LI M U
1.Tính cấp thiết của đề tài :
Hiện nay ở nớc ta đang diễn ra quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý.
Các hoạt động kinh tế nói chung, của ngành xây dựng nói riêng đang chuyển
sang hoạt động theo cơ chế thị trờng. Chính vì vậy cạnh tranh xuất hiện là một
tất yếu khách quan- trong bối cảnh đó, đấu thầu xuất hiện và phát triển không
ngừng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
Đấu thầu là một phơng thức cạnh tranh lành mạnh, nó đảm bảo cho việc
đầu t xây dựng cơ bản đạt đợc hiệu quả cao và do đó nó đang trở thành một
phơng thức chủ yếu của quá trình giao nhận thầu hiện nay,
Tuy nhiên, đây là một hoạt động còn mới mẻ ở Việt Nam, nên những hiểu
biết và việc áp dụng chế độ đấu thâù trong thực tế hiện nay đang đặt ra nhiều vấn
đề cần phải giải quyết về cả phơng diện lý luận và chỉ đạo thực tiễn.
Từ cách đặt vấn đề đó, với t cách là ngời làm việc lâu năm trong ngành
xây dựng, gắn bó với những hoạt động đấu thầu các công trình do Sở Giao
thông công chính ( Sở GTCC) Hà Nội làm chủ dự án, tôi đã chọn đề tài Một
số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lợng đấu thầu trong xây lắp ở Sở
Giao thông công chính Hà Nội làm luận án thạc sỹ khoa học kinh tế.
2. Mục đích nghiên cứu của luận án:
Luận án nhằm vào mục tiêu chủ yếu sau đây:
Một là : Qua nghiên cứu luận án góp phần hoàn thiện chế độ đấu thầu
các công trình xây lắp trên các khía cạnh nh :
- Hoàn thiện qui chế và các điều kiện đấu thầu
- Tổ chức hoạt động đấu thầu trong xây lắp.
Hai là: Đánh giá đúng thực trạng hoạt động đấu thầu hiện nay ở Sở
GTCC Hà Nội
Ba là : Đa ra một số biện pháp góp phần nâng cao chất lợng đấu
thầu nhằm quản lý tốt vốn đầu t xây dựng cơ bản ở Sở GTCC Hà Nội trong
thời gian tới
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu :
1
Chơng 1
Đấu thầu - một phơng thức chủ yếu
nhằm nâng cao chất lợng xây lắp
1.1. Thực chất, vai trò và những thuật ngữ dùng
trong đấu thầu xây lắp.
1.1.1. Thực chất của đấu thầu xây lắp:
Để triển khai một dự án đầu t đã đợc phê duyệt, thẩm định ngời ta có
thể áp dụng một trong ba phơng thức: tự làm, chỉ định thầu hoặc đấu thầu.
Trong phơng thức tự làm, chủ đầu t sẽ tự mình làm tất cả các công đoạn từ
khảo sát thiết kế đến xâp lắp. Với phơng thức chỉ định thầu, chủ đầu t giao
việc thực hiện công trình hay hạng mục công trình cho một tổ chức xây dựng
riêng biệt. Trờng hợp này, công cụ ràng buộc giữa hai bên, chủ đầu t và tổ
chức xây dựng, chính là hợp đồng xây dựng.
Đấu thầu trong xây lắp là phơng thức mà chủ đầu t sử dụng để tổ chức
sự cạnh tranh giữa các nhà thầu xây dựng nhằm lựa chọn một đơn vị có khả
năng thực hiện tốt nhất các yêu cầu của dự án đầu t. Các yêu cầu đó thờng là
yêu cầu về mặt kinh tế - tài chính, yêu cầu về mặt kỹ thuật, yêu cầu về mặt
tiến độ thi công ..
Thực chất của đấu thầu trong xây lắp là việc ứng dụng phơng pháp xét
hiệu quả kinh tế trong việc lựa chọn tổ chức thi công xây dựng. Phơng pháp
này đòi hỏi sự so sánh giữa các tổ chức xây dựng trên cùng một phơng diện
(nh kỹ thuật hay tài chính) để chọn lấy một nhà thầu đủ khả năng, sau đó lại
so sánh tiếp. Kết quả cuối cùng sẽ tìm ra đợc một tổ chức xây dựng đáp ứng
tốt nhất các yêu cầu của chủ đầu t.
Đấu thầu xây lắp cũng là một hoạt động mua bán, nhng nó khác những
vụ mua bán thông thờng ở chỗ nó mua bán công việc, ở đây ngời mua là chủ
đầu t và ngời bán là các nhà thầu. Chủ đầu t sẽ chọn ngời bán nào có giá bán
thấp nhất với chất lợng công việc nh nhau. Thực chất của đấu thầu xây lắp
cũng còn là việc tổ chức cạnh tranh trên hai phơng diện: cạnh tranh giữa chủ
bị đầu t, chuẩn bị xây dựng ... thì không thể dễ dàng thay đổi, đình hoãn. Điều
đó chứng tỏ xây dựng cơ bản là một quá trình sản xuất phức tạp, đa dạng có
tác dụng cũng nh hậu quả lâu dài về sau. Qui mô của công trình càng lớn thì
mối quan hệ với các ngành, các lĩnh vực càng phức tạp và có tác động rất lớn
đến việc phân bố lại lực lợng sản xuất và dân c, tác động đến môi sinh, môi trờng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác. Vì thế việc áp dụng đấu thầu trong xây
dựng cơ bản không những phải đạt đợc tiêu chuẩn một công trình với giá
thành rẻ, chất lợng cao mà còn phải đặt đấu thầu xây dựng
4
trong một tổng thể phát triển của nền kinh tế xã hội và đây cũng là điểm khác
biệt lớn nhất giữa đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng cơ bản so với các lĩnh vực
khác.
1.1.3. Vai trò của đấu thầu trong xây lắp:
Đấu thầu là một phơng thức kinh doanh có hiệu quả rất cao. Trong nền
kinh tế thị trờng nó càng tỏ rõ u thế của mình. Vai trò của nó thể hiện bằng
những lợi ích không chỉ với chủ đầu t mà cả các bên dự thầu và Nhà nớc.
- Với chủ đầu t, đấu thầu giúp cho họ tiết kiệm đợc vốn đầu t, đảm bảo
đợc đúng tiến độ và chất lợng công trình. Vì trong đấu thầu diễn ra sự cạnh
tranh gay gắt giữa các nhà thầu nên chủ đầu t sẽ chọn đợc nhà thầu nào có giá
thấp nhất, do đó đấu thầu đã giúp chủ đầu t tiết kiệm tối đa vốn bỏ ra mà vẫn
đảm bảo đợc chất lợng công trình cũng nh tiến độ thi công.
Phơng thức này giúp chủ đầu t nắm đợc quyền chủ động hoàn toàn.
Chỉ khi đã có sự chuẩn bị đầy đủ, kỹ lỡng về tất cả mọi mặt trớc khi đầu t, chủ
đầu t mới mời thầu và tiến hành đấu thầu thi công công trình.
Để đánh giá đợc đúng các hồ sơ dự thầu đòi hỏi các cán bộ của chủ
đầu t phải có trình độ nhất định. Việc quản lý một dự án đầu t với bên B là
một nhà thầu cũng đòi hỏi các cán bộ đó phải tự nâng cao trình độ của mình
về các mặt để đáp ứng yêu cầu của thực tế. Kết quả là thúc đẩy việc nâng cao
trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ kinh tế, kỹ thuật của chủ đầu t.
cao nhất. Trong năm 1997, nhờ áp dụng phơng thức đấu thầu trong bốn nhóm
dự án đợc phê duyệt theo Điều lệ quản lý Đầu t và xây dựng (bao gồm những
dự án do Nhà nớc cân đối vốn đầu t, dự án của các doanh nghiệp nhà nớc, dự
án do Nhà nớc bảo lãnh vay vốn và dự án sử dụng các nguồn vốn ODA), tổng
vốn đầu t thực phải bỏ ra chỉ bằng 82% tổng vốn đầu t dự toán ban đầu. Còn
với các dự án liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh với nớc ngoài, nhờ
đấu thầu nên cũng tiết kiệm đợc trên 5% tổng vốn đầu t.
Thứ hai, đấu thầu góp phần đổi mới quản lý hành chính Nhà n ớc
với hoạt động đầu t và xây dựng. Trớc tiên, trong xây dựng cũng nh trong
các ngành kinh tế khác, Nhà nớc quản lý toàn bộ, Nhà nớc quyết định việc
xây dựng những công trình nào, vốn bao nhiêu, giải pháp kỹ thuật nh thế
nào, thời gian bao lâu, ai thi công, vật t thiết bị lấy ở đâu ... Bây giờ, với cơ
chế đấu thầu Nhà nớc chỉ còn quản lý sản phẩm cuối cùng, tức là công trình
hoàn chỉnh với chất lợng đảm bảo. Việc thi công nh thế nào, vật t mua ở
đâu, thời gian thi công từng hạng mục và đặc biệt là tổng số vốn đầu t hay
giá của công trình là tùy thuộc vào từng nhà thầu khác nhau. Trách nhiệm
của các cơ quan quản lý Nhà nớc về xây dựng giờ đây chủ yếu chuyển sang
việc nghiên cứu ban hành các chính sách qui chuẩn về xây dựng để điều tiết
lĩnh vực này.
6
1.1.4. Một số thuật ngữ dùng trong đấu thầu:
Trớc khi tìm hiểu các phần tiếp theo của đấu thầu xây lắp, ta cần thống
nhất cách hiểu một số thuật ngữ thờng dùng. Những thuật ngữ này đợc giải
thích theo Qui chế đấu thầu (ban hành kèm theo Nghị định số 43/CP ngày
16/7/1996 của Chính phủ) và Điều lệ quản lý đầu t và xây dựng (ban hành kèm
theo Nghị định số 42/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ) theo đó thì:
- "Đấu thầu" là quá trình lựa chọn mà nhà thầu đáp ứng đợc các yêu
cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu.
trong hồ sơ mời thầu.
- "Danh sách ngắn" là danh sách thu hẹp các nhà thầu đợc lựa chọn
qua các bớc đánh giá hồ sơ dự thầu.
- "Dự án đầu t" là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo
mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tợng nhất định nhằm đạt đợc sự tăng trởng về số lợng, cải tiến hoặc nâng cao chất lợng của sản phẩm hay dịch vụ nào
đó trong một khoảng thời gian xác định.
- "Công trình xây dựng" là sản phẩm của công nghệ xây lắp gắn liền
với đất (bao gồm cả mặt nớc, mặt biển và thềm lục địa) đợc tạo thành bằng vật
liệu xây dựng, thiết bị vào lao động.
Công trình xây dựng bao gồm một hạng mục hoặc nhiều hạng mục
công trình nằm trong dây chuyền công nghệ đồng bộ, hoàn chỉnh (có tính đến
việc hợp tác sản xuất) để làm ra sản phẩm cuối cùng nêu trong dự án.
- "Chủ đầu t" là cá nhân hoặc tổ chức có t cách pháp nhân đợc giao
trách nhiệm trực tiếp quản lý, sử dụng vốn đầu t theo qui định của Pháp luật.
+ Đối với các dự án đầu t sử dụng vốn Nhà nớc hoặc dự án có cổ phần
chi phối hay cổ phần đặc biệt của Nhà nớc thì chủ đầu t là doanh nghiệp Nhà nớc
(tổng công ty, công ty), cơ quan Nhà nớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội hoặc tổ chức quản lý dự án đợc ngời có thẩm quyền quyết định đầu t giao
trách nhiệm trực tiếp quản lý sử dụng vốn đâu t.
+ Đối với các dự án đầu t của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần hoặc hợp tác xã, chủ đầu t là công ty hoặc hợp tác xã.
+ Đối với các dự án đầu t của t nhân, chủ đầu t là ngời sở hữu vốn.
+ Đối với các dự án đầu t trực tiếp của nớc ngoài, chủ đầu t là các bên
hợp doanh (đối với hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh); là Hội đồng quản
trị (đối với xí nghiệp liên doanh); là tổ chức cá nhân ngời nớc ngoài bỏ toàn
bộ vốn đầu t (đối với xí nghiệp 100% vốn nớc ngoài và dự án BOT).
- "Tổng mức đầu t" là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu t xây
dựng công trình thuộc dự án đợc tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật.
8
chia ra thành các gói thầu khác nhau, mỗi lần sẽ đem ra đấu thầu một gói
thầu. Mục đích của hình thức này là để chủ đầu t có thể tận dụng đợc hết các
thế mạnh về chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm của từng nhà thầu trên từng
lĩnh vực.
9
Nếu căn cứ trên phạm vi tham gia đấu thầu của các nhà thầu thì ta có
thể chia ra ba hình thức lựa chọn nhà thầu sau đây:
- Đấu thầu rộng rãi: đây là hình thức không hạn chế số lợng nhà thầu
tham gia. Bên mời thầu phải thông báo công khai trên các phơng tiện thông tin
đại chúng và ghi rõ các điều kiện, thời gian dự thầu. Đối với những gói thầu
lớn, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật, bên mời thầu phải tiến hành sơ tuyển
để lựa chọn nhà thầu có đủ t cách và năng lực tham dự đấu thầu.
- Đấu thầu hạn chế: là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời
một số nhà thầu có khả năng đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Đây thờng là các công trình có qui mô lớn, công nghệ - kỹ thuật phức tạp nên không
phải nhà thầu nào cũng đủ khả năng đáp ứng đợc các yêu cầu đề ra. Để tiết
kiệm thời gian và chi phí, bên mời thầu sẽ xem xét và lọc ra một số nhà thầu
có khả năng để mời thầu.
- Chỉ định thầu: đây là hình thức đặc biệt, đợc áp dụng theo qui định
của Điều lệ quản lý đầu t và xây dựng đối với các gói thầu sử dụng vốn Nhà nớc đợc phép chỉ định thầu. Bên mời thầu chỉ thơng thảo hợp đồng với một nhà
thầu do ngời có thẩm quyền quyết định đầu t chỉ định, nếu không đạt đợc yêu
cầu mới thơng thảo với nhà thầu khác.
Về phơng thức áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu ta có các phơng thức sau đây (theo qui chế đầu t).
- Đấu thầu một túi hồ sơ (một phong bì): khi dự thầu theo phơng thức
này, nhà thầu cần nộp những đề xuất về kỹ thuật, tài chính, giá bỏ thầu và
những điều kiện khác trong một túi hồ sơ chung.
- Đấu thầu hai túi hồ sơ (hai phong bì): khi dự thầu theo phơng thức
này, nhà thầu cần nộp những đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính trong
từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời điểm. Túi hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ
- Giao thầu trực tiếp: là phơng thức chọn ngay một nhà thầu có độ tin
cậy cao để xem xét thơng thảo hợp đồng. Phơng thức này chỉ đợc áp dụng đối
với những gói thầu có qui mô nhỏ dới 500 triệu đồng và các gói thầu đợc Thủ
tớng Chính phủ cho phép chỉ định thầu. Trờng hợp nhà thầu đợc chỉ định
không đáp ứng đợc với yêu cầu của bên mời thầu thì chủ đầu t đợc quyền kiến
nghị với ngời có thẩm quyền quyết định đầu t xem xét thay đổi nhà thầu khác
để thơng thảo hợp đồng.
- Tự làm: phơng thức này chỉ đợc áp dụng với các công trình theo qui
định của Điều lệ quản lý đầu t và xây dựng cho phép.
1.2.2. Các nguyên tắc cơ bản của chế độ đấu thầu:
Cũng nh bất cứ một phơng thức kinh doanh nào khác, hình thức kinh
doanh theo chế độ đấu thầu cũng đòi hỏi phải có những nguyên tắc nhất định
cần phải đợc tuân thủ để đạt đợc hiệu quả cao. Những nguyên tắc này chi phối
cả chủ đầu t (bên mời thầu) lẫn các bên tham dự đấu thầu.
11
- Nguyên tắc công bằng: nguyên tắc này thể hiện quyền bình đẳng nh
nhau của các nhà thầu tham gia đấu thầu. Bên mời thầu phải đối xử một cách
công bằng với mọi nhà thầu. Các nhà thầu phải đợc bình đẳng về các thông tin
cung cấp từ phía chủ đầu t, đợc trình bày một cách khách quan các ý kiến của
mình trong quá trình chuẩn bị hồ sơ cũng nh trong buổi mời thầu.
- Nguyên tắc bí mật: Nguyên tắc này đòi hỏi chủ đầu t phải giữ bí mật
mức giá dự kiến của mình cho công trình đấu thầu, cũng nh giữ bí mật các ý
kiến trao đổi của các nhà thầu với chủ đầu t trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự
thầu. Mục đích của nguyên tắc này nhằm tránh những thiệt hại cho chủ đầu t
trong trờng hợp giá dự thầu thấp hơn giá dự kiến hay gây ra sự thiệt hại cho
một bên dự thầu nào đó do bị lộ thông tin cho một bên khác.
- Nguyên tắc công khai: nguyên tắc này yêu cầu trừ những công trình
đặc biệt thuộc bí mật quốc gia, những công trình còn lại đều phải đảm bảo
và quản lý chung hoạt động của doanh nghiệp. Chính vì vậy cùng với sự phát
triển chung, các doanh nghiệp trong xây dựng cũng từng bớc chuyển đổi, tuy
rằng chậm trễ so với các ngành khác nhng đã phần nào khẳng định đợc vị trí
của mình trong bớc chuyển đổi chung.
Những năm tới đây, theo chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội dài hạn của đất nớc, lĩnh vực kết cấu hạ tầng sản xuất phải có những
thay đổi căn bản, để tạo tiền đề cần thiết cho toàn bộ nền kinh tế "cất cánh"
theo qui luật chung của sự phát triển lực lợng sản xuất. Điều này có nghĩa
trong thời gian tới, việc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế cần tăng c ờng đầu t cơ bản, các đầu mối giao lu với nớc ngoài cần đợc chú trọng đặc
biệt. Chính vì vậy chế độ đấu thầu càng phải đợc quan tâm và thực hiện
nghiêm túc.
Vấn đề phân công, phân cấp vẫn là điều phải tiếp tục giải quyết,
phần đông các doanh nghiệp xâp lắp cha vợt ra khỏi tình trạng khó khăn khi
chuyển sang hạch toán kinh doanh, đặc biệt là khi bớc vào chế độ đấu thầu.
Trong bối cảnh chung đó, việc xác định phơng hớng sản xuất kinh doanh
hợp lý, đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nớc vẫn là nhiệm vụ mà
hầu hết các nhà quản lý phải trăn trở và tìm giải pháp.
Mặt khác ngành xây lắp cũng phải tạo cho mình một cơ chế quản lý
vững mạnh, để đảm đơng đợc nhiệm vụ trớc mắt và trong tơng lai, cơ chế
đó đòi hỏi phải thúc đẩy việc thực hiện chế độ đấu thầu có hiệu quả và
khẳng định đợc đấu thầu là công cụ, phơng tiện để hoàn thiện cơ chế quản
lý của ngành.
1.3.2. Thị trờng và cạnh tranh trên thị trờng:
Xây lắp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt của xã hội, chiếm vị trí
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Thực chất của hoạt động xây lắp đó là
13
quá trình đầu t, quá trình sử dụng vốn và lao động để tạo ra sản phẩm là những
công trình cho thị trờng với lợi nhuận tối u trong khuôn khổ luật pháp cho
14
là lợi nhuận vừa là mục tiêu vừa là đòn bẩy cho mọi hoạt động kinh doanh. Do
vậy, cái khó của mọi cuộc đấu thầu là phải chọn lựa đợc nhà thầu nào đa ra
phơng án hợp lý trên mọi phơng diện. Bởi vì cạnh tranh trên thị trờng luôn là
vấn đề thời sự, đợc giải quyết trong từng thời kỳ với các biện pháp cấp bách,
khi mà việc lựa chọn các giải pháp đa ra không có hiệu lực thì thị trờng sẽ mất
ổn định một cách rõ rệt. Tuy nhiên nhân tố thị trờng và cạnh tranh trên thị trờng, đặc biệt trong thị trờng xây lắp, còn phải nghiên cứu và điều chỉnh nhiều.
Song bằng cách giải quyết của mình trong thực tế, thông qua chế độ đấu thầu,
sẽ tìm đợc giải pháp tốt nhất để tạo điều kiện cho nó phát triển hơn.
1.3.3. Vốn đầu t cho xây dựng cơ bản:
Trong cơ chế cũ, tài chính quốc gia và tài chính của các doanh nghiệp
quốc doanh không tách biệt nhau. Ngân sách Nhà nớc bù đắp các khoản lỗ
của doanh nghiệp quốc doanh và thu phần lợi nhuận của chúng. Do đó hầu hết
các công trình xây dựng đều do Nhà nớc nuôi, lỗ Nhà nớc bù, các đơn vị kinh
tế cơ sở chỉ biết làm, thiếu thì kêu, hết việc thì nghỉ hởng lơng, và cũng từ đây
nảy sinh ra nhiều biểu hiện tiêu cực, xuất hiện hình thức "lỗ thật, lãi giả".. Cơ
chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm đã khơi dậy mọi tiềm năng, tạo đà cho sự
năng động vơn lên và thực sự đi vào hạch toán kinh doanh đối với các doanh
nghiệp. Ngân sách Nhà nớc đã giảm đáng kể các khoản bù lỗ, đồng thời tăng
cờng các khoản chi trả nợ nớc ngoài và dự trữ quốc gia, vì vậy vốn đầu t cho
xây dựng cơ bản còn bị hạn chế bởi nhiều mặt.
Việc sử dụng vốn đầu t hiện nay đã ảnh hởng không ít đến việc thực
hiện chế độ đấu thầu. Một khi doanh nghiệp đã tự đi vào hạch toán kinh doanh
thì trong đấu thầu vốn đầu t càng phải đợc quan tâm tích cực. Bởi nếu không
xác định đợc vốn đầu t cho công trình lấy từ nguồn nào thì không thể tiến
hành đấu thầu đợc. Nhân tố này đòi hỏi:
- Phía Nhà nớc (chủ đầu t) phải xác định đợc nguồn vốn đầu t:
+ Vay nớc ngoài &viện trợ nớc ngoài.
thông tin, thì việc lập hồ sơ dự thầu mới tạo đợc cơ sở trúng thầu.
Đối với chủ đầu t, thông tin là cơ sở phục vụ cho việc xét chọn nhà
thầu có đủ điều kiện để thực hiện hợp đồng. Hiện nay, phần lớn các công trình
trên hạn ngạch đều có đầu t từ nớc ngoài và hình thức bắt buộc là phải đấu
thầu quốc tế, do đó lợng thông tin quốc tế phải đảm bảo kịp thời, nhằm tạo
điều kiện cho phía Việt Nam thuận lợi trong công tác ngoại giao và đàm phán.
1.3.6. Các nhân tố khác:
Ngoài những nhân tố cơ bản trên thì nhân tố trình độ quản lý, trình độ
cán bộ công nhân viên ... ảnh hởng rất lớn đến việc thực hiện chế độ đấu thầu.
Sống trong cơ chế thị trờng mà không có quản lý thì hoạt động kinh doanh
khó có thể mang lại hiệu quả, hơn nữa trình độ quản lý và trình độ chuyên
16
môn của cán bộ và công nhân viên là điều kiện để xét thầu.
Trên đây là các nhân tố ảnh hởng đến chế độ đấu thầu, mỗi nhân tố có
ảnh hởng ở những mức độ khác nhau, nhng nhân tố nào cũng đều có tính hai
mặt: ảnh hởng tiêu cực và ảnh hởng tích cực. Do đó khi thực hiện chế độ đấu
thầu cần phải chú trọng phân tích và quan tâm đến tất cả mọi nhân tố, vì các
nhân tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau, nhân tố này
làm cơ sở cho nhân tố kia phát triển, và mục đích là thúc đẩy việc thực hiện
chế độ đấu thầu ở Việt Nam có hiệu quả.
1.4. Nội dung cơ bản của tổ chức đấu thầu và dự thầu.
1.4.1. Điều kiện mời thầu, dự thầu và qui trình tổ chức đấu thầu:
Điều kiện mời thầu và dự thầu đối với bên mời thầu và các nhà thầu đợc qui định cụ thể trong qui chế đấu thầu, yêu cầu về các vấn đề đó đợc cụ thể
hóa nh sau:
1.4.1.1. Điều kiện mời thầu:
Điều kiện mời thầu đòi hỏi bên mời thầu phải chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ
sau đây:
c/ Chỉ dẫn đối với nhà thầu.
d/ Hồ sơ thiết kế kỹ thuật kèm theo bản tiên lợng và chỉ dẫn kỹ thuật.
e/ Tiến độ thi công.
f/ Điều kiện chung và điều kiện cụ thể của hợp đồng.
g/ Bảo lãnh dự thầu.
h/ Mẫu thỏa thuận hợp đồng.
i/ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
1.4.1.2. Điều kiện dự thầu:
Điều kiện dự thầu đối với nhà thầu tham gia dự thầu là:
Bên dự thầu phải có giấy phép kinh doanh hoặc đăng ký hành nghề. Điều
kiện này nhằm đảm bảo rằng nhà thầu là một tổ chức kinh doanh hợp pháp.
Có đủ năng lực về kỹ thuật và tài chính đáp ứng yêu cầu đã đợc nêu
trong hồ sơ mời thầu. Điều kiện này là tất nhiên vì mục tiêu của đấu thầu là
lựa chọn đợc nhà thầu đáp ứng tốt các yêu cầu của chủ đầu t. Nếu nh nhà thầu
không có đủ khả năng về kỹ thuật và tài chính thì việc tham gia dự thầu cũng
chỉ gây tốn kém thêm mà thôi. Nhà thầu phải có hồ sơ dự thầu hợp lệ và chỉ đợc tham gia một đơn dự thầu trong một gói thầu, dù là đơn phơng hay liên
doanh dự thầu.
18
Một bản hồ sơ dự thầu xây lắp bao gồm:
a/ Đơn dự thầu.
b/ Bản sao đăng ký kinh doanh và chứng chỉ nghề nghiệp.
c/ Tài liệu giới thiệu năng lực nhà nhầu.
d/ Biện pháp thi công tổng thể và biện pháp thi công chi tiết các hạng
mục công tình.
e/ Tổ chức thi công và tiến độ thực hiện hợp đồng.
f/ Bản dự toán giá dự thầu.
g/ Bản lãnh dự thầu.
1.4.1.3. Qui trình tổ chức đấu thầu và dự thầu:
(11) Tổ chức thực hiện hợp đồng thầu khoán.
b/ Thể thức và trình tự đấu thầu theo thông lệ quốc tế:
- Thể thức dự sơ tuyển cho ngời ứng thầu.
(1) Mời các nhà thầu dự sơ tuyển.
(2) Phát và nộp các tài liệu dự sơ tuyển.
(3) Phân tích các số liệu dự sơ tuyển, lựa chọn và thông báo
danh sách các ứng thầu.
- Thể thức để nhận đơn thầu:
(4) Soạn thảo tài liệu đấu thầu.
(5) Phát tài liệu đấu thầu.
(6) Các ứng thầu đi thăm công trờng.
(7) Sửa đổi bổ sung tài liệu đấu thầu.
(8) Thắc mắc của các ứng thầu, cách xử lý.
(9) Nộp và nhận đơn thầu.
- Thể thức mở và đánh giá các đơn thầu:
(10) Mở đơn thầu.
(11) Đánh giá đơn thầu.
(12) Ký hợp đồng giao thầu.
1.4.2. Phơng pháp tính giá dự thầu và qui trình xét đơn dự thầu.
1.4.2.1. Phơng pháp tính giá dự thầu:
20
Một vấn đề rất cơ bản và quan trọng trong đấu thầu là việc tính giá dự
thầu (với nhà thầu) và tính giá mời thầu (với bên mời thầu), ta gọi chung đó là
giá dự thầu. Việc tính toán chính xác giá dự thầu sẽ quyết định tới việc thành
công hay thất bại của cuộc đấu thầu (xem phụ lục 1).
1.4.2.2. Qui trình xét đơn dự thầu:
Sau khi đã chuẩn bị xong hồ sơ dự thầu, các bên muốn tham gia đấu thầu
sẽ nộp hồ sơ dự thầu cho bên mời thầu đúng thời hạn. Tuỳ thuộc vào qui mô và
Việc trớc tiên trong bớc này là bên mời thầu sẽ xem xét kỹ và sửa chữa
các lỗi số học trong các hồ sơ dự thầu, nếu có. Nếu hồ sơ dự thầu không có
những sai lệch cơ bản (quá 10% tổng giá dự thầu) so với các yêu cầu của hồ sơ
mời thầu, bên mời thầu sẽ tiến hành điều chỉnh, bổ sung giá dự thầu để so sánh
các hồ sơ dự thầu trên cùng một mặt bằng. Sau khi đã sửa chữa, điều chỉnh
những sai sót trên, các hồ sơ dự thầu sẽ đợc đánh giá theo các tiêu chuẩn xét thầu
đã đợc phê duyệt để so sánh với nhau. Các tiêu chuẩn chủ yếu là:
(1) Tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lợng: đợc đánh giá trên các nội dung
chủ yếu sau:
Mức độ đáp ứng của hồ sơ dự thầu của so với các yêu cầu về kỹ thuật, chất lợng vật t, thiết bị nêu trong hồ sơ thiết kế và chỉ dẫn kỹ thuật.
- Sơ đồ tổ chức hiện trờng.
- Bố trí nhân lực tại hiện trờng, kèm theo danh sách các cán bộ chủ
chốt, trình độ, thâm nhiên công tác, nhiệm vụ dự kiến đợc giao, kinh nghiệm
có liên quan.
- Tính hợp lý, khả thi của các giải pháp kỹ thuật, biện pháp tổ chức thi công.
- Các biện pháp bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trờng và các điều kiện
an toàn khác nh phòng cháu, nổ, an toàn lao động ...
- Sự phù hợp của thiết bị thi công về số lợng, chủng loại, công suất sử
dụng và tiến độ huy động cho công trình ...
(2) Đánh giá về tiêu chuẩn kinh nghiệm: chủ yếu căn cứ vào "hồ sơ
kinh nghiệm nhà thầu" do các công ty gửi kèm trong hồ sơ dự thầu.
(3) Đánh giá về tiêu chuẩn tiến độ thi công: bên mời thầu sẽ xem xét
mức độ đảm bảo tổng tiến độ thi công qui định trong hồ sơ mời thầu, cũng nh
sự hợp lý về tiến độ hoàn thành giữa các hạng mục, phần việc của công trình
có liên quan.
(4) Đánh giá tiêu chuẩn tài chính - giá cả:
- Về tiêu chuẩn tài chính, bên mời thầu sẽ xem xét khả năng tài chính
trong ba năm gần đây của các nhà thầu về tổng tài sản có, tài sản lu động,
tổng nợ phải trả, nợ phải trả trong kỳ, nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn kinh
22
thầu ở Việt Nam.
23
Chế độ đấu thầu ra đời trên cơ sở của chế độ bán đấu giá. Nó đợc
nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nớc trên thế giới, đặc biệt là những nớc có nền
kinh tế phát triển.
Vào cuối những năm 30 và đầu năm 40 cùng với sự phát triển của thị
trờng kinh tế t bản trên nhiều lĩnh vực, đòi hỏi chế độ bán đấu giá cũng phải đợc áp dụng rộng rãi. Nhng bán đấu giá cha có đủ cơ sở để thực hiện trong lĩnh
vực có đặc thù riêng nh: chuyển giao công nghệ, xây dựng cơ bản, mua sắm
trang thiết bị ... do vậy mà đấu thầu đã ra đời. Đấu thầu ra đời và đợc áp dụng
là một tất yếu khách quan.
ở Việt Nam từ 1988 trở về trớc, quá trình đầu t xây dựng cơ bản đợc thực
hiện theo Điều lệ Xây dựng cơ bản ban hành theo Nghị định số 232/CP ngày
06/6/1981 các doanh nghiệp xâp lắp theo phơng thức tự làm và giao nhận thầu xây
dựng. Hai phơng thức trên có một số u khuyết điểm nhất định nh:
- Đối với phơng thức tự làm: tạo điều kiện cho chủ đầu t thi công theo
đúng ý đồ của mình, đảm bảo cả về thời gian và chất lợng công trình.
Nhng phơng thức tự làm mang tính chất tự cung, tự cấp, một phần nào
đó để bỏ qua các thiếu sót trong thủ tục xây dựng cơ bản, vì vậy hình thức này
không tạo điều kiện để lập nên các tổ chức chuyên nghiệp, dẫn đến năng suất
và hiệu quả xây lắp không cao. Hơn nữa hoạt động xây lắp không phải là hoạt
động cơ bản của chủ đầu t, do đó mức độ quan tâm cũng nh số vốn bỏ ra để
mua sắm thiết bị máy móc phục vụ cho thi công là hạn chế đội ngũ cán bộ
quản lý cũng nh công nhân kỹ thuật, không đợc tạo điều kiện để áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật và phơng thức này chỉ có thể áp dụng cho những công
trình qui mô nhỏ, yêu cầu về kỹ thuật đơn.
- Còn phơng thức giao nhận thầu: có cơ sở để hạ giá thành công trình
- Công trình phát sóng đài truyền hình Hải Hng.
- Kho đông lạnh Hà Nội ...
Trong thực tế Thông t hớng dẫn tạm thời số 03 còn rất nhiều khiếm
khuyết. Đến ngày 07/11/1990 HĐBT ban hành điều lệ quản lý xây dựng cơ
bản theo Nghị định 385 nhằm sửa đổi bổ sung điều lệ quản lý xây dựng cơ
bản theo Nghị định 232/CP ngày 06/6/1981.
Ngày 12/02/1990 Bộ trởng xây dựng ban hành bản hớng dẫn cụ thể
thực hiện chế độ đấu thầu số 24/BXD-VKT. Qui chế này đợc thực hiện trong 4
năm, trong điều kiện nền kinh tế có rất nhiều biến động, đòi hỏi chế độ đấu
thầu ngày càng phải hoàn thiện do đó phát sinh nhiều vấn đề cần nghiên cứu
và giải quyết. Ngày 30/3/1994 Bộ trởng Bộ xây dựng một lần nữa ban hành
"Qui chế đấu thầu xây lắp" số 60/BXD-VKT thay cho số 24/BXD-VKT.
25