TIỂU LUẬN:
Chiến lược phát triển thị trường của
công ty liên doanh chế tạo xe máy
Lifan Việt Nam, với tình huống nghiên
cứu tại chi nhánh Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Cũng giống như các nhu cầu thiết yếu khác như ăn, mặc, ở thì một nhu cầu khác
cũng không thể thiếu được đối với con người trong cuộc sống hiện đại ngày nay đó là
phương tiện đi lại hay chính là phương tiện giao thông. Để đáp ứng được nhu cầu đó
của người dân thì hàng loạt các phương tiện giao thông đã được nghiên cứu, sản xuất
và đưa vào sử dụng như ô tô, xe máy, xe đạp điện,...
Nếu như ở Việt Nam khoảng 2 thập niên trước đây, xe máy mang tính thiểu số,
được vị nể với tư cách là một sản phẩm tân kỳ, một tài sản lớn hơn là một phương
tiện giao thông chính của đại đa số người dân thì hiện nay, có những hộ gia đình có
1,2 thậm chí có đến 3,4 chiếc xe máy trong nhà. Xe máy trở thành một phương tiện
giao thông thông dụng nhất, chiếm tỉ lệ khoảng 63.2% tổng các phương tiện giao
thông, trong đó ở riêng thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đã đạt tỷ lệ bình quân là 2
người có 1 xe máy, còn một số tỉnh khác như Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình
Dương,… là 3 người một xe máy, còn các địa phương khác là 6 người một xe máy
(Nguồn: website của Bộ giao thông vận tải ).
Nhận biết được nhu cầu khổng lồ xe máy như vậy nên trong thời gian qua đã có
nhiều nhà cung cấp trên thị trường Việt Nam, các hãng xe máy nổi tiếng thế giới như
Honda, Yamaha, Suzuki, SYM,.. đã tiến hành liên doanh với Việt Nam để sản xuất
và cung cấp cho người tiêu dùng Việt Nam. Thêm vào đó, khoảng 10 năm trở lại đây,
thị trường xe máy đã đa dạng nay còn đa dạng hơn bởi những chiếc xe máy Trung
Quốc nhập khẩu cũng như được sản xuất ồ ạt tại Việt Nam. Những chiếc xe này với
ưu thế là giá rẻ, chủng loại phong phú đã thực sự phù hợp với người tiêu dùng Việt
Nam có nhu cầu sử dụng xe máy song thu nhập thấp hoặc có nhu cầu muốn đổi mới
: Công ty LIFAN - VIỆT NAM
Tên tiếng anh
: LIFAN - VIET NAM Motor. Co. Ltd
Địa chỉ
: Xã Nghĩa Hiệp - huyện Yên Mỹ - tỉnh Hưng Yên
Tiền thân của Công ty Lifan Việt Nam là Công ty Vina - Hua Wei, được thành
lâp từ năm 1998 theo giấy phép đầu tư Số 20/GP-HN ngày 15/04/1988 do UBND
thành phố Hà nội cấp phép, nhằm thực hiện hợp đồng liên doanh chế tạo xe máy tại
Việt Nam, giữa Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư VIEXIM của Việt Nam và Công ty
TNHH sản xuất xe cơ giới Huawei, Trùng Khánh - Trung Quốc, thời hạn hoạt động
của công ty liên doanh là 30 năm, tổng số vốn đầu tư là 4.700.000 USD, vốn pháp
định là 1.570.000 USD (trong đó bên Trung Quốc góp vốn 70%, bên Việt Nam góp
vốn 30%).
Ngày 28/06/2000 UBND thành phố Hà Nội cấp giấy phép đầu tư sửa đổi số
20A/GPC2-HN cho phép chuyển đổi từ hợp đồng liên doanh thành Công ty liên
doanh chế tạo xe máy Vina-Huawei có trụ sở tại nhà máy xe lửa Gia Lâm - thị trấn
Gia Lâm - Thành phố Hà Nội.
Ngày 18/01/2002, UBND thành phố Hà Nội đã cấp giấy phép đầu tư sửa đổi số
20A/GPĐTC2-HN cho phép chuyển nhượng phần vốn của đối tác phía Trung Quốc
là Công ty TNHH sản xuất xe cơ giới Huawei Trùng Khánh cho công ty TNHH công
nghiệp HONGDA- Lifan Trùng Khánh và chuyển tên Công ty từ Công ty Liên doanh
chế tạo xe máy Vina-Huawei thành Công ty liên doanh chế tạo xe máy Lifan Việt
Nam (Lifan - Việt Nam Motor co.Ltd)
ty Lifan Việt Nam đang ngày một bước những bước tiến vững chắc và khẳng định
sản phẩm cũng như thương hiệu của mình trên thị trường. Đến tháng 3 năm 2005,
Công ty chính thức thành lập Chi nhánh Miền Bắc tại 68 Tây Sơn – Đống Đa – Hà
Nội. Chi nhánh này thực sự đã trở thành bộ mặt của công ty, là nơi kinh doanh và
giao dịch làm ăn giữa công ty với các đối tác ở Hà Nội và các địa phương lân cận.
1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty Lifan Việt Nam
1.2.1 Chức năng
Công ty liên doanh chế tạo xe máy Lifan có chức năng chính là sản xuất và kinh
doanh các loại xe máy, ô tô và các linh kiện máy móc phục vụ cho tiêu dùng trong
nước và đôi khi cả xuất khẩu. Phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty là :
- Nhập khẩu: Vật tư, nguyên nhiên liệu, máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất các sản
phẩm máy móc, ô tô, xe máy,...
- Sản xuất kinh doanh các loại ô tô, xe máy và các linh kiện máy móc mang nhãn hiệu
Lifan.
Là một doanh nghiệp liên doanh có giấy phép liên doanh, được mở tài khoản
riêng trong ngân hàng và trong các hoạt động kinh tế của công ty, công ty phải chịu
mọi trách nhiệm vật chất và pháp luật về các cam kết của mình đối với mọi tổ chức
và các cá nhân theo hợp đồng kinh tế.
1.2.2 Nhiệm vụ
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh theo đúng ngành nghề được
ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Tổ chức nghiên cứu sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, áp dụng những tiến bộ
khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cho phù hợp với thị trường.
- Thực hiện việc chăm lo và không ngừng cải thiện điều kiện làm việc, đời sống vật
chất tinh thần, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên ôn nghiệp vụ cho người lao động.
- Tuân thủ các quy định của Nhà Nước về bảo vệ công ty, bảo vệ môi trường, bảo vệ di
tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh của đất nước, trật tự và an toàn xã hội.
TỔNG GIÁM ĐỐC
TRỢ LÝ TỔNG GIÁM
§ỐC
Phòng
hành chính
Phòng
kế toán
Phòng
tiêu thụ
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC THỨ NHẤT
Phòng
kỹ thuật và KCS
Phòng
Cung ứng
Chi nhánh - VP đại
Chi diện
nhánh
Miền
- VPBắc
đạiKho
diệntrung
Miềnchuyển
Nam Tiền Giang
*Trách nhiệm và quyền hạn của Tổng giám đốc công ty:
- Tổng giám đốc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và chịu trách
nhiệm trước các thành viên sáng lập về việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được
giao.
- Tổng giám đốc là chủ tài khoản của Công ty và chịu trách nhiệm trước pháp luật về
việc chấp hành các qui định của luật Công ty .
- Thay mặt công ty để ký kết các hợp đồng kinh tế và văn bản giao dịch theo phương
hướng và kế hoạch của công ty, đồng thời chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các
văn bản đó.
- Tổ chức thu thập, xử lý thông tin giúp Công ty trong việc xây dựng khách kế hoạch
hàng năm.
- Đảm bảo an ninh trật tự và an toàn lao động trong toàn Công ty, cũng như việc đưa
cán bộ công nhân viên đi phục vụ bên ngoài.
- Tổng giám đốc được quyền tuyển dụng hoặc cho thôi việc người làm công không
đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, có quyền buộc thôi việc người làm công vi
phạm nội qui, vi phạm qui chế hoạt động của Công ty .
- Tổng giám đốc có quyền quyết định việc bổ nhiệm, khen thưởng và bãi miễn, kỷ
luật nhân viên giúp việc sau khi tham khảo ý kiến của các thành viên sáng lập Công
ty.
- Xem xét việc tham gia hoặc rút lui của các thành viên sau khi bàn bạc với các thành
viên sáng lập Công ty .
*Trách nhiệm và quyền hạn của các Phó Tổng giám đốc:
Giúp việc cho Tổng giám đốc có hai Phó tổng giám đốc, được Tổng giám đốc
phân công phụ trách các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và Trợ lý Tổng Giám đốc do
Tổng Giám đốc bổ nhiệm. Khi vắng mặt Tổng giám đốc uỷ quyền cho Phó tổng
giám đốc điều hành công việc. Trực tiếp ký các chứng từ - hoá đơn liên quan đến
các lĩnh vực được phân công sau khi được giám đốc phê duyệt.
Ngoài việc được uỷ quyền chịu trách nhiệm cá nhân trước Tổng giám đốc và
đốc xuông các cá nhân đơn vị, chủ trì tổ chức, điều hành, thực hiện các hội nghị.
- Phòng kế hoạch có nhiệm vụ lập kế hoạch tài chính hàng năm; thực hiện nghĩa vụ
đối với Nhà nước trong việc khai báo, nộp thuế, thực hiện các giao dịch thanh toán
đúng hạn các khoản vay, thu hồi vốn; kịp thời báo cáo với Tổng giám đốc về việc
hay động sử dụng vốn, khai thác nguồn vốn, ghi chép phản ánh đúng về các hoạt
động tài chính.
- Phòng kỹ thuật và KCS là nơi nghiên cứu, chế tạo các sản phẩm mới, công nghệ tự
động hoá nhằm áp dụng cho công ty nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như giải
pháp ứng dụng vao sản xuất, tham mưu cho Tổng giám đốc nhập hoặc mua mới dây
chuyền sản xuất sao cho có hiệu quả nhất.
- Phòng tiêu thụ có chức năng quản lý việc tiêu thụ tại các Chi nhánh, quản lý về giao
dịch thương mại, triển khai và thực hiện chương trình Marketing, nghiên cứu thu
thập, tổng hợp thông tin, chính sách, văn bản pháp quy trong và ngoài nước để tạo
dựng các mối quan hệ kinh doanh trứơc mắt và lâu dài gắn với chiến lược phát triển
của công ty. Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn và dài hạn, nghiên cứu nhu
cầu của thị trường để nắm bắt, tham mưu định hướng cho công ty. Lập và theo dõi,
đôn đốc giải quyết vướng mắc, hướng dẫn khách hàng làm thủ tục khi thực hiện hợp
đồng và giao nhận vật tư hoặc hàng hoà hay bán thành phẩm khi xuất hiện vào công
ty. Ngoài ra còn thực hiện các hợp đồng trực tiếp hoặc uỷ thác vật tư, thiết bị hàng
hoá,… phục vụ cho công việc sản xuất kinh doanh theo chỉ đạo của Tổng giám đốc,
là đơn vị trực tiếp triển khai các nội dung của chiến lược kinh doanh, đặc biệt là
chiến lược phát triển thị trường của công ty.
* Chức năng nhiệm vụ của các xưởng, phân xưởng sản xuất.
Giám đốc xưởng, quản đốc phân xưởng là những người trực tiếp chịu trách
nhiệm về mặt quản lý, tổ chức điều hành, sử dụng các tiềm năng lao động thiết bị
nguồn lực khác sao cho đảm bảo số lượng, chất lượng kịp thời và đúng tiến độ, có
nhiệm vụ hợp tác chặt chẽ với các đơn vị có liên quan để đảm bảo hoàn thành
nhiệmvụ được giao đúng kế hoạch, đúng kỹ thuật, nâng cao hiệu suất lao động.
động cơ xe máy: Động cơ VLF1P52QMI , động cơ MẮT THẦN, động cơ PHL…
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
THỊ
TRƯỜNG CỦA CÔNG TY LIÊN DOANH CHẾ TẠO XE MÁY LIFAN VIỆT
NAM
2.1 Tiềm năng phát triển thị trường của Công ty Lifan Việt Nam, thuận lợi và
khó khăn
2.1.1 Thuận lợi
2.1.1.1 Nhu cầu thị trường tăng cao
Trong những năm gần đây, việc thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập kinh
tế quốc tế khu vực và kinh tế thế giới đã làm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển và
đạt được những thành tựu đáng kể. Sự phát triển đó đã ảnh hưởng trực tiếp tích cực
đến đời sống của người dân, cụ thể là chất lượng đời sống được từng bước cải thiện
và nâng cao rõ rệt. Đời sống người dân ngày một tăng cao và sự di cư của một đại
bộ phận lớn dân cư ra các thành phố lớn đã đẩy mạnh nhu cầu tiêu dùng phương
tiện vận chuyển phục vụ cho các mục đích sinh sống và làm việc, các loại phương
tiện giao thông phong phú được ra đời, trong đó xe máy được coi là phương tiện
thông dụng nhất nhờ giá thành và tính năng cơ động của nó. Theo số liệu từ tổng
cục thống kê, tính đến 0h ngày 1/4/2009, tổng số dân của Việt Nam là 85.789.573
người, hiện Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á và đứng thứ
13 trong tốp các nước đông dân nhất trên thế giới (nguồn: ). Điều
đó chứng tỏ, thị trường Việt Nam chính là một thị trường tiểm năng và đã tạo ra
một cơ hội rất lớn cho các công ty sản xuất và liên doanh xe máy, trong đó có Lifan
Việt Nam.
Một lý do đáng kể để việc phát triển thị trường xe máy ở Việt Nam vẫn còn
thu hút các nhà đầu tư nữa là, do cơ sở hạ tầng giao thông công cộng chưa phát triển
máy song lại có thu nhập thấp hoặc có nhu cầu đổi xe nhưng lại không có đủ tiền thì
ngoài các sản phẩm đã bày bán trên thị trường là của những hãng xe lớn tên tuổi ra,
giờ đây họ còn có thế có một sự lựa chọn nữa là các dòng xe liên doanh với Trung
Quốc và thỏa mãn nhu cầu của mình bằng những sản phẩm đa dạng, phong phú mà
giá bán lại rất rẻ. Đơn cử là chiếc LF 100 – 4C của Lifan, mẫu
mã kiểu dáng giống
hệt Super Dream của hãng Honda nhưng giá lại chỉ có 5,7 triệu đồng, trong khi giá
của sản phẩm Super Dream lại là 16,39 triệu đồng tại chính nhà máy. Hay như dòng
tay ga thì để mua được một chiếc xe ga của các hãng nổi tiếng hơn như Honda,
Yamaha thì giá cả dao động khoảng từ 24 – hơn 100 triệu đồng, nhưng với sản
phẩm của Lifan Việt Nam thì một chiếc xe tay ga 150cc chỉ có giá là 19,5 triệu
đồng với kiểu dáng cũng khá là bắt mắt. Hơn nữa, thời gian gần đây có tình trạng
giá cả xe máy của Honda, Yamaha tại các đại lý của hãng trên thị trường khi đến
tay người tiêu dùng chênh lệch một khoản khá lớn so với giá mà công ty đề xuất,
thường phải từ 1-2,5 triệu đồng, thậm chí có dòng xe vào thời điểm hàng hóa khan
hiếm hoặc không sản xuất nữa thì giá chênh lệch đến tận 7 triệu đồng (dòng xe Lead
vào thời điểm tết năm 2008, nguồn: ), trong khi với Lifan Việt
Nam thì điều này chưa từng xảy ra, giá cả tại công ty và chi nhánh Hà Nội luôn luôn
thống nhất, đây là một thế mạnh nữa với Lifan Việt Nam. Nắm bắt được tất cả các
điều này, Lifan vẫn có cơ hội tồn tại và phát triển tại thị trường Việt Nam nhằm đáp
ứng được một lượng lớn nhu cầu đi lại của người dân lao động và giới bình dân,
mặc dù biết là chất lượng không cao như mong muốn nhưng họ vẫn mua vì hợp với
túi tiền của họ.
2.1.1.3 Thuận lợi đến từ môi trường vĩ mô
- Chính sách thông thoáng của Chính phủ và Nhà Nước về việc các đối tác đầu tư
nước ngoài đầu tư sản xuất và kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt các
chính sách ưu đãi về thuế quan, hạn ngạch đối với mặt hàng xe máy, về vấn đề nhập
ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) chính thức đi vào hoạt động, dỡ bỏ hàng rào thuế
quan cho phép tự do thương mại đối với hơn 90% loại hàng hóa giao dịch trừ một
số mặt hàng như dệt may và điện tử được coi là mặt hàng khá nhạy cảm và đến năm
2015 hiệp định sẽ chính thức có giá trị trong toàn khu vực (nguồn:
bài đăng ngày 05/01/2010). Đây là một thuận lợi rất
lớn đối với các công ty Trung Quốc như Lifan. Vì Lifan là một doanh nghiệp liên
doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc nên ít nhiều vẫn phải nhập linh
kiện từ Trung Quốc, do đó khi mà Việt Nam giảm dần thuế quan từ mức 5% hiện
nay xuống còn 0 % vào năm 2010 thì việc nhập khẩu các máy móc thiết bị từ Trung
Quốc sang sẽ giống như là vận chuyển trong khu vực vậy. Điều này đồng nghĩa với
việc doanh nghiệp mất ít thuế hơn hoặc không mất thuế sẽ làm giá cả các nguyên
vật liệu đầu vào rẻ đi đáng kể, kéo theo giá sản phẩm sẽ rẻ theo, tăng sức cạnh tranh
của hàng hóa trên thị trường.
2.1.2 Khó khăn
2.1.2.1 Khó khăn đến từ các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một vấn đề không thể tránh khỏi
đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, cho dù doanh nghiệp đó đang tiến hành kinh
doanh ở bất kỳ một lĩnh vực nào thì vấn đề cạnh tranh luôn song hành với sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp đó. Hiểu được các đối thủ cạnh tranh của mình là
điều cực kỳ quan trọng để có thể lập kế hoạch phát triển thị trường hiệu quả, các
doanh nghiệp phải thường xuyên so sánh sản phẩm của mình, giá cả, các kênh và
hoạt động khuyến mãi của mình với đối thủ cạnh tranh. Nhờ vậy mà họ có thể phát
hiện được những lĩnh vực mà mình có ưu thế hơn cạnh tranh hay bất lợi trong cạnh
tranh. Công ty có thể tung ra những đòn tiến công chính xác hơn vào đối thủ cạnh
tranh cũng như chuẩn bị phòng thủ vững chắc hơn trước các cuộc tiến công.
Việc hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với các
hãng do nguyên nhân: các đối thủ cạnh tranh quyết định tính chất và mức độ cạnh
tranh trên thị trường. Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào mối tương quan giữa các
thêm nhà máy mới với số vốn đầu tư trên 65 triệu USD trên diện tích 280.000m².
Theo thống kê của Honda Việt Nam, tổng lượng xe máy tiêu thụ trên toàn thị
trường Việt Nam năm 2009 là 2,75 triệu chiếc, tăng 8% so với năm 2008. Nhằm
đáp ứng nhu cầu cao của thị trường, hạn chế tình trạng các cửa hàng xe máy tăng
giá bán xe, Honda Việt Nam đã tăng công suất từ 1,23 triệu xe (theo kế hoạch) lên
1,372 triệu xe trong năm 2009. Hiện Honda Việt Nam đã tăng từ 2 ca sản xuất lên 3
ca/ngày, dự kiến lượng xe máy đưa ra thị trường năm 2010 là 1,65 triệu chiếc, tăng
5% so với 2009.(nguồn: ) Sau hơn 10 năm đi vào hoạt
động, công ty Honda Việt Nam đã từng bước trưởng thành và đứng vững trên thị
trường xe máy Việt Nam, xứng đáng được coi là đối thủ nặng ký nhất của Lifan
Việt Nam.
- Suzuki Việt Nam: Công ty Suzuki là một hãng xe lớn của Nhật Bản, bắt đầu hoạt
động tại thị trường Việt Nam từ 1996. Với khẩu hiệu “Ride the winds of charge”,
Suzuki chấp nhận thách thức trong việc cải tiến công nghệ nhằm đem lại những sản
phẩm xe máy tinh tế đem lại cảm xúc hoàn toàn mới cho người sử dụng. Suzuki với
hệ thống đại lý rộng khắp có mặt rộng khắp cả nước (hơn 16 đại lý và trung tâm bảo
hành) nhằm phục vụ khách hàng một cách chu đáo thuận tiện, có chương trình chăm
sóc miễn phí cho các loại xe Suzuki trên toàn quốc. Hệ thống này là sự kết hợp hiệu
quả của các cửa hàng Suzuki 3S đảm nhiệm tất cả các dịch vụ liên quan, đó là bán
hàng (sales), dịch vụ hậu mãi (after sales services) và cung cấp phụ tùng Suzuki
chính hiệu. Tất cả, từ cấu trúc tổng thể cho đến từng chi tiết, vật dụng nhỏ, kết hợp
tạo lên một hình ảnh nhất quán, hài hòa, đầy sáng tạo cho tất cả các cửa hàng
Suzuki toàn quốc. Chính nhờ sự nỗ lực không ngừng nên thị trường của Việt Nam,
Suzuki ngày càng được mở rộng trên thị trường xe máy Việt Nam. Trong sự kiện
hàng loạt các doanh nghiệp kinh doanh xe máy lần lượt khởi công xây dựng thêm
nhà máy năm 2007, Liên doanh Suzuki Việt Nam tuy “khiêm tốn” hơn các công ty
khác nhưng vẫn tiếp tục xây dựng thêm nhà máy thứ hai tại Long Bình với số vốn
20 triệu USD trên diện tích 20 ha đất. Đến năm 2009, tuy không đạt được nhiều kết
hãng. Số liệu thống kê từ Tổng cục thống kê, hiện nay trên thị trường có khoảng 17
triệu xe máy các loại, và theo dự báo của Viện Chiến lược - Chính sách Công nông
thì con số này có thể tăng lên hơn thế nữa, năm 2015 khoảng 31 triệu xe, và 2020
khoảng 35 triệu chiếc, và do đó cuộc chiến cạnh tranh và tranh giành thị phần giữa
các liên doanh lắp ráp xe trong nước sẽ ngày càng trở nên quyết liệt hơn nữa.
2.1.2.2 Khó khăn từ các yếu tố khách quan
Việt nam và Trung quốc có thể nói là khá thuận tiện về mặt vị trí địa lý, do đó
từ khi bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đến nay thì hàng hóa
Trung Quốc tràn sang Việt Nam khá nhiều. Nhất là khi Việt nam – Trung quốc ký
kế thương mại tự do giữa ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) chính thức đi vào hoạt
động từ 1/1/2010 thì hàng hóa Trung quốc tràn sang Việt Nam có thể nói là ồ ạt.
Đây là một thuận lợi và cũng là một khó khăn đối với các doanh nghiệp Trung quốc
đã kinh doanh và xây dựng thương hiệu tại Việt Nam như Lifan. Bởi lẽ,
không chỉ
có hàng hóa của các doanh nghiệp có tên tuổi của Trung Quốc tràn sang mà bên
cạnh đó cũng có không ít các sản phẩm không rõ nhãn hiệu cũng xuất hiện với
lượng ngày càng lớn trên thị trường Việt Nam.
Theo website , một phần rất lớn các linh kiện xe Trung Quốc
nhập về Việt nam lắp ráp IKD từ năm 2001 đã làm nảy sinh một loạt vấn đề, mà
chủ yếu là chất lượng và quản lý chất lượng. Mới đầu, các doanh nghiệp lắp ráp
trong nước chỉ nhập khẩu động cơ cùng bộ khung (đã có hệ thống điện xe). Còn các
phụ tùng khác do công nghiệp địa phương Trung Quốc làm nhái mác về sau theo
đường “cửu vạn”, do đó lách được không ít thuế nhập khẩu. Sau này, “chiêu” ấy ít
được dùng hơn nhờ các cơ sở trong nước kịp nhập cuộc “đại gia công” phụ tùng cho
xe Trung Quốc. Các chuyên gia ở Hội Cơ khí Việt Nam từng nhận xét, xe máy
Trung Quốc là tác nhân chính vực dậy hàng loạt xưởng cơ khí vốn sống lay lắt ở
Nam Định, Hà Nam... nhờ gia công khung, càng, vành xe... Các phần khác như săm
thực sự thành công trên thị trường Việt Nam vì một phần lớn người lao động Việt
Nam có nhu cầu mua xe máy song lại có thu nhập thấp, hoặc những người có nhu
cầu đổi xe máy mới nhưng lại không đủ tiền,... Ưu điểm vượt trội của xe máy Lifan
Việt Nam là giá bán rất thấp, tùy thuộc vào từng chủng loại, động cơ mà giá bán chỉ
dao động khoảng 7 – 10 triệu đồng (xe số). Người Việt Nam đã có thể thỏa mãn nhu
cầu của mình với những sản phẩm đa dạng, phong phú mà giá bán chỉ bằng 1/3 đến
½ giá bán của một số hãng nổi tiếng hơn như: Honda, Yamaha,... Tuy chất lượng
của các loại xe máy này vẫn không thể tốt bằng xe máy của các hãng tên tuổi khác,
nhưng bước đầu Lifan vẫn xâm nhập tốt và hiện nay vẫn đang phát triển trên thị
trường Việt Nam. Nhờ hai chiến thuật về giá này mà Lifan đã tìm được chỗ đứng
vững trên thị trường Việt Nam, theo số liệu công ty tháng 1 năm 2010, số lượng xe
máy Lifan đã tiêu thụ trên thị trường trong 7 năm qua là 100.000 xe.
2.2.2 Chiến lược xúc tiến khuyếch trương:
Chiến lược xúc tiến, khuyếch trương bao gồm mọi hoạt động của công ty
nhằm truyền bá những thông tin về sản phẩm và dịch vụ của công ty với đối tượng
là toàn bộ công chúng nói chung và người tiêu dùng - khách hàng mục tiêu nói
riêng, nhằm mục đích giới thiệu, kích thích, thuyết phục khách hàng hiểu biết, chấp
nhận, ưa thích, tin tưởng cuối cùng là mua hàng. Chiến lược này được chia thành
các nội dung cụ thể, đó là:
- Quảng cáo: Hoạt động quảng cáo mà công ty thực hiện là toàn bộ những phương
thức nhằm thông tin
với người tiêu dùng và thuyết phục họ mua sản phẩm
của nhà máy. Mỗi đợt quảng cáo gắn với một sản phẩm và một giai đoạn tiêu thụ
nhất định. Tuy nhiên các hoạt động quảng cáo đều thống nhất trong chiến lược
chung. Công ty khi tiến hành truyền thông phải xác định có người tiếp nhận thông
tin của mình người nhận tin chính là khách hàng mục tiêu của công ty. Đối với mỗi
sản phẩm hình thức quảng cáo lại khác nhau cho phù hợp với đặc tính của sản