-1-
Phần mở đầu
Năm 2007, kinh tế Việt Nam đã đạt đợc những kết quả đầy ấn tợng trên
nhiều lĩnh vực. Kết quả này đã đa Việt Nam lên một vị thế mới.
Với những thuận lợi căn bản, vợt qua nhiều khó khăn và thách thức, năm
2007 nền kinh tế Việt Nam đã đạt đợc những kết quả tích cực trên các lĩnh vực
kinh tế, xã hội, môi trờng và phát triển bền vững; 20 trên 23 chỉ tiêu đạt và vợt
kế hoạch đề ra trong đó có 10 chỉ tiêu đã hoàn thành kế hoạch 5 năm (20062010). Nền kinh tế tiếp tục ổn định, đạt mức tăng trởng cao nhất trong vòng 10
năm qua với tốc độ tăng trởng kinh tế cả năm đạt 8,5%. Song đáng chú ý nhất là
cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hớng tăng tỷ trọng công nghiệp xây
dựng, dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp. Theo đó, trong cơ cấu GDP
năm 2007, khu vực nông nghiệp chỉ chiếm 20%, trong khi đó khu vực cong
nghiệp và xây dựng chiếm tới 41,8%, dịch vụ 38,2%.
Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam gia nhập Tổ chức Thơng mại thế
giới (WTO). Với sự cố gắng chung của toàn thể cán bộ trong Nghành, ngành
Hải quan đã hoàn thành vợt mức số thu ngân sách ở mức cao, đạt trên 80.000 tỷ
đồng. Đây là nỗ lực lớn của toàn Ngành trong bối cảnh chúng ta hội nhập sâu
vào nền kinh tế, thực hiện giảm nhiều sắc thuế
Năm 2007 cùng với thắng lợi chung của toàn ngành Tài chính, ngành Hải
quan đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ. Tất cả các mặt công tác đề có bớc
phát triển cao hơn, đặc biệt trong bối cảnh năm 2007 là năm đầu tiên chúng ta
gia nhập Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO). Trong công tác cải cách thủ tục
hành chính, ngành Hải quan cũng có những tiến bộ lớn, nhất là công tác hiện
đại hoá Ngành và hiện đại hoá công nghệ quản lý đáp ứng yêu cầu quản lý trong
quá trình hội nhập. Đặc biệt, với sự cố gắng chung của toàn Ngành trong bối
cảnh đất nớc đang hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, thực hiện giảm nhiều
sắc thuế, trong khi đó thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lờng.
Những kết quả trên của ngành Hải quan trong năm 2007 đã góp phần tích
cực vào thành tích chung của ngành Tài chính, góp phần vào việc thúc đẩy sự
phát triển kinh tế- xã hội chung của đất nớc.
1.1.1 Khái niệm
Cơ cấu tổ chức thể hiện các mối quan hệ chính thức hoặc phi chính thức
giữa những con ngời trong tổ chức. Sự phân biệt hai loại mối quan hệ đó làm
xuất hiện hai dạng cơ cấu trong tổ chức là cơ cấu chính thức và cơ cấu phi chính
thức.
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận ( đơn vị và cá nhân) có mối quan
hệ phụ thuộc lẫn nhau, đợc chuyên môn hoá, có những nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm nhất định, đợc bố trí theo từng cấp, những khâu khác nhau nhằm
thực hiện các hoạt động của tổ chức và tiến tới những mục tiêu đã xác định.
Cơ cấu tổ chức thể hiện cách thức trong đó các hoạt động của tổ chức đợc
phân công giữa các phân hệ, bộ phận và cá nhân. Nó xác định rõ mối tơng quan
giữa các hoạt động cụ thể; những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm gắn liền
với các cá nhân, bộ phận, phân hệ của tổ chức; và các mối quan hệ quyền lực
bên trong tổ chức.
1.1.2 Các thuộc tính của cơ cấu tổ chức
1.1.2.1 Sự kết hợp giữa chuyên môn hoá và tổng hợp hoá các chức năng, nhiệm
vụ, công việc và những vị trí công tác
Chuyên môn hoá: khi một ngời, một bộ phận, phân hệ chỉ thực hiện một
hoặc một số công việc, nhiệm vụ, chức năng có mối quan hệ tơng đồng.
o Ưu điểm:
Chuyên môn hoá làm nâng cao năng suất lao động
Đào tạo lao động dễ dàng hơn ( chỉ đào tạo một vài kỹ năng)
Quy trình quản lý thuận lợi và đơn giản hơn.
o Nhợc điểm:
Khả năng thích nghi trớc đòi hỏi của môi trờng thấp hơn.
Ngời lao động sẽ cảm thấy nhàm chán, gây giảm năng suất.
Tổng hợp hoá: khi một ngời, một bộ phận, một phân hệ thực hiện những
công việc, những nhiệm vụ, chức năng mang tính độc lập tơng đối.
o Ưu điểm:
-3-
đối với cấp dới.
Đây là mối quan hệ quyền hạn giữa cấp trên và các cấp dới trải dài từ cấp
cao nhất xuống tới cấp thấp nhất trong tổ chức, tơng ứng với dây chuyền
chỉ huy theo nguyên lý thứ bậc.
-4-
-5 Quyền hạn tham mu
Bản chất của mối quan hệ tham mu là cố vấn. Chức năng của tham mu
( hay bộ phận tham mu ) là điều tra, khảo sát, nghiên cứu, phân tích đa ra
những ý kiến t vấn cho những ngời quản lý trực tuyến mà họ có trách
nhiệm phải quan hệ. Sản phẩm lao động của cán bộ hay bộ phận tham mu
là những lời khuyên chứ không phải là các quyết định cuối cùng.
Quyền hạn chức năng
Là quyền trao cho một cá nhân hay bộ phận đợc ra quyết định và kiểm
soát những hoạt động nhất định của các bộ phận khác.
Việc hạn chế phạm vi quyền hạn chức năng là rất quan trọng để duy trì
tính toàn vẹn của các cơng vị quản lý.
Để thu đợc kết quả tốt nhất trong việc giao phó quyền hạn chức năng, ngời lãnh đạo tổ chức cần đảm bảo rằng phạm vi quyền hạn đó đợc chỉ rõ
cho ngời đợc uỷ quyền và cả những ngời chịu sự tác động của quyền hạn
này.
1.1.2.4 Cấp quản lý, tầm quản lý và các mô hình cơ câu tổ chức xét theo số cấp
quản lý
Nguyên nhân có các cấp quản lý trong tổ chức là bởi giới hạn của tầm
quản lý ( hay tầm kiểm soát )- số ngòi và bộ phận mà một nhà quản lý có thể
kiểm soát có hiệu quả. Tầm quản lý rộng sẽ cần ít cấp quản lý, còn tầm quản lý
hẹp dẫn đến nhiều cấp.
Các mô hình cơ cấu tổ chức xét theo số cấp quản lý: căn cứ số cấp quản
lý, tồn tại ba mô hình cơ cấu tổ chức là:
Cơ cấu mạng lới
Cơ cấu tổ chức mạng lới là cơ cấu trong đó mối quan hệ giữa các thành
viên ( cá nhân, đơn vị ) đợc thực hiện trên cơ sở bình đẳng. Cơ cấu mạng lới cho
phép những cá nhân, bộ phận của tổ chức liên kết với nhau; cho phép tổ chức
liên kết với khách hàng, những nhà cung cấp, những đối thủ cạnh tranh nhằm
tăng cờng sức mạnh tổng hợp vì mục đích chung hay khuyến khích sự phối hợp
trong điều kiện môi trờng có độ bất định cao. Đó là những nhóm tự quản với chế
độ ra quyết định tập thể; hoạt động liên doanh, liên kết, liên minh giữa các tổ
chức độc lập; các tập đoàn hoạt động theo chế độ hội đồng các giám đốc
Các tổ chức thờng sử dụng cơ cấu mạng lới khi:
Cần thực hiện chiến lợc quản lý chất lợng đồng bộ.
Thâm nhập thị trờng quốc tế với những hàng rào vào cửa lập nên bới các
đối thủ cạnh tranh ở nớc sở tại.
-6-
-7 Cần quản lý rủi ro trong quá trình phát triển công nghệ với chi phí cao.
Cơ cấu mạng lới hoạt động có hiệu quả trong những trờng hợp trên do
khuyến khích đợc sự hợp tác, cho phép thành lập các liên doanh với các tổ chức
nớc ngoài, tạo điều kiện đa dạng hoá nguồn vốn đầu t nhằm giảm thiểu rủi ro tài
chính cho tất cả các đối tác.
1.1.2.5 Phân bổ quyền hạn giữa các cấp quản lý- tập trung và phân quyền trong
quản lý tổ chức
Tập trung là phơng thức tổ chức trong đó mọi quyền ra quyết định đợc tập
trung vào cấp quản lý cao nhất của tổ chức.
Phân quyền là xu hớng phân tán quyền ra quyết định cho những cấp quản
lý thấp hơn trong hệ thống thứ bậc. Phân quyền là hiện tợng tất yếu khi tổ chức
đạt tới quy mô và trình độ phát triển nhất định làm cho một ngời ( hay một cấp
quản lý ) không thể đảm đơng đợc mọi công việc quản lý.
Uỷ quyền trong quản lý tổ chức là hành vi của cấp trên trao cho cấp dới
nhận việc cấp dới sẽ lựa chọn những giải pháp và phơng tiệnkhác đi so
với suy nghĩ của cấp trên, cho phép cấp dới đợc mắc sai lầm và đợc học
hỏi từ chính những sai lầm của mình.
Thứ hai, cần xây dựng đợc một hệ thống truyền thông mở giữa cấp
trên và cấp dới. Những nhà quản lý nắm đợc chính xác khả năng của cấp
dới sẽ có thể lựa chọn đúng đối tợng uỷ quyền. Ngợc lại, khi cấp dới nhận
đợc sự quan tâm, khuyến khích thờng xuyên của cấp trên, họ sẽ cố gắng
hoàn thành nhiệm vụ và có trách nhiệm cao đối với công việc.
Thứ ba,các nhà quản lý phải có khả năng phân tích các yếu tố nh
mục tiêu của tổ chức, những đòi hỏi của nhiệm vụ và năng lực của nhân
viên để thực sự làm chủ quá trình uỷ quyền.
1.1.2.6 Phối hợp các bộ phận của tổ chức
Vai trò của công tác phối hợp:
Phối hợp là quá trình liên kết hoạt động của những con ngời, bộ phận,
phân hệ và hệ thống riêng rẽ nhằm thực hiện có kết quả và hiệu quả các mục
tiêu chung của tổ chức. Không có phối hợp, con ngời không thể nhận thức đợc
vai trò của mình trong tổng thể và có xu hớng theo đuổi những lợi ích riêng thay
vì hớng tới những mục tiêu chung.
Mục tiêu của phối hợp là đạt đợc sự thống nhất hoạt động của các bộ
phận bên trong và bên ngoài tổ chức. Phạm vi cần thiết của phối hợp phụ thuộc
vào thuộc tính của các nhiệm vụ và mức độ độc lập tơng đối của con ngời trong
các bộ phận thực hiện nhiệm vụ.
Sẽ đạt đợc sự phối hợp nếu làm đợc những điều sâu đây:
o Xây dựng đợc các kênh thông tin ngang dọc, lên xuống thông suốt
giữa các bộ phận và các cấp quản lý.
-8-
-9o Duy trì đợc mối liên hệ công việc giữa các bộ phận và trong mỗi bộ
con ngời và đơn vị.
Khi yêu cầu đối với phối hợp đã trở nên quá lớn, đến mức làm cho mọi
phơng pháp đều trở nên thiếu hiệu quả thì tốt nhất là đảm bảo phối hợp
bằng cách giảm thiểu nhu cầu phối hợp.
o Giám sát trực tiếp.
-9-
- 10 Phối hợp đợc thực hiện bởi ngời quản lý thông qua việc trực tiếp giám
sát công việc của cấp dới và đa ra các mệnh lệnh buộc cấp dới phải
thực hiện trong một khuôn khổ thống nhất.
o Các công cụ của hệ thống thông tin, truyền thông và tham gia quản
lý.
o Văn hoá tổ chức.
Hệ thống nhận thức, những giá trị, những chuẩn mực, những nghi lễ
hàng ngày, những điều cấm kị nhằm gắn kết các bộ phận và con ngời
của tổ chức thành một khối thống nhất, làm tăng cờng khả năng phối
hợp để đạt mục đích chung.
1.1.3 Quá trình thiết kế cơ cấu tổ chức
1.1.3.1 Khái niệm
Thiết kế tổ chức là quá trình lựa chọn và phát triển một cơ cấu tổ chức
phù hợp với chiến lợc và những điều kiện môi trờng của tổ chức. Đó là quá trình
liên tục bởi vì chiến lợc có thể thay đổi, và các hoạt động của tổ chức không
phải bao giờ cũng đem lại kết quả và hiệu quả nh mong muốn.
Các bớc cơ bản để hoàn thiện hay hình thành một cơ cấu mới nh sau:
- 10 -
- 11 -
- 12 a. Bộ phận hoá các công việc: hợp nhóm các công việc có mối quan hệ gần gũi
theo cách hợp lý để tạo nên các bộ phận
b. Hình thành cấp bậc quản lý: các cấp quản lý trung gian đợc hình thành căn cứ
vào quyết định về tầm quản lý và tiêu chí hợp nhóm các bộ phận.
c. Giao quyền hạn: Xác định ai có quyền quyết định cho ai và ai sẽ phải báo cáo
cho ai trong tổ chức. Giao quyền hạn cần thiết cho những ngời đứng đầu các
nhóm để tiến hành quản lý các hoạt động.
d. Phối hợp: Xây dựng cơ chế phối hợp hoạt đọng của các bộ phận và cơ chế
giám sát kết quả của sự phối hợp đó. Cụ thể hoá các công cụ phối hợp sẽ đợc sử
dụng.
1.1.3.4 Thể chế hoá cơ cấu tổ chức
Các công cụ để thể chế hoá cơ cấu tổ chức:
a. Sơ đồ tổ chức:
Mỗi cơ cấu tổ chức đều có thể đợc biểu diễn bằng sơ đồ, trong đó xác
định các bộ phận, các vị trí quản lý quan trọngcủa cơ cấu và mối quan hệ giữa
các vị trí, các bộ phận theo các tuyến quyền hạn chủ yếu. Sơ đồ cơ cấu tổ chức
là công cụ hữu hiệu để loại bỏ sự mập mờ, trốn tránh trách nhiệm, thiếu phối
hợp, trùng lặp công việc
Tuy nhiên, sơ đồ cơ cấu tổ chức cũng bộc lộ những yếu điểm nh chỉ cho
biết các mối quan hệ chính thức mà không nêu bật đợc các mối quan hệ phi
chính thức, hay chỉ đa ra mối quian hệ trực tuyến mà không chỉ ra bao nhiêu
quyền hạn tồn tại ở các vị trí khác nhau của cơ cấu.
b. Mô tả vị trí công tác: mô tả vị trí là tài liệu xác định các vị trí trong cơ cấu tổ
chức với nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm điều kiện làm việc và những yêu cầu
đặc trng đối với nhân sự đảm nhiệm những vị trí đó.
Với cơng vị là phơng tiện kiểm soát, việc miêu tả vị trí công tác là tiêu
chuẩn để đa ra xem xét liệu cần đến vị trí đó hay không, nếu cần thì cấp tổ chức
và vị trí chính xác nào trong cơ cấu tổ chức cần đợc giành nó.
Trong tình hình hiện nay khi chất xám chiếm tỷ trọng ngày càng cao
trong sản phẩm, việc bảo hộ bản quyền sở hữu trí tuệ, nhãn mác sản phẩm đợc
quy định rất chặt chẽ.
Bốn là, Nhà nớc không đợc phép bao cấp cho doanh nghiệp, riêng đối với
nông sảnthì đợc phép bao cấp ở một số khâu nhằm hỗ trợ cho sản xuất.
Năm là, mở cửa thị trờng cho các doanh nghiệp nớc ngoài vào kinh
doanh, đầu t ; tạo sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp trong và ngoài nớc;
luật lệ kinh tế phải rõ ràng và công khai.
Sáu là, các nớc đang phát triển và những nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế
kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng đợc hởng một số u đãi về mức độ
- 13 -
- 14 cam kết và thời gian thực hiện. Các nớc phát triển ủng hộ về vật chất nhằm đẩy
nhanh quá trình hội nhập của các nớc kém phát triển.
1.2.2 Tính tất yếu của việc hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay
Việt Nam phải hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm cả nhân tố chủ quan lẫn
khách quan.
Về mặt chủ quan, nhờ công cuộc đổi mới, nền kinh tế nớc ta đã phát triển
nhanh chóng, trạng thái của nền kinh tế đã thay đổi một cách cơ bản: nếu nh
trong những năm 70-80 của thế kỷ trớc hầu nh mọi thứ đều khan hiếm thì ngày
nay nền kinh tế đã đáp ứng đợc các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh
tế về nhiều mặt hàng, tỷ suất hàng hoá khá cao. Với trên 80 triệu dân, thị trờng
nội địa nớc ta không phải là nhỏ, tuy nhiên do thu nhập của ngời dân cha cao
cùng với thói quen a chuộng hàng ngoại nên ngoài việc cần quan tâm đến thị trờng trong nớc còn phải chú trọng đến xuất khâu ra thị trờng nớc ngoài.
ở đầu vào, mặc dù khả năng tích lũy của nền kinh tế nớc ta ngày càng
lớn, trình độ khoa học-công nghệ và quản lý kinh tế ngày càng đợc nâng cao,
song trong quá trình Công ngiệp hoá và Hiện đại hoá nớc ta vẫn cần phải tranh
thủ vốn đầu t, công nghệ và kỹ năng quản lý từ bên ngoài. Đồng thời đẩy mạnh
tế Châu á-thái Bình Dơng ( APEC ), Diến đàn hợp tác á-âu (ASEM ), và đặc
biệt là Việt Nam đã trở thành một thành viên chính thức của Tổ chức thơng mại
Thế giới ( WTO ). Hơn thế nữa xuất khẩu, đầu t và tài trợ phát triển nớc ngoài
đã chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng sản phẩm quốc nội và vốn đầu t xã hội,
thu Ngân sách
Nghị quyết Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế đã chỉ rõ mục
tiêu,quan điểm chỉ đạo và những việc cần làm để đất nớc hội nhập thành công.
1.2.3 Sự cần thiết phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Hải quan Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay
Trong suốt 40 năm đầu, hoạt động đối ngoại của Hải quan Việt Nam
không có gì đáng kể. Là một ngành thuộc Bộ, mọi quan hệ đối ngoại, kể cả kế
hoạch đa đốn các đoàn khách quốc tế đến làm việc cũng đều do cơ quan đối
ngoại của Bộ đảm nhiệm. Từ khi thành lập Tổng cục Hải quan, hoạt động đối
ngoại của Ngành có sự chuyển biến nhanh về chất và quy mô hoạt động
Trong quá trình hội nhập một cách toàn diện vào nền kinh tế khu vực và
thế giới, Hải quan Việt Nam có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ các cam kết
trong khuôn khổ khu vực tự do thơng mại ASEAN ( AFTA ), tiến tới bãi bỏ
hoàn toàn hàng rào thuế quan trong ASEAN, Diễn đàn kinh tế châu á-thái Bình
Dơng ( APEC ) cũng nh ASEM.
Thông qua việc mở rộng quan hệ quốc tế nhiều chiều, nhiều lĩnh vực,
theo hớng đa phơng hoá, đa dạng hoá và muốn làm bạn với ttát cả các nớc
của Đảng và Nhà nớc, hoạt động đối ngoại của Hải quan Việt Nam trong những
- 15 -
- 16 năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, đúng hớng, vừa mở rộng đợc quan hệ
hợp tác với Hải quan các nớc vừa bảo vệ đợc chủ quyền kinh tế, an ninh của đất
nớc, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ trong Ngành có cơ hội tiếp xúc, nghiên
cứu, tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao nghiệp vụ.
Trong 20 năm đất nớc tiến hành công cuộc đổi mới ( 1986-2007), Hải
- 17 Từ khái niệm có thể tính hiệu quả về mặt lợng thông qua công thức sau:
K
H = -----------C
Trong đó: H là hiệu quả ( đơn vị tính bằng số lần, hoặc % )
K là kết quả đạt đợc ( tính bằng VNĐ, hoặc số vụ, việc )
C là tổng chi phí đã đầu t ( đơn vị tính bằng VNĐ hay số lao động
tham gia thực hiện để đạt kết quả trên ).
Hiệu quả hoạt động kinh tế:
Tổng các khoản thu nộp vào ngân sách nhà nớc
H(kt) = ---------------------------------------------------------------Tổng chi phí đầu t tơng ứng
Ngành Hải quan là ngành sự nghiệp dịch vụ có thu, do vậy tổng các khoản
thu nộp vào ngân sách nhà nớc bao gồm các khoản thu lệ phí và các khoản thu
do buôn lậu và gian lận thơng mại về thuế xuất nhập khẩu theo quy định của
Nhà nớc.
ý nghĩa của chỉ tiêu này cho thấy 1VNĐ chi phí đầu t đem lại bao nhiêu
VNĐ thu về cho Ngân sách Nhà nớc trong khoảng thời gian nhất định. Hiệu quả
này càng cao phản ánh sự hoạt dộng của Hải quan ngày càng phát triển và ngợc
lại.
Hiệu quả chính trị xã hội :
Do tính đặc thù của hoạt động Hải quan ngoài mục tiêu kinh tế, nó còn gắn
bó chặt chẽ với mục tiêu chính trị xã hội, mà hiệu quả của nó không thể xác
định về mặt định lợng mà chỉ có thể xác định về mặt định tính. Do vậy, việc
đánh giá chỉ tiêu này cần thông qua các tín hiệu sau đây:
ý thức chấp hành luật pháp và chính sách của Nhà nớc đối với doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế kinh tế và cá nhân tham gia xuất nhập khẩu gia
tăng.
Tình trạng buôn lậu và gian lận thơng mại giảm.
Những tiêu cực trong ngành Hải quan giảm xuống, lòng tin của dân
chúng đối với ngành Hải quan tăng lên.
Sau khi chiến tranh biên giới kết thúc, xét thấy Hải quan ở một số địa phơng cha thể tiếp tục hoạt động trở lại, Bộ Ngoại thơng đã tạm thời giải tán các
chi cục Hải quan Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, đồng thời thành lập thêm một số
- 18 -
- 19 đơn vị mới phía Nam. Việc này đã tạo điều kiện cho các địa phơng có thêm tổ
chức và biên chế để đẩy mạnh các hoạt động ở các địa bàn trọng điểm.
Về chuyên môn, toàn Ngành không ai có trình độ trên đại học, số có trình
độ đại học chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ, còn lại là trung cấp chuyên nghiệp, sơ cấp
hoặc cha có nghề. Công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ lúc này lại phụ thuộc hoàn
toàn vào kế hoạch chỉ tiêu đào tạo hàng năm của Bộ Ngoại thơng. Ngoài Khoa
Hải quan nằm trong trờng Trung cấp Ngoại thơng, Ngành cha tổ chức đợc một
khoá đào tạo nào ở bậc đại học. Vì vậy, số cấn bộ tốt nghiệp Trung cấp Hải quan
trở thành nòng cốt trong mọi khâu công tác nghiệp vụ và cũng là những giáo
viên tại chức, trực tiếp huấn luyện, truyền đạt kinh nghiệm công tác cho số cán
bộ nhân viên mới ở cơ sở.
Sự tăng trởng nhanh chóng về số lợng các phơng tiện vận tải xuất nhập
cảnh, và hơn thế nữa, mạng lới bu điện ngoại dịch đợc mở rộng, đã trở thành
những khó khăn thách thức thực sự đối với lực lợng Hải quan ở biên giới, cửa
khẩu. Nhng, vợt lên mọi thử thách, Ngành đã có những biện pháp kiên quyết
trong công tác kiểm tra, giám sát, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật.
Trong 3 năm ( 1981- 1983) ngành đã làm thủ tục cho 5345 lợt tàu biển, 219997
lợt ô tô và 9775 lợt chiếc máy bây xuất nhập cảnh qua các cửa khẩu nớc ta.
Mặc dầu trong điều kiệncòn nhiều khó khăn về lực lợng và thiếu thốn phơng tiện, lại ít nhiều bị các hiện tợng tiêu cực trong xã hội tác động đến nhng
Ngành Hải quan đã tập trung củng cố lực lợng và nâng cao trình dộ nghiệp vụ,
đồng thời kết hợp cùng các ngành chức năng để điều tra khám phá các vụ buôn
lậu qua biên giới.
Củng cố và tăng cờng hiệu quả công tác của ngành Hải quan trở thành
mối quan tâm chung của Lãnh đạo Đảng và Nhà nớc. Vì vậy, Bộ Chính trị TW
Hải quan năm 1960 Lập các dự án kế hoạch thu thuế xuất nhập khẩu cho toàn
ngành và các đơn vị Hải quan.
Nghị định cũng đã quyết định hệ thống tổ chức bộ máy Hải quan trong cả
nớc bao gồm:
Tổng cục Hải quan;
Hải quan tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ơng;
Hải quan cửa khẩu;
Các đội kiểm soát Hải quan cơ động của Tổng cục đóng ở
Hải Phòng, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.
2.2 Thực trạng tổ chức bộ máy của Tổng cục Hải quan theo từng thuộc tính
ảnh hởng đến các mặt công tác nghiệp vụ hải quan của Tổng cục Hải quan
Việt Nam
2.2.1 Hệ thống tổ chức bộ máy ngành Hải quan từ 1984 đến 1993
Ngày 30/8/1984 Hội đồng Nhà nớc ra Nghị quyết số 547/NQ-HĐNN
thành lập Tổng cục Hải quan là cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trởng ( nay là Chính
phủ ) có Nghị định 139/HĐBT quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy
của Tổng cục Hải quan. Theo Nghị định này, Hải quan Việt Nam đợc tổ chức
thành hệ thống bao gồm:
- 20 -
- 21 -
Tổng cục Hải quan đóng trụ sở tại TP. Hà Nội và có bộ phận thờng
trực đóng tại TP. Hồ Chí Minh.
Hải quan tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ơng ở những
tỉnh, thành phố, đặc khu có các cửa khẩu do Hội đồng Bộ trởng quy
định.
Hải quan cửa khẩu ở những nơi có quy định của Hội đồng Bộ trởng
là cửa khẩu biên giới đờng bộ, đờng biển, đờng sông, ga xe lửa liên
- 22 quan thuộc Chính phủ, đợc tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất, gồm 3
cấp :
Cấp Trung ơng ( Tổng cục Hải quan ).
Cấp tỉnh ( Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố).
Cấp cơ sở ( Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát Hải quan ).
a.2 Về cơ cấu tổ chức bộ máy các cấp đến trớc khi có Luật Hải quan:
Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc cơ quan Tổng cục ( có các phòng,
đội trực thuộc : Có 12 Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc với 57 phòng,
đội và đơn vị tơng đơng ).
Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố ( có các phòng, Hải
quan cửa khẩu, Đội kiểm soát Hải quan trực thuộc ) :
o Có 30 Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố với 218
phòng, 146 Hải quan cửa khẩu và tơng đơng, 18 đội kiểm
soát và 7 trạm kiểm soát liên hợp.
o Hải quan cửa khẩu và một số phòng nghiệp vụ có các Đội
nghiệp vụ trực thuộc.
-
Trờng Cao đẳng Hải quan : có 9 phòng, khoa. ( Kể từ năm 2006,
Trờng cao đẳng Hải quan đợc sáp nhập với Phân viện Tài chính
thành phố Hồ Chí Minh).
2.2.3 Hệ thống tổ chức bộ máy Hải quan Việt Nam theo quy định của Luật
Hải quan và Nghị định 96/2002/NĐ- CP ngày 19/11/2002 :
Khái quát chung về tổ chức bộ máy đợc sắp xếp theo yêu cầu của Luật
Hải quan và Nghị định 96/2002/NĐ-CP :
Về căn bản, hệ thống tổ chức Hải quan Việt Nam vẫn đợc tổ
chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất theo 3 cấp :
o Tổng cục Hải quan;
o Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố.
chỉnh trên cơ sở các quy định của Luật Hải quan.
Cơ cấu tổ chức bộ máy các cấp hiện nay :
Vụ, Cục, các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục : 10 Vụ, Cục và Văn
phòng ( 6 Vụ không có phòng ) và 6 đơn vị sự nghiệp.
Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố có các cấp phòng, chi cục,
đội kiểm soát :
+ Có 33 Cục với 176 phòng, 152 Chi cục, 35 đội kiểm soát.
+ Các Chi cục Hải quan : Có một số đội nghiệp vụ đợc sắp xếp
theo yêu cầu nghiệp vụ tuỳ theo quy mô và khối lợng công việc.
- 23 -
- 24 Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan gồm :
a) Bộ máy giúp việc Tổng cục trởng Tổng cục Hải quan :
1. Vụ Giám sát quản lý về hải quan:
2. Vụ Kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu;
3. Vụ pháp chế:
4. Vụ hợp tác quốc tế;
5. Vụ Kế hoạch Tài chính;
6. Vụ Tổ chức cán bộ;
7. Thanh tra;
8. Văn phòng;
9. Cục Điều tra chống buôn lậu;
10. Cục Kiểm tra sau thông quan;
11. Cục Công nghệ thông tin và Thống kê hải quan.
b) Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục Hải quan :
1. Viện nghiên cứu Hải quan;
2. Trung tâm phân tích, phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu miền Bắc;
3. Trung tâm phân tích, phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu miền Trung;
4. Trung tâm phân tích, phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu miền Nam;
Nam qua biên giới, hành vi vi phạm các quy định khác của Nhà nớc về
hải quan trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.
+
Thực hiện thống kê Nhà nớc về hải quan.
+
Tổ chức thực hiện kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất
nhập khẩu;
+
Tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối với
hàng hoá xuất nhập khẩu;
Về xây dựng lực lợng :
+
Đào tạo, bồi dỡng đội ngũ nhân viên Hải quan;
+
Hợp tác quốc tế với Hải quan cả nớc;
Kiến nghị với các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền về các chủ trơng, biện pháp quản lý nhà nớc về hải quan đối với hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách
thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu ; hớng dẫn tổ chức cá
nhân thực hiện quy định của Nhà nớc về hải quan.
Thực hiện hợp tác quốc tế về hải quan theo quy định của pháp luật.
Tổ chức nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ khoa học, công
nghệ trong ngành hải quan;
Tổ chức chỉ đạo và thực hiện thống kê nhà nớc về hải quan;
Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, chỉ đạo, thực hiện chế độ tiền lơng và chính sách, chế độ đãi ngộ, khên thởng, kỷ luật đối với cán
bộ, công chức, viên chức nhà nớc thuộc phạm vi quản lý của Tổng
cục; tổ chức công tác đào tạo, bồi dỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức và quản lý các đơn vị sự nghiệp trực thuộc
Tổng cục theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ trởng Bộ
Tài chính.
- 25 -