SKKN tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học trong trường phổ thông ở bộ môn ngữ văn - Pdf 40

TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC
TRONG TRƢỜNG PHỔ THÔNG Ở BỘ MÔN NGỮ VĂN

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sinh hoạt chuyên môn (SHCM) là hoạt động thường xuyên của nhà trường và
là một trong những hình thức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm
cho giáo viên, hình thành các mối quan hệ đồng nghiệp tốt đẹp, xây dựng môi trường
học tập và tự học suốt đời. Từ đó, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng
giáo dục của nhà trường. Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục không thể không
chú trọng đến việc đổi mới SHCM.
SHCM theo nghiên cứu bài học (NCBH) là một nội dung quan trọng trong
SHCM ở trường phổ thông trong các năm học gần đây. Mục tiêu hướng tới của
SHCM theo NCBH thể hiện sự thay đổi căn bản trong đổi mới dạy học. Tất cả các
khâu soạn bài, lên lớp, dự giờ, đánh giá tiết dạy... đều có sự thay đổi về quy trình, nội
dung, phương pháp, cách thức tổ chức. Sự thay đổi cơ bản nhất là: thay vì nghiên cứu,
phân tích và đánh giá hoạt động dạy của giáo viên, SHCM theo NCBH tập trung
nghiên cứu, phân tích hoạt động học của học sinh. Từ đó, giáo viên điều chỉnh, thay
1


đổi nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh theo định
hướng phát triển năng lực người học. SHCM theo NCBH vì thế sẽ phát huy hiệu quả
tích cực, tạo môi trường tốt để giáo viên nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là
việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Chính từ sự thay đổi căn bản trên mà khi tổ chức SHCM theo NCBH, các tổ
chuyên môn ở các trường phổ thông đã và đang gặp phải những khó khăn nhất định
trong quá trình thực hiện. Cách thức tổ chức chưa bài bản, đúng quy trình; khi thực
hiện chưa đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc của SHCM theo NCBH; giáo viên chưa
nắm vững các kĩ thuật trong dự giờ và đánh giá tiết dạy theo hướng phân tích hoạt
động học tập của học sinh... Năm học 2015-2016, cùng với các tổ chuyên môn khác
trong trường THPT Trần Phú, tổ Văn đã thực hiện tổ chức SHCM theo NCBH và đạt


Đồng thời đưa ra những nhận xét về sự tác động của lời giảng, các câu hỏi, các nhiệm
vụ học tập mà giáo viên đưa ra,… có ảnh hưởng đến việc học của học sinh. Trên cơ
sở đó, giáo viên được chia sẻ, học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội
dung, phương pháp dạy học vào bài học hằng ngày một cách hiệu quả.
Triết lí theo NCBH là: đảm bảo cơ hội học tập cho từng học sinh; đảm bảo cơ
hội phát triển chuyên môn cho từng giáo viên; tạo môi trường làm việc dân chủ, thân
thiện, hướng tới sự phát triển cho các thành viên trong nhà trường; mỗi học sinh đến
trường đều phải được học và học được; giáo viên phải chấp nhận mọi em học sinh với
đặc điểm riêng của học sinh.
Nhằm hỗ trợ các trường phổ thông triển khai có hiệu quả việc đổi mới đồng bộ
phương pháp dạy học (PPDH) và kiểm tra, đánh giá (KTĐG) chất lượng giáo dục,
nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về phát triển kế hoạch giáo dục
nhà trường theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Bộ GD&ĐT có công văn số
5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014. Theo đó, các tổ/nhóm chuyên môn ở các
trường phổ thông chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện phân phối chương trình, xây
dựng các chuyên đề dạy học, biên soạn hệ thống câu hỏi/bài tập, thiết kế lại tiến trình

4


dạy học (gồm các hoạt động học của học sinh), tổ chức dạy học và dự giờ (theo các
chuyên đề dạy học đã xây dựng), phân tích, rút kinh nghiệm bài học.
Sở GD&ĐT Đồng Nai đã tổ chức tập huấn cho đội ngũ tổ trưởng chuyên môn
các trường THPT, Trung tâm GDTX trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai về các nội dung đổi
mới SHCM, đồng thời đã có các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện công văn
nói trên của Bộ GD&ĐT.
Công văn số 2507/SGDĐT-GDTrH ngày 27/10/2014 của Sở GD&ĐT Đồng
Nai về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và
kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học


trên lớp nhưng tổ chuyên môn chưa ngồi lại để nghiên cứu bài học rút ra những kết
luận: cần điều chỉnh nội dung đối với bài dạy, cần thay đổi phương pháp đối với đối
tượng học sinh như thế nào.
Bên cạnh đó là tình trạng là chưa hiểu rõ bản chất của SHCM theo NCBH nên
thực hiện chưa đúng nguyên tắc và quy trình. Vẫn xảy ra tình trạng chỉ một giáo viên
chọn bài, soạn bài và lên lớp mà không có sự tham gia của cả tổ/nhóm chuyên môn.
Sản phẩm bài dạy mang đậm tính cá nhân của người soạn. Vì vậy, khi dự giờ, các
giáo viên khác vẫn chỉ chăm chú vào việc ghi chép nội dung bài dạy, quan sát giáo
viên mà "quên" nhiệm vụ chính của người dự là quan sát hoạt động học của học sinh.
Đến khi góp ý bài dạy cũng chỉ tập trung nhận xét ưu điểm, hạn chế của người dạy
giống như tiết dự giờ thao giảng bình thường. Thậm chí, có tổ chuyên môn còn đề ra
"sáng kiến" sử dụng bài dạy minh họa làm tiết thao giảng để đánh giá, xếp loại giáo
viên.
Việc SHCM theo NCBH rõ ràng là còn khá "lạ" với nhiều giáo viên, nhiều tổ
chuyên môn. Trong khi đó, các đề tài nghiên cứu khoa học ứng dụng, sáng kiến kinh
nghiệm về SHCM theo NCBH chưa được quan tâm nhiều, chưa được phổ biến rộng
rãi trong toàn ngành để các trường học tập, áp dụng. Vì vậy, có thể năm học 2016-

7


2017, nghĩa là sau gần 3 năm công văn 5555/BGDĐT-GDTrH của Bộ GD&ĐT ra
đời, ở nhiều trường, nhiều tổ chuyên môn, SHCM theo NCBH vẫn chưa được thực
hiện một cách bài bản đến nơi đến chốn. Những giải pháp sau đây hy vọng phần nào
giúp các tổ chuyên môn (trong đó có bộ môn Ngữ văn) thực hiện hiệu quả hơn việc tổ
chức SHCM theo NCBH trong trường phổ thông.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1. Giải pháp 1: Nắm vững nguyên tắc của SHCM theo NCBH

Bước 1: Kiểm tra bài cũ

Hoạt động 1: Trải nghiệm/Khởi động

9


Bước 2: Bài mới

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức

Bước 3: Luyện tập

Hoạt động 3: Thực hành

Bước 4: Củng cố

Hoạt động 4: Vận dụng

Bước 5: Dặn dò

Hoạt động 5: Bổ sung

- Giáo viên và tổ/nhóm chuyên môn khi thiết kế bài dạy cần sáng tạo trong việc
sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, đảm bảo các phương pháp và
kĩ thuật dạy học phải phát huy được các năng lực học sinh bao gồm năng lực chung và
năng lực đặc thù của bộ môn Ngữ văn. Các phương pháp dạy học nêu vấn đề, thảo
luận nhóm…, các kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật hỏi chuyên
gia… thường phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh, từ đó giúp các em
hình thành được các năng lực theo mục tiêu bài dạy.

quan sát, ghi chép, chụp hình, quay phim… những hành vi, tâm lí, thái độ của học
sinh để có dữ liệu phân tích việc học tập của học sinh.
- Tác nghiệp của các giáo viên dự giờ đảm bảo không làm ảnh hưởng đến việc
học tập của học sinh.
1.5. Tổ chức nghiên cứu bài dạy
- Trên cơ sở thực tế bài dạy và kết quả quan sát, ghi chép, thu nhận của những
người dự, các giáo viên cùng nhau phân tích tìm ra những chỗ bài dạy chưa đáp ứng
được mục tiêu đề ra. Từ đó, đề xuất điều chỉnh nội dung bài dạy, thay thế phương
pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp.
- Không khí sinh hoạt phải thân thiện cởi mở, theo tinh thần trao đổi, chia sẻ,
tập trung vào phân tích các hoạt động của học sinh và tìm ra các nguyên nhân và giải
pháp khắc phục.
- Người chủ trì tôn trọng và lắng nghe tất cả ý kiến của giáo viên, không áp đặt
ý kiến của mình hoặc của một nhóm người. Mỗi giáo viên phải tự rút ra bài học và áp
dụng vào thực tế giảng dạy của mình.
2. Giải pháp 2: Xây dựng kế hoạch SHCM theo NCBH cụ thể, chi tiết

12


Về cơ bản, quy trình SHCM theo NCBH có 4 bước, gồm:
- Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu
- Tiến hành dạy minh họa và dự giờ
- Suy ngẫm, thảo luận về bài dạy minh họa (tổ chức nghiên cứu bài học)
- Áp dụng cho thực tiễn giảng dạy.
Thực tế quá trình thực hiện SHCM theo NCBH luôn phát sinh nhiều vấn đề
khiến cho việc tiến hành các bước NCBH gặp nhiều trở ngại, khó khăn. Do vậy, ở
mỗi bước, cần chú ý thực hiện đảm bảo đúng các nguyên tắc trong giải pháp 1 (đã
trình bày ở trên), đồng thời, phải có sự chuẩn bị thật kĩ càng để đảm bảo quá trình
thực hiện không gặp trở ngại từ thực tế của việc NCBH.

Tuần 3



Tuần 4

Chọn

các

nghiên

bài

cứu

sẽ Tổ

hiện/hoàn

phận

thành

phối hợp

Tiết

trong trưởng



Tháng 9

A

Văn Trước
12/9

Tuần 1



Tuần 2

Góp ý hoàn chỉnh Cả tổ

Trước

thiết kế bài dạy

19/9

Nguyễn
Thị B

14


Tuần 3


phòng
máy…

-GVCN
10a1
hướng
dẫn

HS

sắp

xếp

bàn ghế

Tháng 10

Tuần 1

Thảo luận, phân tích Cả tổ

Từ 13h30 Phụ trách

bài học

thứ
3/10

Hai phòng

vẫn gọi là "cháy giáo án").
Giải pháp để khắc phục tình trạng trên chính là kết hợp với dạy học theo chủ
đề. Một số tiết/bài trong phân phối chương trình sẽ được kết nối, hệ thống thành các
chủ đề dạy học. Chẳng hạn, ở Ngữ văn lớp 10: các tiết/bài về văn học dân gian trong
chương trình học kì I gồm: Khái quát văn học dân gian Việt Nam, Chiến thắng Mtao
Mxây, Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy, Tấm Cám, Tam đại con gà,
Nhưng nó phải bằng hai mày, Ôn tập văn học dân gian Việt Nam sẽ được xây dựng
thành Chủ đề Truyện dân gian Việt Nam, các tiết/bài trong chương trình học kì II
gồm: Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh, Lập dàn ý bài văn thuyết minh,
Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh, Phương pháp thuyết minh, Luyện
tập viết đoạn văn thuyết minh, Tóm tắt văn bản thuyết minh sẽ được xây dựng thành
Chủ đề Văn thuyết minh.

17


Khi đã xây dựng các chủ đề dạy học, các tổ/nhóm chuyên môn hoàn toàn chủ
động về việc phân chia số tiết cho mỗi đơn vị kiến thức bài học. Chính vì thế, trong
một tiết, giáo viên chỉ cần tổ chức thực hiện một hoặc hai hoạt động học nào đấy,
miễn sao các hoạt động này đáp ứng được các yêu cầu và mục tiêu của bài học là
nhằm hình thành và phát huy phẩm chất, năng lực học sinh. Bởi vì, "tiến trình dạy học
theo chủ đề được tổ chức thành các hoạt động học của học sinh để có thể thực hiện ở
trên lớp và ở nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực hiện một số hoạt động trong
tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng" (công văn
5555/BGDĐT-GDTrH của Bộ GD&ĐT).
4. Giải pháp 4: Nắm vững kĩ thuật trong dự giờ NCBH
4.1. Chọn vị trí quan sát
- Người dự giờ nên chọn vị trí có thể quan sát các hoạt động của học sinh một
cách tốt nhất. Thông thường, nếu bố trí bàn ghế học sinh trong lớp theo kiểu truyền
thống (tất cả đều hướng lên trên bàn giáo viên) thì người dự giờ có thể đứng/ngồi ở

trả lời câu hỏi.

- Nội dung của hoạt động: - Bài tập, sản phẩm…

- Nên…
- Có thể là…

19


nhiệm vụ, các câu hỏi…

Hoạt động 2: …

4.3. Quan sát khi dự giờ
- Người dự giờ tập trung vào việc học của học sinh là chủ yếu và trả lời được
các câu hỏi gợi ý sau:
 Thái độ của học sinh khi tham gia học thể hiện qua nét mặt, hành vi như thế
nào? (thích thú, tích cực, chán nản, uể oải…)
 Khả năng thực hiện các hoạt động học tập có vừa sức với học sinh không? Học
sinh có hiểu lời hướng dẫn của giáo viên không?
 Sự tương tác giữa các học sinh trong giờ học như thế nào?
 Hoạt động nào học sinh hứng thú hay không hứng thú? Vì sao?
 Hoạt động nào thu hút tất cả học sinh tham gia? Vì sao?
 Giáo viên làm thế nào để cuốn hút học sinh tham gia?
 Những học sinh nào chưa/không tham gia vào hoạt động?

20



đã học được thông qua hoạt động.
Căn cứ vào đó, chúng ta có thể phân tích các hoạt động của giáo viên và học
sinh theo 03 mức độ khác nhau:
- Mức độ 1: Đạt
- Mức độ 2: Khá
- Mức độ 3: Tốt

22


* Phân tích hoạt động của giáo viên theo 3 mức độ:

Mức độ
Tiêu chí
Mức 1

Mức 2

Mức 3

Mức độ sinh HS được giao nhiệm HS được giao nhiệm HS được giao nhiệm
động, hấp dẫn vụ
HS

học tập cụ thể. vụ học tập và được vụ cụ thể, được hướng

của Tuy nhiên, phương hướng dẫn cụ thể. dẫn rõ ràng, phương

phương pháp thức chuyển giao chưa Phương thức chuyển thức chuyển giao sinh
và hình thức lôi kéo được HS vào giao rõ ràng đa số HS động, lôi kéo được

phương thập thông tin phản cử chỉ, hành vi, nét

23


những

khó pháp dạy học kịp thời, hồi kịp thời từ phía mặt, thái độ, qua vở ghi

khăn của HS.

song còn hình thức; HS.

Sử

dụng

các bài,

câu

hỏi

phát

một số HS còn gặp thông tin thu thập vấn,…) GV kịp thời
khó khăn trong học được để điều chỉnh, điều chỉnh và giúp đỡ
tập GV chưa phát hiện uốn nắn HS kịp thời, HS còn khó khăn trong
được.


thân và đánh giá lẫn đánh giá lẫn nhau,

trình thảo luận

nhau, bước đầu có được uốn nắn kịp thời

của HS.

hiệu quả. Song mới những sai sót lệch lạc
chỉ tập trung vào một về kiến thức, kĩ năng,
số HS.

thái độ và hành vi theo
hướng tích cực: HS
cảm nhận không bị áp
đặt, được tôn trọng và
cảm thấy mình có giá
trị.

* Phân tích hoạt động học của học sinh theo 3 mức độ:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status