skkn tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học trong trường phổ thông ở bộ môn ngữ văn - Pdf 37

TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC
TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG Ở BỘ MÔN NGỮ VĂN
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sinh hoạt chuyên môn (SHCM) là hoạt động thường xuyên của nhà trường và
là một trong những hình thức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm
cho giáo viên, hình thành các mối quan hệ đồng nghiệp tốt đẹp, xây dựng môi trường
học tập và tự học suốt đời. Từ đó, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng
giáo dục của nhà trường. Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục không thể không
chú trọng đến việc đổi mới SHCM.
SHCM theo nghiên cứu bài học (NCBH) là một nội dung quan trọng trong
SHCM ở trường phổ thông trong các năm học gần đây. Mục tiêu hướng tới của
SHCM theo NCBH thể hiện sự thay đổi căn bản trong đổi mới dạy học. Tất cả các
khâu soạn bài, lên lớp, dự giờ, đánh giá tiết dạy... đều có sự thay đổi về quy trình, nội
dung, phương pháp, cách thức tổ chức. Sự thay đổi cơ bản nhất là: thay vì nghiên cứu,
phân tích và đánh giá hoạt động dạy của giáo viên, SHCM theo NCBH tập trung
nghiên cứu, phân tích hoạt động học của học sinh. Từ đó, giáo viên điều chỉnh, thay
đổi nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh theo định
hướng phát triển năng lực người học. SHCM theo NCBH vì thế sẽ phát huy hiệu quả
tích cực, tạo môi trường tốt để giáo viên nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là
việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Chính từ sự thay đổi căn bản trên mà khi tổ chức SHCM theo NCBH, các tổ
chuyên môn ở các trường phổ thông đã và đang gặp phải những khó khăn nhất định
trong quá trình thực hiện. Cách thức tổ chức chưa bài bản, đúng quy trình; khi thực
hiện chưa đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc của SHCM theo NCBH; giáo viên chưa
nắm vững các kĩ thuật trong dự giờ và đánh giá tiết dạy theo hướng phân tích hoạt
động học tập của học sinh... Năm học 2015-2016, cùng với các tổ chuyên môn khác
trong trường THPT Trần Phú, tổ Văn đã thực hiện tổ chức SHCM theo NCBH và đạt
được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, SHCM theo NCBH là một nội dung mới
chưa có đơn vị nào trong tỉnh phổ biến sáng kiến kinh nghiệm về đề tài này để đơn vị
học hỏi nên các thầy cô bộ môn Văn chủ yếu vẫn vừa làm, vừa học, vừa rút kinh
nghiệm, do vậy hiệu quả chưa như mong muốn. Là người trực tiếp tham gia giảng dạy

đặc điểm riêng của học sinh.
Nhằm hỗ trợ các trường phổ thông triển khai có hiệu quả việc đổi mới đồng bộ
phương pháp dạy học (PPDH) và kiểm tra, đánh giá (KTĐG) chất lượng giáo dục,
nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về phát triển kế hoạch giáo dục
nhà trường theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Bộ GD&ĐT có công văn số
5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014. Theo đó, các tổ/nhóm chuyên môn ở các
trường phổ thông chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện phân phối chương trình, xây
dựng các chuyên đề dạy học, biên soạn hệ thống câu hỏi/bài tập, thiết kế lại tiến trình
dạy học (gồm các hoạt động học của học sinh), tổ chức dạy học và dự giờ (theo các
chuyên đề dạy học đã xây dựng), phân tích, rút kinh nghiệm bài học.
Sở GD&ĐT Đồng Nai đã tổ chức tập huấn cho đội ngũ tổ trưởng chuyên môn
các trường THPT, Trung tâm GDTX trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai về các nội dung đổi
mới SHCM, đồng thời đã có các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện công văn
nói trên của Bộ GD&ĐT.
Công văn số 2507/SGDĐT-GDTrH ngày 27/10/2014 của Sở GD&ĐT Đồng
Nai về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và
kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học
qua mạng, đã hướng dẫn bổ sung một số nội dung sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn,
trong đó yêu cầu các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh phải "Tổ chức tốt việc sinh
hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học". Công văn số 2102/SGDĐTGDTrH ngày 09/9/2015 của Sở GD&ĐT Đồng Nai về việc Hướng dẫn thực hiện
nhiệm vụ Giáo dục trung học phổ thông năm học 2015-2016 cũng nêu rõ: "Trên cơ sở
2


kế hoạch dạy học đã được phê duyệt của Lãnh đạo nhà trường, tổ/nhóm chuyên
môn, giáo viên tổ chức sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và
kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn qua mạng cho
mỗi chủ đề theo hướng dẫn tại Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày
08/10/2014 của Bộ GDĐT và Công văn số 2507/SGDĐT-GDTrH ngày 27/10/2014
của Sở GDĐT", đồng thời nhấn mạnh: "Tiếp tục đổi mới sinh hoạt tổ/nhóm chuyên

không phải các bước lên lớp như giáo án thông thường trước đây.
Bảng so sánh:
Giáo án: (5 bước lên lớp)
Thiết kế bài học: (5 hoạt động chính)
Bước 1: Kiểm tra bài cũ
Bước 2: Bài mới
Bước 3: Luyện tập
Bước 4: Củng cố
Bước 5: Dặn dò

Hoạt động 1: Trải nghiệm/Khởi động
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức
Hoạt động 3: Thực hành
Hoạt động 4: Vận dụng
Hoạt động 5: Bổ sung

- Giáo viên và tổ/nhóm chuyên môn khi thiết kế bài dạy cần sáng tạo trong việc
sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, đảm bảo các phương pháp và
kĩ thuật dạy học phải phát huy được các năng lực học sinh bao gồm năng lực chung và
năng lực đặc thù của bộ môn Ngữ văn. Các phương pháp dạy học nêu vấn đề, thảo
luận nhóm…, các kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật hỏi chuyên
gia… thường phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh, từ đó giúp các em
hình thành được các năng lực theo mục tiêu bài dạy.
1.3. Giáo viên dạy minh họa

4


- Giáo viên dạy minh họa là một thành viên trong tổ/nhóm, được tổ/nhóm phân
công hoặc tự nguyện đảm nhận vai trò chính trong việc soạn bài và là người thực hiện

pháp khắc phục.
- Người chủ trì tôn trọng và lắng nghe tất cả ý kiến của giáo viên, không áp đặt
ý kiến của mình hoặc của một nhóm người. Mỗi giáo viên phải tự rút ra bài học và áp
dụng vào thực tế giảng dạy của mình.
2. Giải pháp 2: Xây dựng kế hoạch SHCM theo NCBH cụ thể, chi tiết
Về cơ bản, quy trình SHCM theo NCBH có 4 bước, gồm:
- Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu
- Tiến hành dạy minh họa và dự giờ
- Suy ngẫm, thảo luận về bài dạy minh họa (tổ chức nghiên cứu bài học)
5


- Áp dụng cho thực tiễn giảng dạy.
Thực tế quá trình thực hiện SHCM theo NCBH luôn phát sinh nhiều vấn đề
khiến cho việc tiến hành các bước NCBH gặp nhiều trở ngại, khó khăn. Do vậy, ở
mỗi bước, cần chú ý thực hiện đảm bảo đúng các nguyên tắc trong giải pháp 1 (đã
trình bày ở trên), đồng thời, phải có sự chuẩn bị thật kĩ càng để đảm bảo quá trình
thực hiện không gặp trở ngại từ thực tế của việc NCBH.
Xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu là bước đầu tiên và rất quan trọng. Kế
hoạch NCBH phải được xây dựng từ đầu năm học nằm trong kế hoạch hoạt động
chuyên môn của tổ/nhóm. Cần chọn các bài học phục vụ cho việc NCBH sao cho đến
thời điểm dạy mẫu phải trùng với tiến độ thực hiện phân phối chương trình của bộ
môn. Trong kế hoạch cần thể hiện rõ các mốc thời gian và phân công nhiệm vụ cụ thể.
Ví dụ:

Tháng

Nội dung

Tuần

Tuần 3



Tuần 4

Tiến hành dạy mẫu

Th.gian
thực
hiện/hoàn
thành


nhân/bộ
phận
phối hợp

Tiết
SHCM

Cả tổ

Tháng 8

Tháng 9


A


-Cô H in
phiếu
quan sát
- Thầy T
chuẩn bị
máy quay
-GVCN

6


10a1
hướng
dẫn HS
sắp xếp
bàn ghế
Tháng 10

Tuần 1

Thảo luận, phân tích Cả tổ
bài học

Từ 13h30 Phụ trách
thứ Hai phòng
máy
3/10




7


tập viết đoạn văn thuyết minh, Tóm tắt văn bản thuyết minh sẽ được xây dựng thành
Chủ đề Văn thuyết minh.
Khi đã xây dựng các chủ đề dạy học, các tổ/nhóm chuyên môn hoàn toàn chủ
động về việc phân chia số tiết cho mỗi đơn vị kiến thức bài học. Chính vì thế, trong
một tiết, giáo viên chỉ cần tổ chức thực hiện một hoặc hai hoạt động học nào đấy,
miễn sao các hoạt động này đáp ứng được các yêu cầu và mục tiêu của bài học là
nhằm hình thành và phát huy phẩm chất, năng lực học sinh. Bởi vì, "tiến trình dạy học
theo chủ đề được tổ chức thành các hoạt động học của học sinh để có thể thực hiện ở
trên lớp và ở nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực hiện một số hoạt động trong
tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng" (công văn
5555/BGDĐT-GDTrH của Bộ GD&ĐT).
4. Giải pháp 4: Nắm vững kĩ thuật trong dự giờ NCBH
4.1. Chọn vị trí quan sát
- Người dự giờ nên chọn vị trí có thể quan sát các hoạt động của học sinh một
cách tốt nhất. Thông thường, nếu bố trí bàn ghế học sinh trong lớp theo kiểu truyền
thống (tất cả đều hướng lên trên bàn giáo viên) thì người dự giờ có thể đứng/ngồi ở
hai bên hoặc ở phía trước lớp học. Nhưng nếu bố trí bàn ghế để học sinh ngồi theo
từng nhóm thì người dự giờ có thể linh hoạt chọn vị trí sao cho thuận lợi nhất để quan
sát hoạt động học của học sinh.
- Trong quá trình giáo viên và học sinh thực hiện các hoạt động dạy và học,
người dự giờ tránh đi lại khiến học sinh bị chi phối, làm ảnh hưởng đến lớp học.
4.2. Ghi chép khi dự giờ
- Trong quá trình quan sát, người dự giờ cần đánh dấu, ghi chép những biểu
hiện tâm lí, thái độ, hành vi của một số học sinh (có thể quan sát được) trong các hoạt
động/tình huống cụ thể như: Hoạt động nào? Bài tập nào? Thời điểm nào? Biểu hiện
của học sinh đó như thế nào? Vì sao lại như vậy?
- Tránh việc chỉ quan tâm ghi chép tiến trình và ghi tất cả nội dung kiến thức,

 Sự tương tác giữa các học sinh trong giờ học như thế nào?
 Hoạt động nào học sinh hứng thú hay không hứng thú? Vì sao?
 Hoạt động nào thu hút tất cả học sinh tham gia? Vì sao?
 Giáo viên làm thế nào để cuốn hút học sinh tham gia?
 Những học sinh nào chưa/không tham gia vào hoạt động?
- Chú ý đến học sinh tích cực và học sinh chưa tích cực, quan sát khi học sinh
làm việc cá nhân/hoạt động nhóm:
 Khi học sinh làm việc theo nhóm, thời gian có đủ để học sinh thực hiện nhiệm
vụ được giao hoặc nắm được nội dung bài học không?
 Có bao nhiêu học sinh tham gia vào thực hiện nhiệm vụ?
 Có học sinh nào không tham gia vào việc thực hiện nhiệm vụ? Vì sao? Trong
trường hợp đó, nên làm gì để tất cả các học sinh tham gia một cách có ý nghĩa?
5. Giải pháp 5: Nắm vững nội dung, phương pháp, kĩ thuật phân tích bài học
Mỗi bài học bao gồm các hoạt động học theo tiến trình sư phạm của phương
pháp dạy học tích cực được sử dụng. Mỗi hoạt động học có thể sử dụng một kĩ thuật
dạy học tích cực nào đó để tổ chức nhưng đều được thực hiện theo các bước như sau:
- Chuyển giao nhiệm vụ học tập: nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp với khả
năng của học sinh, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành khi
thực hiện nhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích được
hứng thú nhận thức của học sinh; đảm bảo cho tất cả học sinh tiếp nhận và sẵn sàng
thực hiện nhiệm vụ.
- Thực hiện nhiệm vụ học tập: khuyến khích học sinh hợp tác với nhau khi thực
hiện nhiệm vụ học tập; phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh và có biện
pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không có học sinh bị "bỏ quên".
- Báo cáo kết quả và thảo luận: hình thức báo cáo phù hợp với nội dung học
tập và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng; khuyến khích cho học sinh trao đổi,
thảo luận với nhau về nội dung học tập; xử lí những tình huống sư phạm nảy sinh một
cách hợp lí.
9


HS được giao nhiệm
vụ học tập cụ thể.
Tuy nhiên, phương
thức chuyển giao chưa
lôi kéo được HS vào
nhiệm vụ học tập.
Nhiều HS còn thụ
động với nhiệm vụ
học tập được giao.

HS được giao nhiệm
vụ học tập và được
hướng dẫn cụ thể.
Phương thức chuyển
giao rõ ràng đa số HS
hiểu được nhiệm vụ
học tập.

HS được giao nhiệm
vụ cụ thể, được hướng
dẫn rõ ràng, phương
thức chuyển giao sinh
động, lôi kéo được
tham gia HS, HS hiểu
và chủ động thực hiện
được các nhiệm vụ GV
giao.

Khả
năng


Khả năng quan sát theo
dõi phát hiện kịp thời
khó khăn của HS tốt:
cử chỉ, hành vi, nét
mặt, thái độ, qua vở ghi
bài, câu hỏi phát
vấn,…) GV kịp thời
điều chỉnh và giúp đỡ
HS còn khó khăn trong
học tập, bước đầu có
kết quả.

Mức độ phù
hợp, hiệu quả
của các biện
pháp hỗ trợ

khuyến
khích HS hợp
tác, giúp đỡ

Trong quá trình học tập
các mối quan hệ tương
tác giữa: HS với HS,
HS với GV, HS với tài
liệu học tập đã được
GV chú ý tổ chức song
còn mang tính hình


động và quá
trình thảo luận
của HS.

Trong quá trình học
tập đa số HS được tự
tổng hợp, phân tích kết
quả hoạt động và quá
trình thảo luận, được
đánh giá bản thân và
đánh giá lẫn nhau,
được uốn nắn kịp thời
những sai sót lệch lạc
về kiến thức, kĩ năng,
thái độ và hành vi theo
hướng tích cực: HS
cảm nhận không bị áp
đặt, được tôn trọng và
cảm thấy mình có giá
trị.

Trong quá trình học
tập HS được tổng hợp,
phân tích, đánh giá kết
quả hoạt động và quá
trình thảo luận, song
còn mang tính hình
thức, áp đặt.

Trong quá trình học

Nhiều HS học tập thụ
động, chưa sẵn sàng
nhận và thực hiện
nhiệm vụ học tập.

HS được giao nhiệm
vụ và hướng dẫn trong
các hoạt động học tập.
Song vẫn còn HS
chưa sẵn sàng tiếp
nhận nhiệm vụ được
giao.

HS được giao nhiệm
vụ cụ thể, được hướng
dẫn rõ ràng, hầu hết
HS hiểu và sẵn sàng
thực hiện các nhiệm vụ
GV giao.

Mức độ tích
cực, chủ động,
sáng tạo, hợp
tác của HS
trong việc thực
hiện các nhiệm
vụ học tập.

HS tích cực hợp tác
trong khi thực hiện


Mức độ tham
gia tích cực của
HS trong trình
bày, trao đổi,
thảo luận về kết
quả thực hiện
nhiệm vụ học
tập.

Đa số HS làm việc thụ
động một chiều (nghe
giảng và ghi chép
thuần túy).

Ít nhất có khoảng 50%
HS thể hiện hứng thú,
sự tự tin và tích cực
tương tác, trao đổi
thảo luận, hỗ trợ nhau
trong quá trình học
tập.

Hầu hết HS đều thể
hiện hứng thú, sự tự tin
và chủ động tích cực
tương tác, trao đổi thảo
luận và hỗ trợ nhau
trong quá trình học tập.


năng đáp ứng được
mục tiêu bài học, có
thái độ tích cực; có khả
năng trình bày được
kết quả học tập một
cách tự tin.

* Các bước phân tích hoạt động học của học sinh
Việc phân tích, rút kinh nghiệm 1 hoạt động học cụ thể trong giờ học được thực
hiện theo các bước sau:
Bước 1: Mô tả hành động của học sinh trong mỗi hoạt động học
Mô tả rõ ràng, chính xác những hành động mà học sinh/nhóm học sinh đã thực
hiện trong hoạt động học được đưa ra phân tích. Cụ thể là:
- Học sinh đã tiếp nhận nhiệm vụ học tập thế nào?
- Từng cá nhân học sinh đã làm gì (nghe, nói, đọc, viết) để thực hiện nhiệm vụ
học tập được giao? Chẳng hạn, học sinh đã nghe/đọc được gì, thể hiện qua việc học
sinh đã ghi được những gì vào vở học tập cá nhân?
- Học sinh đã trao đổi/thảo luận với bạn/nhóm bạn những gì, thể hiện thông qua
lời nói, cử chỉ thế nào?
- Sản phẩm học tập của học sinh/nhóm học sinh là gì?
- Học sinh đã chia sẻ/thảo luận về sản phẩm học tập thế nào? Học sinh/nhóm
học sinh nào báo cáo? Báo cáo bằng cách nào/như thế nào? Các học sinh/nhóm học
sinh khác trong lớp đã lắng nghe/thảo luận/ghi nhận báo cáo của bạn/nhóm bạn thế
nào?
- Giáo viên đã quan sát/giúp đỡ học sinh/nhóm học sinh trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ học tập được giao thế nào?
12


- Giáo viên đã tổ chức/điều khiển học sinh/nhóm học sinh chia sẻ/trao đổi/thảo

HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI

- Đề tài "Tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học trong trường
phổ thông ở môn Ngữ văn" phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo
định hướng phát triển năng lực học sinh hiện nay. Đề tài có tính cải tiến từ các giải
pháp đã có và đang triển khai, áp dụng tại đơn vị bước đầu đã mang lại hiệu quả.

13


- Việc tổ chức SHCM theo NCBH trong nhà trường ở môn Ngữ văn đã giúp
giáo viên trong tổ bộ môn có nhận thức đúng đắn về đổi mới phương pháp dạy học
theo định hướng năng lực học sinh. Các giáo viên đã áp dụng được các phương pháp,
kĩ thuật dạy học tích cực trong các tiết dạy mẫu và bước đầu mạnh dạn thực hiện
trong các tiết dạy hàng ngày.
- Việc tổ chức SHCM theo NCBH góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt
chuyên môn của tổ trong những năm học vừa qua, đồng thời đã giúp mỗi giáo viên tự
nâng cao trình độ tay nghề của mình.
- Với những giải pháp trong chuyên đề sáng kiến kinh nghiệm này, tôi cũng đã
tham gia tư vấn cho các tổ chuyên môn của bộ môn Ngữ văn ở các trường THPT Lê
Quý Đôn, THCS-THPT IPS (Biên Hòa), THCS-THPT Tân Phú (Tp. Hồ Chí Minh),
giúp các tổ chuyên môn thực hiện tốt hơn SHCM theo NCBH tại đơn vị.
ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
1. Sự đổi mới nội dung, phương pháp dạy học từ hướng tiếp cận nội dung sang
tiếp cận năng lực là một thay đổi cơ bản, mạnh mẽ của giáo dục Việt Nam, trong đó
SHCM theo NCBH là một hình thức SHCM đáp ứng yêu cầu đổi mới nói trên. Vì
vậy, để các tổ chuyên môn thực hiện tốt việc SHCM theo NCBH, các cấp quản lý
trong nhà trường phải là những người trước tiên cần thay đổi tư duy dạy học theo
hướng phát triển năng lực, nghĩa là phải có năng lực thích ứng với thay đổi trong bối
cảnh đổi mới giáo dục và nhà trường phổ thông hiện nay.


VI.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương
pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên
môn của trường trung học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng. (Số
5555/BGDĐT-GDTrH)
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu hội thảo – tập huấn đổi mới tổ chức và quản
lý hoạt động giáo dục ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực học
sinh, Hà Nội, 2016.
3. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
4. Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai, Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học
2015-2016. (Số 2102/SGDĐT-GDTrH)
5. Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai, Hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi
mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt
động chuyên môn của trường trung học qua mạng. (Số 2507/SGDĐT-GDTrH)

16


VII. PHỤ LỤC
Một số hình ảnh dự giờ tiết dạy minh họa môn Ngữ văn ở trường THPT Trần
Phú (Đồng Nai) và trường THCS-THPT Tân Phú (TP HCM):

Người dự ghi hình hoạt động học của HS

GV quan sát, hướng dẫn HS thực hiện nhiệm vụ học tập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status