skkn sử DỤNG văn bản THƠ LIÊN QUAN để hỗ TRỢ đọc HIỂU, KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG dạy học NGỮ văn THPT - Pdf 37

SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT
------------------Mã số:……………….

SẢN PHẨM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
SỬ DỤNG VĂN BẢN THƠ LIÊN QUAN ĐỂ HỖ TRỢ ĐỌC HIỂU,
KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN THPT
Thực hiện : NGUYỄN HIẾU

Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn:
Phương pháp giáo dục:
Lĩnh vực khác






Có đính kèm :
 Mô hình

Phần mềm


- Số năm có kinh nghiệm : 26
- Các đề tài khoa học và sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+Thiết kế web hỗ trợ Dạy học Ngữ Văn 9 theo chuẩn KTKN (năm 2011)
+Thiết kế web hỗ trợ Dạy học Ngữ Văn 12 theo chuẩn KTKN - Tập II
(năm 2012) .
+Một số mô hình tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh THPT góp phần
thực hiện Phổ biến giáo dục pháp luật trong nhà trường ( năm 2013).
+Thiết kế web hỗ trợ Dạy học Ngữ Văn 11 theo chuẩn KTKN - Tập I
(năm 2014) .
+Một vài mô hình giới thiệu gương sáng trong phong trào “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (năm 2015).

Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

THU ẾT MINH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG VĂN BẢN THƠ LIÊN QUAN ĐỂ HỖ TRỢ ĐỌC HIỂU, KIỂM TRA
ĐÁNH GIÁ TRONG DẠ HỌC NGỮ VĂN THPT
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông luôn luôn thu hút sự quan tâm của
xã hội. Môn Ngữ văn chiếm vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục quốc dân và
phát triển dân trí nước nhà. Tuy nhiên, thực tế dạy học, chất lượng của bộ môn, chất
lượng thi cử hiện nay vẫn còn nhiều điều đáng bàn. Không ít giáo viên còn bỡ ngỡ,
lúng túng khi đối diện với việc đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới ra đề, kiểm

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

- Công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTH năm học 2015-2016 của Bộ
GD-ĐT đã chỉ đạo: tăng cường các hoạt động thực hành vận dụng kiến thức đã học
vào thực tiễn, chú trọng giáo dục đạo đức/giá trị sống, rèn luyện kĩ năng sống, hiểu
biết xã hội cho học sinh; điều chỉnh nội dung và yêu cầu các môn học và các hoạt
động giáo dục một cách linh hoạt, đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với đối tượng học
sinh, thời gian thực tế và điều kiện dạy học của địa phương trên cơ sở chuẩn kiến
thức, kỹ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh; tăng cường đổi mới
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo hướng phát huy tính chủ
động, tích cực, tự học, phát triển năng lực học sinh. Đó là yêu cầu chung mang tính
định hướng vừa tổng quát vừa cụ thể về nhiệm vụ giáo dục trung học trong năm học.
Môn Ngữ văn không nằm ngoài chủ trương đó. Nghĩa là, cùng với các bộ môn khác,
môn Văn tiếp tục đổi mới về phương pháp giảng dạy, nhất là dạy văn theo chủ đề; dạy
văn tích hợp kiến thức liên môn, vận dụng giải quyết những vấn đề thực tiễn; dạy Văn
theo hướng đánh giá năng lực học sinh...Trong đó, Đọc hiểu văn bản trở thành khâu
đột phá, quan trọng trong quá trình cảm thụ văn chương;
- Như vậy, dạy văn hiện nay cần coi trọng việc dạy đọc hiểu. Ông Trần Đình
Sử trong bài viết Đọc hiểu văn- Một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy
văn hiện đại, Báo văn nghệ số 31 đã khẳng định đến lúc phải chuyển việc giảng văn
trong nhà trường thành việc dạy đọc, dạy cách đọc để học sinh tự đọc lấy thì việc học
văn mới thực sự có kết quả, phải đọc văn để người đọc tự phát hiện ra và thấy mình
lớn lên”. Trong bài "Coi trọng sự cảm thụ của học sinh trong giảng dạy văn học" (Tạp
chí nghiên cứu giáo dục tháng 11 năm 1980) tác giả Nguyễn Duy Bình đã khẳng định
"Nhiệm vụ then chốt trước hết của giáo viên đối với học sinh là giúp các em biết đọc

Phận nghèo hôm sớm dãi dầu
Hóa bao nhiêu kiếp, ngọt ngào, đa đoan.
Người ngoan ở với người gian
Dẫu hiền như Bụt cũng tan nát lòng
Tin em, em cướp mất chồng
Đành làm quả thị thơm cùng nước non...
(Trích Lời của Tấm – Ánh Tuyết )
1. Những chi tiết nào sau đây nói về “phận nghèo” “thiệt thòi” của nhân vật
Tấm trong truyện Tấm Cám?
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

A. Bố mất sớm, ở với dì ghẻ, làm lụng vất vả từ sáng đến tối không hết việc.
B. Được Bụt giúp đỡ.
C. Hóa thành cô gái thảo hiền sống cùng bà lão tốt bụng.
D. Bụt cho đàn chim sẻ xuống giúp Tấm.
2. Trong truyện Tấm Cám, Tấm đã “hóa bao nhiêu kiếp”? Đó là những kiếp
nào?
3. Sự hóa kiếp của Tấm và sự xuất hiện của nhân vật ông Bụt cho thấy truyện
Tấm Cám thuộc loại ...
A. Truyện cổ tích về loài vật.
B. Truyện cổ tích sinh hoạt.
C. Truyện cổ tích thần kì.
4. Ông Bụt trong truyện cổ tích là kiểu nhân vật chức năng. Vai trò của ông là

chương trình, đi thẳng vào văn bản, chứ không đi qua hình thức gián tiếp là lấy một
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

văn bản thơ viết về những vấn đề liên quan đến ngữ liệu có trong chương trình để
triển khai việc đọc hiểu. Trên thực tế, ngữ liệu văn bản thơ có nội dung liên quan
không nhiều. Nếu có thì rất ít bài thơ có nội dung, nghệ thuật phù hợp với trình độ
học sinh ( ví dụ như 100 bài thơ Chân dung nhà thơ của Xuân Sách). Vì thế, giáo viên
ít vận dụng văn bản thơ có nội dung liên quan trong quá trình đọc hiểu và kiểm tra
đánh giá năng lực học sinh.
Về phía học sinh, khi tiếp cận hình thức văn bản thơ có nội dung liên quan
trong đọc hiểu văn bản và làm bài tập, các em phải hiểu cùng một lúc hai văn bản: văn
bản đang học trong chương trình và văn bản thơ có nội dung liên quan. Trong khi đó,
việc đọc hiểu văn bản trong chương trình cho thấu đáo đã là việc khó vì các em phải
nhận biết, thông hiểu, vận dụng trả lời rất nhiều dạng câu hỏi mà theo đề xuất của
PGS-TS Đỗ Ngọc Thống là các loại: Câu hỏi về thể loại; Câu hỏi hướng vào yếu tố
ngoài văn bản;Câu hỏi về vai trò người tiếp nhận;Câu hỏi hướng vào yếu tố văn
bản...thì đọc hiểu những bài dạng thơ có nội dung liên quan lại nâng thêm một tầm
hiểu biết cao hơn. Đó là một trong những thách thức lớn đối với học sinh.
Tuy nhiên, cái khó ló cái khôn, không phải vì khó khăn mà chúng ta chùn bước
hoặc không dám tìm hiểu khám phá, nhất là một khi trong tài liệu tập huấn về đổi mới
giảng dạy Ngữ văn THPT của Bộ GD-ĐT đã đề cập, mở đường cho hướng tiếp cận
mới này thì việc vận dụng thơ có nội dung liên quan lại cần đặt ra và thực hiện tiếp
tục.


phải lấy văn bản làm trung tâm. Chỉ ý nghĩa có căn cứ trong văn bản mới có giá trị.
Cần phải coi trọng ngữ cảnh, coi trọng tổ chức nội bộ của văn bản.Đọc hiểu phải dựa
vào cấu trúc ngôn ngữ, không được thoát li ngôn ngữ.
-Về khái niệm Thơ và văn bản thơ có nội dung liên quan đến văn bản trong
chương trình Ngữ văn THPT :
+ Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm
trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có
nhịp điệu.
+Văn bản thơ có nội dung liên quan đến văn bản trong chương trình Ngữ
văn THPT là những văn bản thơ được hình thành nhờ lấy cảm hứng từ những văn bản
có trong sách giáo khoa. Phần văn bản này do các nhà thơ, tác giả sáng tác.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.1/- Sử dụng Văn bản thơ có nội dung liên quan đến văn bản trong chương
trình hỗ trợ đọc hiểu phần tiểu dẫn trong sách giáo khoa ngữ văn THPT
2.1.1/ Trong giờ Đọc văn, phần Tiểu dẫn giống như khúc dạo đầu của một bản
nhạc, mở đường cho giáo viên bước vào bản nhạc chính là phần Văn bản. Phần Tiểu
dẫn là cơ sở khoa học để lí giải những vấn đề liên quan đến Văn bản. Tuy nó có nội
dung gắn với các yếu tố ngoài văn bản như tiểu sử tác giả, hoàn cảnh sáng tác, sự
nghiệp sáng tác, thể loại, phong cách nghệ thuật nhưng lại là chỗ dựa vững chắc để
hiểu về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của văn bản. Phần tiểu dẫn thường được giới
thiệu ngắn gọn, dưới dạng phương thức biểu đạt thuyết minh. Tri thức đọc hiểu phần
này được các nhà biên soạn sách giáo khoa viết thành những đoạn văn xuôi ngắn gọn,
cô đọng. Khi tìm hiểu phần này, nếu chủ quan, chúng ta sẽ hướng dẫn học sinh một
cách qua loa, sơ sài; nhưng nếu sa đà, tìm hiểu quá kĩ thì lại mất thời gian, ảnh hưởng
đến phần đọc hiểu văn bản. Nguyên nhân tình trạng này là do phần Tiểu dẫn cung cấp
thông tin cụ thể nên giáo viên thường lướt qua, chỉ cho học sinh đọc, chứ không cần
hiểu.
2.1.2/ Các bước sử dụng Văn bản thơ có nội dung liên quan để hỗ trợ đọc
hiểu phần Tiểu dẫn

Mặc thế cuộc vần xoay
Đối nhân bằng nhân bản
Con người ấy với thiên nhiên bầu bạn
Đời bon chen sao kham nổi hiền tài.
Lời sấm truyền khó thấy một câu sai
Duy một việc ông tính lầm dễ thấy:
Thân áo vải, đầu trần thanh thản vậy
Lại đóng gông trong mũ áo triều đình!
Câu thơ Biển xanh thành nương dâu có ý nghĩa ẩn dụ về thực trạng trên đường
xuống dốc của xã hội phong kiến Việt Nam thế kỉ XVI mà nhà thơ đang sống. Thơ cụ
Nguyễn Bỉnh Khiêm là thơ báo trước, là Lời sấm truyền dự đoán về xã hội hiện tại và
tương lai rất chính xác. Về con người Nguyễn Bỉnh Khiêm, qua các từ ngữ nhân bản,
thiên nhiên bầu bạn,thanh thản trong bài thơ, giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu đúng
về vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ. Đó là con người không những có học vấn uyên thâm
mà còn là người có chí khí, chọn lối sống nhàn, không mưu cầu danh lợi.
Khi dạy phần Tiểu dẫn bài thơ TỰ TÌNH(II) (SGK, ngữ văn 11, Tập I, tr 18),
nhằm giúp học sinh hiểu thêm về tác giả Hồ Xuân Hương, có thể chọn bài thơ sau:
"Kính chào chị Hồ Xuân Hương
Ôi một tài thơ cỡ khác thường
"Xiên ngang mặt đất" câu thơ nhọn
"Dê cỏn buồn sừng" chữ hóc xương
Không chịu cam tâm làm phận gái
Chế giễu nam nhi cả một phường
"Bà chúa thơ Nôm" ai sánh kịp
Ra ngoài lề lối của văn chương"
(Hồ Xuân Hương - Tế Hanh)
Giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh giữa nội dung phần Tiểu dẫn trong sách
giáo khoa với bài thơ của Tế Hanh, phát hiện ra nét giống nhau và khác nhau giữa hai
văn bản. Tế Hanh sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật để cảm tác về con
người và sự nghiệp sáng tác của nữ sĩ. Đó là một tài thơ cỡ khác thường, một "Bà

SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.2/- Sử dụng Văn bản thơ có nội dung liên quan đến văn bản trong chương
trình hỗ trợ đọc hiểu phần Tác giả văn học
2.2.1/ Đối với những tác giả lớn, SGK Ngữ văn THPT không trình bày nhập
chung phần TIỂU DẪN với VĂN BẢN trong một bài, mà tách riêng thành hai phần
TÁC GIẢ-TÁC PHẨM với thời lượng giảng dạy nhiều hơn. Cụ thể:
- Ngữ văn 10, HK2:
+Tiết 59,60,61. Bài: Đại cáo bình Ngô ( Nguyễn Trãi). Phần 1: tác giả. Phần 2:
tác phẩm;
+Tiết 81,82. Bài: Truyện Kiều ( Nguyễn Du). Phần 1: tác giả. Tiết 83: Trao
duyên...
- Ngữ văn 11, HK1:
+Tiết 20,21,22. Bài: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ( Nguyễn Đình Chiểu). Phần 1:
tác giả. Phần 2: tác phẩm;
+Tiết 50: Phần 1: tác giả Nam Cao. Tiết 52,53,54: Chí Phèo
- Ngữ văn 12, HK1:
+Tiết 4. Bài: Tuyên ngôn Độc lập ( Hồ Chí Minh). Phần 1: tác giả. Tiết 7,8 Phần
2: tác phẩm;
+Tiết 22. Bài: Việt Bắc ( Tố Hữu). Phần 1: tác giả. Tiết 25,26: tác phẩm...
Vì thời lượng dành cho đọc hiểu tác giả khá rộng ( từ 1 đế 2 tiết) nên để hệ thống
hoá kiến thức về tác giả, sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật..., bên cạnh các
phương pháp như dùng phiếu học tập, bản đồ tư duy, sử dụng bảng biểu..., giáo viên
cũng có thể vận dụng Văn bản thơ có nội dung liên quan đến văn bản trong chương
trình trên lớp, nhằm kích thích tinh thần tự học, sáng tạo của học sinh. Ở đây, tôi xin
giới thiệu cách đọc hiểu bài Tác giả Tố Hữu ( tiết 22, Ngữ văn 12 HK2) bằng hình
thức này.
2.2.2/ Bài Tác giả Tố Hữu dạy trong 1 tiết với ba nội dung chính: Vài nét về tiểu


4

5

6

7

8

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

( Quê mẹ -Gió lộng)
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,
Mặt trời chân lí chói qua tim.
Hồn tôi là một vườn hoa lá,
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.
Cô đơn thay là cảnh thân tù!
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực
Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức
Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!
(Tâm tư trong tù —Từ ấy)
Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy
Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi!
Nước mắt ta trào, húp mí, tràn môi
Cổ ta ré trăm trận cười, trận khóc!
[...] Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió
mạnh
Thổi phồng lên. Tim bỗng hoá mặt trời

SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

hương của nhà thơ. (3) Năm 1937, Tố Hữu được giác ngộ lí tưởng cộng sản ; (4) Năm
1939, ông bị thực dân Pháp bắt giam qua nhiều nhà tù ở miền Trung và Tây Nguyên ;
(5) Niềm vui chiến thắng Điện Biên Phủ ; (6) Tố Hữu làm chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa
ở Huế.(7) Niềm vui thống nhất đất nước năm 1975 của nhà thơ. (8)Năm mất: 2002.
- Đọc hiểu phần Đường cách mạng, đường thơ: Cột bên trái trích dẫn những câu
thơ, đoạn thơ, đặt tên là Đường cách mạng, đường thơ. Mục bên phải yêu cầu học
sinh dựa vào SGK để nhận biết, ghi lại các tập thơ của Tố Hữu. Giáo viên lưu ý học
sinh đọc kĩ từng đoạn thơ, tìm ra trong mỗi đoạn thơ một từ khoá có tên tập thơ:
TT
Đường cách mạng, đường thơ
Các tập thơ
1
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,
Mặt trời chân lí chói qua tim.
Hồn tôi là một vườn hoa lá,
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.
2
Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền''
3
Sóng bồi thêm bãi, thuyền thêm bến
Gió lộng đường khơi, rộng đất trời!
4
Thời đại lớn cho ta đôi cánh

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.3.1/ Tiếp theo phần Tiểu dẫn, phần Văn bản trong phân môn Đọc văn là phần
quan trọng nhất. Theo yêu cầu đổi giảng dạy, ở phần Văn bản, giáo viên tập trung vận
dụng đa dạng về phương pháp để hướng dẫn học sinh Đọc hiểu, cảm thụ tác phẩm
theo đặc trưng thể loại. Hướng đọc hiểu hiện nay là dạy học theo chủ đề, dạy học tích
hợp kiến thức liên môn giải quyết những vấn đề thực tiễn, dạy học theo phát triển
năng lực học sinh v.v. Dù dạy bằng hình thức nào đi nữa thì bước đọc hiểu vẫn nắm
vai trò chủ đạo, trong đó giáo viên là người hướng dẫn học sinh làm việc, học sinh thể
hiện tính chủ động, tích cực sáng tạo trong giờ học. Sử dụng thơ hoá phần đọc hiểu
văn bản trở thành một trong những cách thức hỗ trợ giáo viên dẫn dắt học sinh tiếp
nhận và tạo lập văn bản.
2.3.2/ Các dạng Văn bản thơ có nội dung liên quan đến văn bản trong chương
trình hỗ trợ đọc hiểu phần Văn bản
- Phần Văn bản văn xuôi ( Truyện, kí, tuỳ bút…)
Tác phẩm văn xuôi trong chương trình THPT rất đa dạng về thể loại. Văn học
dân gian có truyện cổ dân gian (Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười…).
Văn học trung đại có truyền kì, chí…Văn học hiện đại có truyện ngắn, tiểu tuyết, bút
kí, tuỳ bút…Tuỳ theo đặc trưng mỗi thể loại mà giáo viên hướng dẫn học sinh có cách
đọc hiểu văn bản khác nhau. So với tác phẩm trữ tình, tác phẩm văn xuôi có dung
lượng dài hơn, khó nhớ hơn. Một điểm đổi mới cũng là yếu tố thuận lợi cho học sinh
hiện nay là trong cách ra đề của Bộ GD-ĐT khi kiểm tra đánh giá năng lực lĩnh hội và
tạo lập văn bản, đề ra đã cung cấp văn bản ( thơ và văn xuôi), tránh tình trạng học
sinh nhớ máy móc, học vẹt. Tuy nhiên, vẫn có thể xảy ra tình trạng đề ra không thể
cấp văn bản như dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học. Khi ý kiến đó có
tầm bao quát toàn bộ một tác phẩm trong chương trình thì không thể cấp cả một tác
phẩm dài trong khi ra đề. Vì vậy, khi dạy phần đọc văn, giáo viên cũng cần lưu ý học
sinh đọc kĩ tác phẩm và phải ghi nhớ những dẫn chứng tiêu biểu để trích dẫn chính
xác trong bài làm.
Theo Từ điển thu t ngữ văn học:“Trong tác phẩm tự sự, cốt truyện được triển

liên quan đến nhân vật tự sự. Trong thực tế, một số nhà thơ quen thuộc đã sáng tác
những bài thơ có giá trị tư tưởng và nghệ thuật dựa trên cái nền là tác phẩm tự sự. Khi
tiến hành đọc hiểu văn bản tự sự, giáo viên có thể dùng những bài thơ này để hướng
dẫn học sinh tìm hiểu, phát hiện những sự việc,chi tiết tiêu biểu. Vì khi sáng tác, các
nhà thơ đã chọn lựa các sự việc, chi tiết tiêu biểu trong tác phẩm tự sự để diễn đạt lại
lần nữa bằng ngôn ngữ trữ tình. Tôi xin minh chứng điều này qua 3 tác phẩm tiêu biểu
ở 3 khối như sau:
- Khi dạy bài An Dương Vương, Mỵ Châu và Trọng Thuỷ ( Ngữ văn 10, HKI),
tôi đã sử dụng văn bản thơ viết về truyền thuyết này để giúp học sinh nắm vững cốt
truyện, nhân vật, chi tiết tiêu biểu.
+ Có thể mượn bài thơ sau:
CHUYỆN TÌNH MỴ CHÂU
Nghe truyện kể hai ngàn năm trước
Quân Triệu Đà từ nước Tần sang
Đánh chiếm Âu Lạc lân bang
Thua trận liên tiếp phải sang cầu hòa
Nhân cơ hội Triệu Đà lập kế
Cho con trai ở rể làm tin
Mỵ Châu trao cả trái tim
Trọng Thủy yêu nước hay tìm tình yêu?
An Dương Vương có nhiều cân nhắc
Hay quá tin vững chắc nỏ thần?
Mỵ Châu đâu có phân vân
Trái tim yêu dấu không cần hoài nghi.
Trọng Thủy bước chân đi vì nước
Điều gì hơn Tổ quốc sinh thành
Tình riêng chung có phân minh?
Nỏ thần tráo lẫy, ngay tình lý gian!
Nào áo gấm vua ban phía trước
Nào tổ tiên, đất nước đằng sau

truyền thuyết An Dương Vương, Mỵ Châu và Trọng Thuỷ . Từ đó, em hãy kể tóm tắt
cốt truyện truyền thuyết này?
Với câu hỏi trên, học sinh sẽ nhận biết hệ thống từ ngữ trong bài thơ như lập
kế, cầu hoà,cho con ở rể (nói về Triệu Đà);Nỏ thần tráo lẫy( nói về Trọng Thuỷ);Yêu
một khắc phá cơ đồ nghìn năm ( nói về Mỵ Châu);Nghĩa non bùng cháy, dửng dưng
tình nhà (nói về An Dương Vương); Minh châu lại hóa thân vào ngọc trai
( nói về ngọc trai, giếng nước)…Từ đó, lấy văn bản trong SGK làm chuẩn, học sinh
kết hợp với bài thơ để tiến tới bước thứ hai là thông hiểu cốt truyện và nội dung chính
của truyền thuyết là: Bi kịch nước mất nhà tan-Bi kịch tình yêu tan vỡ- Hình ảnh
Ngọc trai, giếng nước.
+ Cũng trong truyền thuyết này, khi tiến hành đọc hiểu chi tiết nghệ thuật đặc
sắc, tôi sử dụng trích đoạn bài thơ sau ( vì bài thơ tương đối dài)
Mị CHÂU (Vương Trọng)
(…)
Lông ngỗng rơi, lông ngỗng rơi trắng lối
Dứt áo ra như dứt thịt da mình
Phút ly loạn, chàng ở đâu chẳng tới
Trọng Thủy ơi, thiếp đã chạy xa thành!
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Nước mắt rơi xoay tròn cơn gió
Lưng Cha cùng lưng ngựa đẫm mồ hôi
Lông ngỗng hết, thiếp sẽ rời lưng ngựa

thời sẽ cảm thụ, rung động trước vẻ đẹp của hình tượng nghệ thuật được gửi gắm
trong truyền thuyết dân gian, cũng như tạo hứng thú, dễ nhớ khi tiếp cận văn bản.
+ Để thực hiện phần củng cố phần Đọc văn truyền thuyết này, tôi đã sử dụng
một đoạn thơ quen thuộc của nhà thơ Tố Hữu trong bài Tâm sự, sáng tác tháng 2 năm
1967:
Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu...
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Bốn câu thơ trên đã đức kết gần như trọn vẹn nội dung chính của truyện An
Dương Vương,Mị Châu và Trọng Thuỷ mà học sinh vừa đọc hiểu xong. Nên nỗi cơ đồ
đắm biển sâu... là bi kịch nước mất nhà tan. Trái tim lầm chỗ để trên đầu là bi kịch
tình yêu tan vỡ. Từ đó, giáo viên đặt câu hỏi liên hệ thực tế để học sinh rút ra bài học
nhận thức và hành động của tuổi trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, về
bài học tình yêu đôi lứa…
- Để hỗ trợ Đọc văn bài Hai đứa trẻ của Thạch Lam, tôi đã sử dụng bài thơ sau:
Cho ta về lại Cẩm Giàng
Dọc miền thương nhớ ngỡ ngàng nắng rơi
Bờ tre văng vẳng “chiều rồi”
Sân ga thấp thoáng bóng người về đâu ?
Lắt lay mấy ngọn đèn dầu

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

Trích từ ngữ, câu thơ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Nh n biết câu văn trong
truyện

Thông hiểu nghĩa nghệ
thu t các câu văn đó

Bờ tre văng vẳng
“chiều rồi”
ngọn đèn dầu
Màn đêm đặc quánh,
còi tàu vọng lên …
Hỡi cô hàng xén
ngoan hiền năm nao !
Đêm hè ngồi đếm trời
sao
Kìa Con Vịt lội ào ào
sông Ngân
-Mùi quê, mùi đất
quen thân một thời …
-Rạ rơm muôn kiếp
thơm mùi rạ rơm.

nhà ông Cửu và đèn dãy sáng kiếp người nghèo khổ nơi
xanh trong hiệu khách...
phố huyện.
- Một khe sáng ở một vài cửa
- Biểu trưng cho
hàng.
những kiếp người nhỏ bé
- Quầng sáng thân mật quanh sống leo lét, tàn lụi trong
ngọn đèn chị Tí.
đêm tối mênh mông của xã

Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Màn đêm đặc quánh,
còi tàu vọng lên …

-

-

Hỡi cô hàng xén
ngoan hiền năm nao !
Đêm hè ngồi đếm trời

+ Chiếc đèn xanh treo trên
toa sau cùng, xa xa mãi rồi
khuất sau rặng tre.
-Liên trông thấy động lòng
thương ( mấy đứa trẻ con nhà
nghèo)
-Chị là người con gái lớn và
đảm đang
-An và Liên lặng ngước mắt
lên nhìn các vì sao để tìm
sông Ngân Hà và con vịt theo
sau ông Thần Nông…
-Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi
nóng của ban ngày lẫn với
mùi cát bụi quen thuộc quá,
khiến chị em Liên tưởng là
mùi riêng của đất, của quê
hương này.

hội cũ.

Hình ảnh con tàu:
- Biểu tượng của một thế
giới đáng sống: sự giàu
sang và rực rỡ ánh sáng, nó
đối lập với cuộc sống mỏi
mòn, nghèo khổ, tối tăm
của người dân phố huyện.
- Đánh thức những kí ức
tuổi thơ êm đềm về Hà Nội

“Muốn ăn cơm trắng với giò
Lại đây mà đẩy xe bò với anh”.
Câu hò thả giữa trời xanh
Mà duyên mà nợ kết thành lứa đôi…
Đói, dù đói mấy cũng cười
Gặp nhau hai kẻ buông lời hờn nhau.
Nào người tận đẩu tận đâu
Giạt trôi cơn đói, bạc màu nắng mưa
Bánh đúc ngon đến bất ngờ
Đói vàng con mắt, bây giờ đã qua …
Theo anh về tận miền xa
Nón mê che nửa, chiều tà nắng rơi
Bàn chân bước lẫn bồi hồi
Mặc ai ganh tị, em cười bên anh …
Thế rồi một mái nhà tranh
Thế rồi hôm sớm ngọt lành có nhau
Một mai sương đọng mái đầu
Câu hò xưa vọng xanh màu yêu thương …
(Câu hò bữa ấy- Lê Đức Đồng)
Tiếp theo bài thơ Vọng chiều Thạch Lam, tác giả Lê Đức Đồng có thêm bài thơ
Câu hò bữa ấy để thơ hoá truyện Vợ nhặt của Kim Lân. Bài thơ viết theo thể lục bát
quen thuộc, lấy cảm hứng từ câu hò vu vơ của nhân vật Tràng ở đầu truyện để làm
nguồn cảm hứng, khơi mạch cảm xúc. Nếu ở trong truyện của Kim Lân, câu hò và
bốn bát bánh đúc là những chi tiết tiêu biểu, tạo tình huống truyện độc đáo, bất ngờ,
éo le, cảm động(tình huống nhặt vợ) thì ở bài thơ này, chi tiết ấy tiếp tục được sử
dụng để tạo sự rung cảm sâu xa trong lòng người đọc. Khi đem bài thơ đặt cạnh
truyện ngắn để đọc hiểu, giáo viên sẽ giúp học sinh nhanh chóng nhận ra chi tiết câu
hò và hình ảnh bánh đúc giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Căn cứ vào những câu
thơ tiêu biểu, giáo viên hướng dẫn học sinh gợi nhớ lại cốt truyện, nhân vật…trong
truyện Vợ nhặt. Chẳng hạn như:

+ Lớp 10: “Bình Ngô đại Cáo” - Nguyễn Trãi; Tựa “Trích diễm thi tập” (
trích ) - Hoàng Đức Lương; Hiền tài là nguyên khí của quốc gia ( Trích Bài kí đề
danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba ) - Thân Nhân Trung; Hưng
Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn ( Trích Đại Việt sử kí toàn thư ) - Ngô Sĩ Liên; Thái
sư Trần Thủ Độ ( Trích Đại Việt sử kí toàn thư ) - Ngô Sĩ Liên.
+ Lớp 11: Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm; Xin lập khoa luật ( trích tế cấp bát
điều – Nguyễn Trường Tộ ); Về luân lí xã hội ở nước ta – Phan Châu Trinh; Một thời
đại trong thi ca – Hoài Thanh và Hoài Chân; Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng dân tộc
bị áp bức – Nguyễn An Ninh; Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác - Ph. Ăng – ghen.
+ Lớp 12: Tuyên ngôn Độc lập- Hồ Chí Minh; Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao
sáng trong văn nghệ dân tộc- Phạm Văn Đồng; Mấy ý nghĩ về thơ –Nguyễn Đình Thi;
Đôt Xtôi ép Xki – Xvaigơ; “ Thông điệp nhân ngày phòng chống AIDS 1-12-2001” –
Côphianan;“ Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” - Trần Đình Hượu.
So với văn bản thơ, văn bản tự sự, khi tổ chức giờ đọc hiểu văn bản nghị luận,
giáo viên sẽ đứng trước một số khó khăn nhất định. Đây là thể văn mà tính khoa học,
tư duy lô gich, tính chiến đấu kết hợp chặt chẽ với tính truyền cảm. Qua mỗi văn bản,
các tác giả đều bộc lộ tư tưởng chính trị rõ ràng, đúng đắn, đều gửi gắm những bức
thông điệp mang chiều sâu triết lí và đậm chất nhân văn. Vì thế, với trình độ học sinh
ở lứa tuổi THPT, việc hiểu và cảm được những áng văn nghị luận không phải là điều
dễ dàng. Mặt khác, trong nội dung kiểm tra đánh giá, thông tường người ra đề ít chú
trọng lấy những văn bản nghị luận trong chương trình làm ngữ liệu, có chăng chỉ
dùng những ngữ liệu văn nghị luận có nội dung tương tự với ngữ liệu ngoài chương
trình làm cơ sở cho đề phần Đọc hiểu, ít sử dụng để tạo lập văn bản phần làm văn. Vì
thế, dẫn đến tình trạng giáo viên ít chú tâm giảng dạy và học sinh cũng lơ là trong
việc đọc hiểu văn bản nghị luận. Thực ra, văn nghị luận được đưa vào chương trình
với số lượng như trên đã điểm qua đều có ý nghĩa trong quá trình học giảng dạy Ngữ
văn. Đọc hiểu văn nghị luận, ngoài nội dung cần lĩnh hội, học sinh sẽ học được
phương pháp nghị luận trong từng văn bản cụ thể, từ đó rút ra bài học để các em vận
dụng tạo lập văn bản với hai dạng bài: nghị luận xã hội ( nghị luận về một hiện tượng
đời sống; nghị luận về một tư tưởng đạo lí) và nghị luận văn học.

Như Trường Sơn say gió biển Đông
Vâng, Bác nói, chúng con nghe rõ
Mỗi tiếng Người mang nặng núi sông.
Trời bỗng xanh hơn, nắng chói loà
Ta nhìn lên Bác, Bác nhìn ta
Bốn phương chắc cũng nhìn ta đó
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà!
Hai câu thơ Hôm nay sáng mồng hai tháng chín/Thủ đô hoa, vàng nắng Ba
Đình sẽ hỗ trợ cho giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu phần Tiểu dẫn khi hỏi học
sinh trình bày hiểu biết về hoàn cảnh ra đời bản Tuyên ngôn Độc lập? Câu thơ gợi
nhớ đến mốc thời gian quan trọng nhất: mồng hai tháng chín, thời khắc khai sinh ra
đất nước, khai tử kẻ thù; gợi nhớ đến địa danh Ba Đình, nơi Hồ Chí Minh đọc Tuyên
ngôn Độc lập.
Đoạn thơ thứ hai: Người đứng trên đài…Độc lập bây giờ mới thấy đây hỗ trợ
học sinh hiểu về tâm trạng, tình cảm của Bác khi đọc Tuyên ngôn Độc lập. Giáo viên
có thể đặt câu hỏi thông hiểu để học sinh trả lời. Cụ thể: Khi đọc “Tuyên ngôn Độc
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

lập”, Hồ Chí Minh đã “lặng phút giây”. Em hãy lý giải vì sao Bác có cảm xúc đó?
Câu trả lời có thể là: Tuyên ngôn Độc lập ra đời là một trong những niềm xúc động,
hạnh phúc lớn lao nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Phía
sau những lập luận chặt chẽ, sắc sảo, đanh thép, đầy tính đối thoại, xác định giá trị
pháp lí của chủ quyền dân tộc là dòng cảm xúc, tình cảm của người viết Tuyên ngôn.

và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”.Tác giả
dùng những từ ngữ trang trọng: “trịnh trọng tuyên bố”, “có quyền hưởng”, sự thật
đã thành” vang lên mạnh mẽ, chắc nịch như lời khẳng định một chân lí. Lời văn đanh
thép như một lời thề, thể hiện ý chí, quyết tâm của cả dân tộc.
2.4/- Sử dụng văn bản thơ có nội dung liên quan trong việc ra đề kiểm tra
đánh giá phần đọc hiểu
Theo tinh thần đổi mới việc ra đề kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển
năng lực học sinh, việc ra đề dạng Đọc hiểu là phần không thể thiếu, dù đó là đề kiểm
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

tra định kì ( hệ số 1, hệ số 2), kiểm tra học kì, đặc biệt là kì thi Quốc gia THPT hằng
năm. Ngữ liệu để đưa ra trong đề đọc hiểu thường là ngữ liệu nằm ngoài chương trình
nhưng có nội dung gần gũi, phù hợp với trình độ, năng lực và phát huy sáng tạo của
học sinh. Để tập luyện cho học sinh tiếp cận những ngữ liệu văn bản ngoài chương
trình khi làm bài tập đọc hiểu, trước hết giáo viên chọn ngữ liệu là những văn bản có
trong chương trình. Khi các em đã làm quen với cách làm bài đọc hiểu dạng này, giáo
viên sẽ đưa ra ngữ liệu văn bản ngoài chương trình, những văn bản học sinh chưa biết
trước đó, để học sinh làm bài. Việc chọn ngữ liệu là những văn bản dưới dạng văn
bản thơ có nội dung liên quan cũng góp phần đổi mới trong việc ra đề, kiểm tra đánh
giá. Bởi vì, những bài thơ, đoạn thơ có nội dung hỗ trợ đọc hiểu tất cả các văn bản ở
mục 2.1,2.2,2.3 mà tôi đã trình bày ở trên đều là những ngữ liệu văn bản xếp vào loại
nằm ngoài chương trình nhưng đảm bảo yêu cầu gần gũi, dễ nhận dạng, có những
điểm tương đồng với văn bản trong chương trình. Vì thế, giáo viên có thể vận dụng để

Chủ đề
Tác giả Hồ
Vận dụng
Vận dụng cao
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status