,19 - 62,56
KLGD (cổ
phiếu)
51.212.841
303.785.097
504.476.741
252.339.319
GTGD (tỷ đồng)
403,13
2.482,27
31/1
42,05 - 41,96
42,03 42,02
42,03 - 42,14 42,13 - 41,95 41,92 - 42,02
KLGD (cổ phiếu)
449.947
923.314
766.693
1.001.571
794.546
GTGD (tỷ đồng)
2,25
4,46
3,62
7,82
KLGD (cổ
phiếu)
165.873
1.940.910
1.078.000
1.293.064
GTGD (tỷ đồng)
1,14
14,50
6,63
6,89
Nguồn: HNX
Bảng 7: Giao dịch VN 30 tháng 1/2013
Tuần từ
Tuần từ
Tuần từ
80.398.785
225.160.322
152.188.250
85.959.600
124.695.100
GTGD (tỷ
đồng)
1.380,10
4.816,60
2.836,50
2.166,30
2.995,90
Nguồn: HOSE
Bảng 8: Giao dịch VN 30 tháng 2/2013
1/2
Tuần từ
77.322.773
GTGD (tỷ đồng)
809,60
2.595,10
3.131,70
2.057,70
Nguồn: HOSE
Kết luận: Thị trường chứng khoán Việt Nam trong hai tháng đầu năm 2013 thực sự
khởi sắc. Cả hai chỉ số giá tổng hợp là VN-Index và HNX-Index đều tăng điểm.