SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT
Mã số:…………………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY KÝ HIỆU NGÔN NGỮ
CHO TRẺ KHIẾM THÍNH
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ NGỌC TRINH
Lĩnh vực nghiện cứu:
- Quản lý giáo dục:…………. □
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ký hiệu ngôn
ngữ.
- Lĩnh vực khác: ………..□
Có đính kèm:
□ Mô hình
□ Phần mềm
□ Phim ảnh
□ Hiện vật khác
Năm học 2011 - 2012
1
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I.
1.
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+ Sử dụng giao tiếp tổng hợp trong giảng dạy trẻ Khiếm thính.
+ Nâng cao hoạt động tổ chuyên môn Tiểu học.
+ Một số biện pháp rèn đọc chữ Braile cho trẻ Khiếm thị.
2
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
T
N
D
K
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY KÍ HIỆU NGÔN NGỮ
CHO TRẺ KHIẾM THÍNH
I.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trẻ Khiếm thính là một trong những đối tượng khó khăn nhất trong giáo dục
đặc biệt. Do khiếm khuyết về thính giác, trẻ rất khó khăn trong giao tiếp với mọi
người xung quanh và phát triển nhận thức của bản thân. Nếu để trẻ có thể giao tiếp
bằng ngôn ngữ nói thì việc thiết yếu hàng đầu là phải cung cấp cho trẻ máy trợ
thính phù hợp, trẻ được can thiệp sớm từ nhỏ, có môi trường học tập và luyện nghe
nói tốt. Thế nhưng không phải gia đình nào có trẻ khiếm thính cũng mua được máy
trợ thính tốt và tạo điều kiện cho con nghe nói tốt được.
Hơn 90 các em Khiếm thính đang theo học tại Trung tâm Nuôi dạy Trẻ
Khuyết tật Đồng Nai là những em được sinh ra bởi cha m bình thường nên ngôn
ngữ kí hiệu không phải là ngôn ngữ m đẻ của các bậc phụ huynh, do không có
Kí hiệu ngôn ngữ là quy ước về ý nghĩa của sự vật, sự việc… thông qua bàn
tay. Sử dụng thị giác để hiểu nội dung giao tiếp. Đây là hình thức giao tiếp thuận
lợi và hiệu quả nhất đối với người khiếm thính.
Quy t c biểu đạt kí hiệu
- Sử dụng cả hai tay và ngón tay.
- Hướng của bàn tay về phía trước.
- Chuyển động của tay phía trước bụng, trong khoảng không gian quy định.
- Tay, ngón tay chuyển động theo các hướng : lên, xuống, trong, ngoài, tròn
theo chiều kim đồng hồ hay ngược lại….
Hiện nay hầu hết những người khiếm thính ở Việt Nam nói chung và ở
Đồng Nai nói riêng đều sử dụng ngôn ngữ kí hiệu để giao tiếp với nhau. Chỉ có
một ít người khiếm thính sử dụng ngôn ngữ nói, lí do là số người khiếm thính này
bị điếc nh có khả năng sử dụng lời nói hoặc không có dịp tiếp x c với những
người điếc khác.
Ngôn ngữ kí hiệu được cộng đồng người điếc sử dụng rộng rãi. Đây là thứ
ngôn ngữ sử dụng hình dạng của bàn tay, chuyển động của cơ thể, cử chỉ điệu bộ
và sự thể hiện trên khuôn mặt để trao đổi với nhau, nói lên những suy nghĩ, nhu
cầu và cảm x c. Cũng như ngôn ngữ nói, ngôn ngữ kí hiệu là một ngôn ngữ thực
sự hay còn gọi là tiếng m đẻ của người điếc, có ngữ pháp riêng và cấu tr c riêng
giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ kí hiệu tuy cả hai đều quy về Tiếng Việt chung
nhưng lại có sự khác biệt nhau rất rõ rệt về trật tự từ của câu.
Ví dụ: Ngôn ngữ nói: Tôi ăn hai quả táo
Ngôn ngữ kí hiệu: Tôi/ quả táo/ ăn/ hai
Từ vựng: Như tất cả các ngôn ngữ thông thường, để học tốt kí hiệu ngôn
ngữ trước tiên phải học và nhớ các từ, ở Trẻ khiếm thính học từ vựng ngôn ngữ kí
hiệu d dàng hơn nếu trẻ được nhìn thấy trực tiếp. Do vậy cần r n thêm cho trẻ các
kĩ năng phát huy trí tưởng tượng, kết hợp tay, thân thể, n t mặt và kh u hình vừa
làm kí hiệu vừa nói). Nhờ có thực hành nên trẻ có thể học và sử dụng ngôn ngữ kí
hiệu không mấy khó khăn.
Nếu những trẻ nghe được bình thường có thể dùng ngôn ngữ lời nói để trao
nh m
đ
n đ
n h
Do không có chương trình, sách giáo khoa cụ thể nên để gi p học sinh
khiếm thính r n luyện kĩ năng học và sử dụng kí hiệu ngôn ngữ, trước tiên chính
4
giáo viên phải xác định và n m rõ mục tiêu chính của bài học theo chủ đề là gì?
Mức độ tiếp thu của từng em như thế nào? Chính chủ đề là điểm tựa để học sinh
n m được các kí hiệu có liên quan với nhau, không đi quá xa chủ đề. ác định
từng đối tượng học sinh để lập kế hoạch bài giảng cho phù hợp.
2.2
n
n
nh h
h
n
- Giáo viên cung cấp Kí hiệu ngôn ngữ thống nhất chung, giải nghĩa từ cho
trẻ hiểu sau đó giáo viên cho học sinh lặp lại cá nhân, nhóm, cả lớp về kí hiệu vừa
học.
- Giáo viên nêu gợi ý để học sinh cùng thảo luận về các hiện tượng trên.
- Thông qua hoạt động trò chơi học sinh được kh c sâu thêm kí hiệu
Trời n ng - Làm động tác trời n ng - Đội mũ
Trời mưa - Làm động tác mưa - che dù
…..
5
2.3
n h
n
h
a. Các í hiệu đ u tiên
Đối với trẻ Khiếm thính việc học những kí hiệu đồ vật gần gũi và người thân
là rất quan trọng đối với trẻ. Do đó việc dạy kí hiệu đầu tiên phải ch ý đến những
người gần gũi với b nhất.
Ví dụ: ông, bà, ba, m , anh, chị, cô, bạn … hoặc những đồ vật mà trẻ yêu
thích.
Biện pháp:
Đối với những người gần gũi với trẻ: ra những dấu hiệu đơn giản, làm kí
hiệu g n với đối tượng - cung cấp kí hiệu thống nhất kết hợp chữ viết.
Ví dụ:
tay tiếp đến là cách di chuyển bàn tay và cuối cùng làm hình dạng bàn tay và các
ngón tay cho đ ng. Để làm được điều này đòi hỏi giáo viên phải kiên nh n, động
viên khuyến khích trẻ khi trẻ thể hiện.
Ví dụ: đánh tên bằng chữ cái ngón tay T
Hình chữ CCNTB
T- - /
-T
c. ối i các t ch h nh động cảm c mô tả
Biện pháp:
Giáo viên quan sát thông tin trẻ muốn thể hiện qua cử chỉ, điệu bộ, n t mặt,
tiếp đến giáo viên cung cấp cho trẻ các kí hiệu để trẻ thể hiện. Nhấn mạnh và làm
kí hiệu cần học một vài lần, khuyến khích trẻ b t chước và làm theo. Khi trẻ đã học
được kí hiệu giáo viên khuyến khích trẻ sử dụng thường xuyên qua các hoạt động
hàng ngày.
Ví dụ: dạy từ vui vẻ
- Giáo viên đính hình các bạn học sinh đang cười đùa vui vẻ
- êu cầu học sinh nêu cách hiểu và biểu đạt từ bằng kí hiệu ngôn ngữ
- Giáo viên nhận x t, giải nghĩa từ: vui vẻ là thể hiện niềm vui với mọi
người xung quanh, sau đó cung cấp KHNN từ vui vẻ
- êu cầu học sinh thể hiện lại từ trên.
Vui vẻ
Ví dụ: dạy cụm từ ánh lửa bập bùng
7
trẻ hiểu và áp dụng.
Ví dụ: - m có mấy quyển vở?
- m có 2 quyển vở
Giáo viên cố ý trả lời sai để khuyến khích trẻ phát hiện lỗi sai và đưa ra câu
trả lời đ ng. Ví dụ: m có 2 cái áo. Đ ng hay sai?
Khuyến khích trẻ giao tiếp với bạn và học thêm nhiều kí hiệu mới với những
câu hỏi đơn giản cái gì Ở đâu Mấy?...
e. ối i các nh m í hiệu
Sau khi trẻ đã có một vốn kí hiệu nhất định và biết dùng các kí hiệu trong
giao tiếp cũng như hiểu và làm theo các yêu cầu đơn giản, các em s b t đầu gh p
các kí hiệu lại với nhau để thể hiện ý hoàn chỉnh.
Ví dụ: Trẻ chỉ vào cái áo và kí hiệu đ p
Cái áo cái áo đ p
Giáo viên nhấn mạnh: Cái áo này đ p
Cái áo màu hồng đ p
8
Cái áo m mua.
….
Giáo viên dựa theo hiểu biết hoặc kí hiệu mà các em đã học, dùng các câu
hỏi đơn giản để mở rộng ra. êu cầu học sinh lặp lại câu hoàn chỉnh một vài lần.
Từ các nhóm kí hiệu giáo viên nâng dần lên cho trẻ sử dụng thành câu dài hơn.
g. huyển dịch đoạn n ra í hiêu ngôn ngữ
Ở các lớp 3,4,5 sau khi trẻ hiểu, sử dụng, giải thích được nghĩa của kí hiệu
giáo viên đưa ra một số bài tập đọc ng n yêu cầu học sinh đọc hiểu nội dung và
chuyển dịch bài tập đọc sang kí hiệu ngôn ngữ. Ở giai đoạn này trẻ không còn dịch
theo từng tiếng nữa mà phải chuyển dịch theo từ phù hợp với ngữ cảnh.
Ví dụ: Bài Hạt gạo làng ta khổ cuối)
Hạt gạo làng ta
ếp loại
Khối
Sỉ số
Giỏi
Khá
TB
ếu
3
8
1
3
3
1
4
8
2
4
2
9
5
10
1
2
4
3
Tổng số
26
2 – 7.7 % 7 – 26.9 % 11 – 43.3 % 6 – 23.0 %
9 – 34.6 % 10 – 38.5 %
TB
2
3
2
7 – 26.9 %
ếu
Kết quả khảo sát cho thấy chất lượng của học sinh đã được nâng lên rõ rệt.
Cụ thể học sinh biểu đạt các kí hiệu đ ng yêu cầu, trả lời câu hỏi giáo viên đưa ra,
khả năng dịch đoạn văn cũng trôi chảy hơn. Kết quả trên đã cho thấy chương trình
dạy kí hiệu ngôn ngữ được thiết kế theo từng chủ đề với từng bài học theo hệ thống
là dạy các từ câu đoạn nên rất phù hợp với học sinh khiếm thính Tiểu học khi
vốn Tiếng Việt còn hạn chế.
Kết th c năm học, học sinh lớp 3,4,5 có thể phân tích được câu, dịch đoạn
văn trôi chảy từ tiếng việt sang kí hiệu ngôn ngữ. Học sinh mạnh dạn tự tin hơn
không còn rụt r , nh t nhát trong các giờ học hay các hoạt động ngoài giờ.
Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy: Muốn gi p học sinh học tốt môn Kí
hiệu ngôn ngữ giáo viên phải không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy, tìm
những hình thức riêng phù hợp với nội dung từng bài dạy và từng trình độ nhận
thức của học sinh, tạo điều kiện cho các em tham gia học tập một cách hứng th .
Hy vọng đây là những biện pháp thiết thực để giáo viên có định hướng khi giảng
dạy phân môn kí hiệu ngôn ngữ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học cho học
sinh khiếm thính.
IV.
ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
- Gi p đỡ trẻ điếc- dịch từ nguyên bản tiếng Anh Helping Children Who Are
Deaf – Nhà xuất bản Lao động – ã hội- năm 2006.
- Chu n kiến thức kĩ năng môn kí hiệu ngôn ngữ.
- Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Tiểu học Tài liệu bồi dưỡng giáo viên) – Nhà
xuất bản Giáo dục
Biên Hòa, ngày 22 tháng 5 năm 2012
NGƯỜI THỰC HIỆN
N
ễ T ị N ọc T
11
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
TTND TRẺ KHUYẾT TẬT
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc p – Tự do –H
p úc
Biên Hòa, ngày
tháng 5 n m 2012
PHIẾ NHẬN ÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011- 2012
Tên sáng kiến kinh nghiệm: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY KÝ HIỆU NGÔN
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu
quả trong phạm vi rộng :
Tốt
Khá
Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
12