PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
1.1. Do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc đổi mới
toàn diện trong giáo dục là xu thế tất yếu trong thời đại mới
Giáo dục nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp
cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học. Công văn 791 ngày 25/6/2013
của Bộ GD-ĐT đã cho phép GV có thể cấu trúc, sắp xếp lại nội dung dạy học của
từng môn học trong chương trình hiện hành theo định hướng phát triển năng lực HS
thành những bài học mới, có thể chuyển nội dung dạy học thành nội dung các hoạt
động giáo dục; xây dựng kế hoạch dạy học, phân phối chương trình, hoạt động giáo
dục phù hợp với đối tượng HS và điều kiện thực tế nhà trường
Bộ GD – ĐT cũng bắt đầu triển khai các nghiên cứu xây dựng chương trình
giáo dục phổ thông mới, sẽ triển khai sau năm 2015.
1.2. Vai trò của xây dựng chủ đề trong dạy học
Dạy học theo chủ đề là một mô hình học tập mới, thay thế cho lớp học truyền
thống (với đặc trưng bài học ngắn, cô lập, GV giữ vai trò làm trung tâm). Theo đó việc
học tập được chú trọng đến nội dung học tập có tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh
vực (liên môn) và nội dung tích hợp với những vấn đề gắn liền với thực tiễn.
Việc xây dựng chủ đề học tập là hoàn toàn phù hợp với định hướng dạy học
hiện đại ngày nay.
1.3. Do thực trạng dạy và học của trường phổ thông hiện nay
Phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều GV ở trường phổ thông hiện nay vẫn
là truyền thụ kiến thức một chiều. Dạy học vẫn còn nặng truyền thụ kiến thức lý
thuyết. HS học tập thiên về ghi nhớ, ít vận dụng kiến thức
Các chủ đề học tập sẽ đặt người học vào những tình huống thực tế, HS phải
trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm vụ đặt ra theo cách nghĩ
của mình, tự lực tìm kiếm, khám phá chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức
đã được GV sắp xếp. Người dạy sẽ giảm thiểu việc truyền đạt tri thức, hướng tới việc
hướng dẫn các thao tác thực hành, thiết kế, tổ chức, và triển khai các hoạt động học
tập của HS theo các mục tiêu của chủ đề.
Quá trình dạy học Sinh học 11
4. Giới hạn nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung xác định quy trình xây
dựng chủ đề học tập, quy trình dạy học theo chủ đề và tổ chức thực nghiệm sư phạm
một số nội dung trong chủ đề đã xây dựng.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và tổ chức dạy được các chủ đề dạy học trong chương trình Sinh
học 11 theo hướng phát triển các kiến thức, kỹ năng liên môn của học sinh thì sẽ góp
phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về chủ đề học tập
- Nghiên cứu thực trạng xây dựng và tổ chức các hoạt động học tập theo chủ đề
trong dạy học Sinh học ở một số trường phổ thông
- Xác định quy trình xây dựng chủ đề trong chương trình Sinh học11-THPT
- Xác định quy trình tổ chức dạy học theo chủ đề
- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng dạy học theo
chủ đề
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 phương pháp nghiên cứu lý thuyết
7.2 Phương pháp điều tra cơ bản
7.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia
7.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7.6 Xử lý số liệu bằng thống kê toán học
8. Những đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng chủ đề học tập nói
chung và xây dựng chủ đề học tập trong chương trình Sinh học 11 – THPT nói riêng.
2
- Xác định được quy trình xây dựng chủ đề học tập chương trình Sinh học 11 THPT
triển năng lực HS trên phạm vi cả nước.
Bên cạnh đó, Bộ GD – ĐT đã tổ chức cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp
dành cho GV trung học năm 2013 – 2014 nhằm khuyến khích GV sáng tạo, dạy học
theo chủ đề, chủ điểm có nội dung liên quan đến nhiều môn học và gắn với thực tiễn
cuộc sống, góp phần đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra
đánh giá kết quả học tập.
1.2. Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1. Năng lực của học sinh
1.2.1.1. Khái niệm năng lực
Đã có nhiều tác giả định nghĩa khái niệm “năng lực”. Nhưng cho dù cách phát
biểu có khác nhau nhưng các định nghĩa trên đều cho thấy bản chất của năng lực là
3
khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lý các kiến thức, kỹ
năng và các thuộc tính tâm lý để thực hiện thành công một loại công việc trong bối
cảnh nhất định. Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kỹ năng
trong một tình huống có ý nghĩa.
Giáo dục nước ta hiện nay đang hướng tới hình thành và phát triển năng lực
người học. Những năng lực cần hình thành ở học sinh bao gồm năng lực chung và
năng lực chuyên biệt.
Năng lực chung là những năng lực cơ bản thiết yếu mà bất kỳ người nào cũng
cần có làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và nghề ngiệp
như năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ, năng lực vận động…
các năng lực này hình thành dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình
giáo dục và trải nghiệm cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động
khác nhau.
Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ
sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, cần thiết cho những hoạt động
chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như toán học, âm nhạc,
1.2.2.1.
1.2.2.2.
Các đặc trưng cơ bản của dạy học theo chủ đề
Thế nào là dạy học theo chủ đề?
Dạy học theo chủ đề đang là một hướng tiếp cận mới trong giáo dục phổ thông
hiện nay. Đây là một mô hình mới cho hoạt động lớp học, chú trọng những nội dung
học tập có tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực, lấy người học làm trung tâm
và nội dung tích hợp với những vấn đề gắn liền với thực tiễn.
Dạy học theo chủ đề cung cấp cơ hội để HS tiếp cận với nhiều lĩnh vực khoa
học thay vì từng môn học cô lập. Trong cùng một thời điểm HS kết hợp và vận dụng
được nhiều nội dung kiến thức khác nhau trong quá trình học tập. Thêm vào đó, HS
sẽ bị cuốn hút vào việc giải quyết những vấn đề thực tế, được khuyến khích khám
phá làm tăng sự hứng thú, giúp HS có ý thức tự lập và tự điều khiển việc học của
mình.
Dạy học theo chủ đề xây dựng trên cơ sở lấy người học làm trung tâm, nhấn
mạnh vai trò của người học với tư cách là chủ thể của quá trình nhận thức. GV giữ
vai trò là người hướng dẫn, định hướng cho HS trong quá trình lĩnh hội tri thức để
người học có thể tự hoạt động cá nhân, tự nhận thức, tự phát triển, tự đánh giá và
hoàn thiện. Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành
môi trường giao tiếp thầy – thầy và trò – trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh
nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.
Những đặc trưng cơ bản của dạy học theo chủ đề
Về mục tiêu dạy học:Mục tiêu của dạy học theo chủ đề là hướng đến hình
thành và phát triển các kỹ năng, năng lực cho HS trên cơ sở cung cấp cho người học
hệ thống kiến thức tổng quát, hệ thống và có sự tích hợp cao. Kiến thức là công cụ,
phương tiện để hình thành năng lực.
Về nội dung: Nội dung các kiến thức cần truyền đạt cho HS là hệ thống các
kiến thức cơ bản, phổ thông, hiện đại, có thể liên quan đến nhiều ngành khoa học
-
các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành…thông qua tổ chức các hoạt động
học tập dưới sự hướng dẫn của GV.
Về hình thức tổ chức dạy học: Dạy học theo chủ đề tạo điều kiện để GV có
thể sử dụng đa dạng các hình thức tổ chức học tập trong đó chú trọng các hình thức
hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, các hoạt động trải nghiệm sáng
tạo, đẩy mạng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học
Khi được học tập theo mô hình này, HS có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm,
tìm kiếm, thu thập, tổng hợp, xử lý thông tin để giải quyết những vấn đề xác thực, có
hệ thống và liên quan đến nhiều môn khoa học khác nhau.
Về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS: Tiêu chí đánh giá dựa vào
năng lực của HS, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng
vận dụng trong các tình huống thực tiễn. Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá và
đánh giá lẫn nhau của HS
Ưu điểm, hạn chế của dạy học theo chủ đề
Thiết lập được mối quan hệ giữa các khái niệm trong cùng một môn học và giữa các
môn học, đảm bảo cho mỗi HS có khả năng huy động có hiệu quả nhưng kiến thức và
năng lực của mình để giải quyết những tình huống phức hợp.
Tránh được các nội dung kiến thức trùng lặp khi tổ chức dạy học theo chủ đề liên
môn. Gắn kết được nội dung và sự làm việc của các GV bộ môn liên quan trong một
chủ đề.
Quá trình học tập thực sự có ý nghĩa vì nó gắn với thực tế, HS được rèn luyện kỹ
năng hoạt động, kỹ năng sống, kỹ năng hợp tác, giao tiếp, phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo. Người học thực sự là trung tâm, là chủ thể của quá trình nhận thức.
HS cảm thấy hứng thú trong học tập.
GV là người định hướng, hướng dẫn HS lĩnh hội tri thức. Người dạy không còn phải
thuyết trình, giảng giải quá nhiều, thay vào đó người dạy có thể chủ động sáng tạo
thay đổi nội dung, bố cục chương trình, linh hoạt trong việc sử dụng các phương
và trình độ nhận thức của HS.
So sánh đặc điểm của dạy học truyền thống và dạy học theo chủ đề
Dù dạy học theo chủ đề là hướng tiếp cận mới trong dạy học, nhưng so với dạy
học truyền thống vẫn có nét tương đồng. Dạy học theo chủ đề và dạy học truyền
thống đều sử dụng chung một hệ thống phương pháp dạy học. Về phương tiện, hình
thức tổ chức dạy học cũng không có sự khác biệt về bản chất. Công cụ và cách thức
kiểm tra đánh giá cũng giống nhau.
Sự khác nhau giữa dạy học theo chủ đề và dạy học truyền thống được mô tả
trong bảng sau:
Tiêu chí
Dạy học truyền thống
Chú trọng hình thành ở HS hệ
thống các kiến thức cơ bản,
Mục tiêu phổ thông.
giáo dục
Nội dung dạy học được quy
định chi tiết trong chương
trình.
Việc lựa chọn nội dung dựa
Nội dung vào các khoa học chuyên môn,
giáo dục
không gắn với các tình huống
thực tiễn.
Chủ yếu sử dụng các phương
pháp dạy học truyền thống:
thuyết trình, vấn đáp…
Phương
pháp dạy GV là người truyền thụ tri
thức, là trung tâm của quá
tổ chức dạy Dạy theo từng bài riêng rẽ
học
theo đúng phân phối chương
trình và thứ tự các bài trong
sách giáo khoa.
Tiêu chí đánh giá được xây
Kiểm tra,
dựng chủ yếu dựa trên sự ghi
đánh
giá
nhớ và tái hiện nội dung đã
kết quả học
học.
tập
1.3.
nghiệm, hoạt động trải nghiệm
sáng tạo. Sử dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong
dạy học.
Dạy theo chủ đề, tuân thủ tương
đối theo phân phối chương trình
và trình tự bài trong sách giáo
khoa. Nội dung có trong nhiều bài
sách giáo khoa và có thể được cấu
trúc, sắp xếp lại cho phù hợp.
Tiêu chí đánh giá dựa vào năng
lực hình thành ở HS, có tính đến
sự tiến bộ trong quá trình học tập.
đang trong thập kỷ mà bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp. Trước
thách thức đó, giáo dục nước ta đang tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện theo
8
1.3.2.
•
hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Đặc
biệt, thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định
hướng phát triển năng lực.
Như vậy, sự đổi mới về cách tiếp cận nội dung chương trình kéo theo sự đổi
mới phương pháp dạy học các môn khoa học. Từ phương pháp dạy học truyền thống
- với vị trí trung tâm tập trung vào người thầy và nội dung các môn khoa học có tính
độc lập tường đối - đã chuyển sang một cách tiếp cận dạy học mới mà trung tâm
chuyển sang HS và nội dung học tập được tích hợp trong các chủ đề, dự án học tập.
Thực trạng xây dựng và tổ chức các hoạt động học tập theo chủ đề chương trình
Sinh học THPT
1.3.2.1. Thực trạng xây dựng và tổ chức dạy học theo chủ đề chương trình Sinh học THPT
Về vấn đề 1: Nhận thức của GV về chủ đề và xây dựng chủ đề trong dạy học Sinh
học ở trường THPT được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.1. Nhận thức của GV về chủ đề và xây dựng chủ đề trong dạy học Sinh
học ở trường THPT
ST
T
1
2
9
Số
lượng
Tỷ lệ
23
77
23%
77%
53
35
12
53%
35%
12%
1
5
62
32
1%
5%
62%
32%
Thầy (cô) có nắm được các bước xây dựng chủ đề học
tập không?
72
72
Có
28
28
6
Không
Thầy (cô) lựa chọn chủ đề để xây dựng dựa trên:
Dựa vào các chương, phần trong sách giáo khoa
3
3%
Dựa trên kinh nghiệm cá nhân
1
1%
7
Dựa vào mức độ nhận thức của HS và điều kiện nhà trường
2
2%
Dựa vào các chương, phần trong sách giáo khoa và dựa vào
76
76%
mức độ nhận thức của HS và điều kiện nhà trường.
Tất cả các phương án trên
18
18%
Qua các số liệu ở bảng 1.1, nhận thấy đa số GV đã được tập huấn về xây dựng
và dạy học theo chủ đề. Tỷ lệ GV xác định hình thành và phát triển các kỹ năng, năng
lực giải quyết các vấn đề thực tế là mục tiêu của dạy học theo chủ đề cũng khá cao
28
Thầy (cô) có thường xuyên liên kết với các giáo viên
10
Tỷ lệ
72%
28%
2
3
4
-
-
bộ môn khác trong quá trình tổ chức dạy học theo chủ
đề không?
Rất thường xuyên
Thường xuyên
Thỉnh thoàng
Chưa bao giờ
Thầy (cô) đánh giá thế nào về sự hứng thú của HS đối
với bộ môn khi tổ chức dạy học theo chủ đề?
Rất hứng thú
Khá hứng thú
23
27
89
23%
27%
89%
12
12%
5
12
5%
12%
Qua bảng 1.2 nhận thấy, đa số GV đã nắm được các nguyên tắc tổ chức hoạt
động và đều thấy được sự hứng thú của HS khi học theo chủ đề. Tuy nhiên khi được
hỏi về những khó khăn khi thầy (cô) thực hiện dạy học theo chủ đề, GV đưa ra rất
nhiều những lý do khác nhau. Phần lớn GV đều cảm thấy khó khăn trong việc sắp
xếp, bố trí nội dung chủ đề sao cho phù hợp với thời gian lên lớp. Ngoài ra, các GV
còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện cơ sở vật chất nhà trường, do sự chỉ đạo của ban
giám hiệu khi tổ chức dạy các chủ đề liên môn, do chưa nắm được vai trò, bản chất
cũng như các nguyên tắc xây dựng, tổ chức dạy học theo chủ đề….Vì vậy, tỷ lệ GV
thường xuyên tổ chức dạy học theo chủ đề là rất thấp.
1.3.2.2. Thực trạng học tập theo chủ đề của học sinh THPT
Chúng tôi thiết kế và sử dụng bộ câu hỏi điều tra gồm 4 câu (xem phụ lục số2)
viên khác trong việc lĩnh hội tri thức thay vì thuyết trình – đọc, chép.
1.3.2.3. Phân tích nguyên nhân của thực trạng
Nguyên nhân khách quan
Xây dựng và tổ chức các hoạt động học tập theo chủ đề là một trong những quan
điểm mới triển khai ở Việt Nam và mới đối với hầu hết GV các trường THPT. GV ở
nhiều nơi chưa được tập huấn về dạy học theo chủ đề nên chưa hiểu rõ vai trò, bản
chất cũng như quy trình xây dựng, thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập theo chủ
đề.
Dạy học theo chủ đề mới được thí điểm tại một số trường THPT trong cả nước, hầu
hết các trường khác vẫn duy trì mô hình dạy học theo đúng phân phối chương trình
GV lên lớp dạy đúng số bài, tiết theo quy định. Trong phạm vi 1 tiết học, không đủ
thời gian cho đầy đủ các hoạt động học của học sinh theo tiến trình sư phạm của một
phương pháp dạy học tích cực dẫn đến nếu có sử dụng phương pháp dạy học tích cực
đó thì cũng mang tính hình thức, đôi khi còn máy móc dẫn đến kém hiệu quả.
Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường cũng là một trong những nguyên nhân khiến
dạy học theo chủ đề khó có thể triển khai trên phạm vi rộng.
Nguyên nhân chủ quan.
Về phía GV:
Do GV chưa nắm được vai trò, bản chất cũng như nguyên tắc, quy trình xây dựng và
tổ chức các hoạt động học tập theo chủ đề.
Sự hiểu biết của GV về các phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học tích cực còn hạn
chế, chủ yếu mới dừng lại ở mức độ "biết" một cách rời rạc, thiếu tính hệ thống.
Về phía HS:
Khả năng vận dụng của HS còn yếu. Các em còn nặng về học thuộc những gì ghi
trong sách giáo khoa
HS đã quen với những phương pháp dạy học truyền thống nên khi tiếp cận với các
phương pháp, biện pháp dạy học mới HS thường lúng túng, chất lượng lĩnh hội và
ứng dụng tri thức vào thực tế là chưa cao.
1.3.3. Đặc điểm cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 11 – THPT
Chương trình Sinh học 11 đề cập đến Sinh học cơ thể đa bào và bao gồm 4
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nội dung chương I tập trung vào việc nghiên cứu tổng quan lịch sử nghiên cứu
về quá trình xây dựng và dạy học theo chủ đề trên thế giới và Việt Nam, hệ thống hóa
cơ sở lý luận về tiếp cận dạy học theo chủ đề và thực trạng xây dựng và dạy học theo
chủ đề chương trình Sinh học 11 – THPT, đặt cơ sở khoa học và phương pháp luận
cho việc xác định nguyên tắc, quy trình xây dựng và dạy học theo chủ đề cũng như
các biện pháp dạy học tích cực trong chủ đề góp phần nâng cao chất lượng dạy học
bộ môn.
Để làm được điều đó, luận văn đã tìm hiểu và phân tích:
Tìm hiểu tình hình xây dựng và dạy học theo chủ đề ở một số nước trên thế giới và
Việt Nam.
Phân tích bản chất của năng lực và những năng lực cần hình thành ở HS thế kỷ XXI
làm cơ sở cho việc xây dựng các chủ đề học tập để phát triển các năng lực cần thiết
cho người học,
Phân tích đặc điểm cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 11 – THPT để thấy rõ
kiến thức cốt lõi của chương trình, các nội dung, vấn đề được tích hợp trong chương
trình định hướng cho việc xây dựng các chủ đề dạy học phù hợp.
Phân tích thực trạng xây dựng và tổ chức các hoạt động học tập theo chủ đề ở trường
THPT nhằm xác định những nguyên nhân, hạn chế trong dạy và học theo chủ đề hiện
nay.
Tất cả các nghiên cứu về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trên là căn cứ để xác
định nguyên tắc, tiếp cận và quy trình xây dựng chủ đề cũng như quy trình, phương
pháp tổ chức các hoạt động học tập theo chủ đề.
13
CHƯƠNG 2
XÂY DỰNG CHỦ ĐỀ ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌCSINH HỌC 11 – THPT
Khi xây dựng chủ đề cần chú ý đến tính vừa sức của chủ đề, phải cân đối giữa
khối lượng và mức độ kiến thức sao cho phù hợp với từng đối tượng HS và điều kiện
kinh tế của địa phương, đặc biệt là đối với những HS thuộc các vùng miền núi, cơ sở
vật chất khó khăn.
e. Nội dung chủ đề gắn với thực tiễn, hấp dẫn người học
Nội dung chủ đề cần gắn liền với thực tiễn, đời sống tạo điều kiện để HS rèn
luyện, phát huy năng lực của bản thân trong việc tìm tòi, khám phá tri thức, ứng dụng
tri thức vào giải quyết các vấn đề thực tế. Bên cạnh đó, những nội dung học tập gắn
liền với thực tiễn sẽ hấp dẫn, cuốn hút HS hơn, người học sẽ tích cực, chủ động tham
gia vào các hoạt động học tập hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
2.1.2 Quy trình xây dựng chủ đề học tập chương trình Sinh học 11-THPT
Với quan niệm và nguyên tắc xây dựng chủ đề như trên, tôi đề xuất quy trình
xây dựng chủ đề dạy học gồm 4 bước:
14
Bước 1
Phân tích cấu trúc nội dung sách giáo khoa Sinh học 11
Bước 2
Căn cứ vào các nguyên tắc xây dựng, cấu trúc nội dug sách giáo khoa, đề
xuất các chủ đề
Bước 3
Xác định các kiến thức cần thiết để đưa vào chủ đề
dựa trên các mục tiêu đã đề ra, phải có tính gắn kết với nhau, đảm bảo tính phổ
thông, cơ bản và mang tính đặc thù của môn học.
GV cần phân tích nội dung chương trình, chuẩn kiến thức, kỹ năng, lựa chọn
nội dung phù hợp từ các bài, tiết trong sách giáo khoa của môn học và các tài liệu liên
quan để xác định các nội dung kiến thức có liên quan với nhau, các nội dung gắn với
thực tế, có tính phổ biến, gắn liền với kinh nghiệm sống, phù hợp với trình độ nhận
15
thức của HS từ đó xây dựng thành một vấn đề chung tạo thành một chủ đề. Nếu là
chủ đề liên môn cần rà soát nội dung các môn học, tìm ra những nội dung chung, có
liên quan được trình bày riêng biệt ở mỗi bộ môn.
Người dạy cũng cần đọc thêm các sách chuyên ngành, các tài liệu tham khảo
để đảm bảo tính chính xác, khoa học và sự phong phú của chủ đề.
Bước 4: Đánh giá chuẩn kiến thức, kỹ năng của chủ đề
GV tiến hành rà soát xem kiến thức cần dạy, kỹ năng cần rèn luyện thông qua
chủ đề là những kiến thức, kỹ năng nào. Đồng thời GV căn cứ vào chuẩn kiến thức,
kỹ năng của môn học, vào cấu trúc các năng lực chung và năng lực chuyên biệt để
xác định các năng lực của HS (đặc biệt là các năng lực xuyên môn) có thể được hình
thành và phát triển thông qua chủ đề.
2.1.3. Ví dụ xây dựng chủ đề học tập chương trình Sinh học 11 – THPT
Sau khi phân tích nội dung sách giáo khoa Sinh học 11 đồng thời dựa trên các
nguyên tắc xây dựng chủ đề, chuẩn kiến thức, kỹ năng, tôi cấu trúc lại nội dung và
thứ tự các bài trong chương trình và đề xuất 3 chủ đề lớn:
Chủ đề 1: Bạn sinh ra và lớn lên như thế nào?
Chủ đề 2: Sinh lý thực vật và phát triển sản xuất nông nghiệp.
Chủ đề 3: Sinh học cơ thế động vật.
2.2. Quy trình tổ chức dạy học theo chủ đề chương trình Sinh học 11 – THPT
2.2.1. Nguyên tắc tổ chức dạy học theo chủ đề
Tổ chức dạy học và đánh giá, rút kinh nghiệm
-
-
-
Bước 1: Phân tích đối tượng người học, điều kiện nhà trường, lựa chọn phương
pháp, phương tiện dạy học phù hợp
Cần phân tích đối tượng người học và điều kiện trang thiết bị của nhà trường
để lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với mức độ nhận thức của
HS và điều kiện nhà trường cho phép.
Bước 2: Xây dựng kế hoạch hoạt động dạy học của chủ đề
Bước này thể hiện rõ việc tổ chức dạy học theo chủ đề. Để thực hiện được việc
này cần làm rõ: Chủ đề có những hoạt động nào, mỗi hoạt động ứng với nội dung nào
của chủ đề, từng hoạt động đó thực hiện vai trò gì trong việc đạt được mục tiêu?
Có thể chia hoạt động theo vấn đề cần giải quyết hoặc theo cấu trúc nội dung
của chủ đề. Mỗi nội dung nhỏ hoặc một vấn đề cần giải quyết của chủ đề có thể được
xây dựng thành một hoặc vài hoạt động dạy học khác nhau. Ứng với mỗi hoạt động,
GV cần thực hiện những công việc sau:
Xác định mục tiêu hoạt động.
Xác định phương pháp dạy học, chuẩn bị phương tiện, thiết bị dạy học cho hoạt động.
Dự kiến nguồn nhân, vật lực để tổ chức hoạt động.
Lập kế hoạch tổ chức hoạt động dạy học: Có nhiều cách thức tổ chức học tập có thể
áp dụng như hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, hoạt động theo trạm, thực hiện dự
án… Hiểu một cách đơn giản, đây chính là quá trình xây dựng giáo án dạy học chủ
đề đã xây dựng. Việc phối hợp giữa giáo viên các bộ môn (nếu có) cũng cần được đề
ra một cách chi tiết.
Dự kiến dung lượng thời gian cho mỗi hoạt động.
THPT nói riêng.
Trên cơ sở các nguyên tắc đã đề ra tôi đề xuất quy trình xây dựng chủ đề (gồm 4
bước) và quy trình tổ chức dạy học theo chủ đề (gồm 3 bước) làm căn cứ để xây dựng
và tổ chức dạy học theo chủ đề chương trình Sinh học 11 – THPT.
Dựa trên những quy trình đã đề xuất, luận văn đã đưa ra ví dụ xây dựng và tổ chức
hoạt động dạy học theo chủ đề chương trình Sinh học 11 – THPT.
CHƯƠNG 3
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
-
-
-
3.1. Mục đích thực nghiệm
Triển khai trong thực tiễn dạy học để kiếm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoa học
mà luận văn đã nêu ra: Nếu xây dựng và tổ chức dạy được các chủ đề dạy học
chương trình Sinh học 11 theo hướng phát triển các kiến thức, kỹ năng liên môn của
học sinh thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Phân tích định tính và định lượng để đánh giá tính khả thi của việc xây dựng và tổ
chức dạy học theo chủ đề.
3.2.Nội dung thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành soạn giảng nội dung thứ nhất của chủ đề “Bạn sinh ra và
lớn lên như thế nào?” đó là “Cơ thể bạn được hình thành như thế nào?”. Nội dung
lý thuyết của phần này nằm trong các bài:
Bài 45: Sinh sản hữu tính ở ĐV. Mục II: Quá trình sinh sản hữu tính ở ĐV
Bài 46: Cơ chế điều hòa sinh sản
Bải 47: Điều khiển sinh sản ở ĐV và sinh đẻ có kế hoạch ở người. Mục II:
Sinh đẻ có kế hoạch ở người.
Đối thuyết H1: “Có sự khác nhau giữa kết quả học tập của các lớp thực
nghiệm và đối chứng”
Kết quả bài kiểm tra số 1
Bảng 3.1: Bảng phân phối tần suất kết quả bài kiểm tra số 1
Lớp
Số bài
% số HS đạt điểm xi
1
2
TN
127
0
0
ĐC
125
0
1.6
3
Bảng 3.3: Bảng kiểm định
10
3.94 1.57
0.8
0
X theo tiêu chuẩn U
z-Test: Two Sample for Means
Mean
Điểm trung bình
Known Variance
Phương sai
Observations
Số quan sát
Z
Trị số tuyệt đối của z
=U
z Critical two – tail
Trị số z tiêu chuẩn
XS 0.05 hai chiều
19
9
TN
% số HS đạt điểm xi
Số
bài
1
2
3
TN
127
0
0
0
ĐC
125
0
0
1.6
0
z-Test: Two Sample for Means
TN
ĐC
Mean
Điểm trung bình
6.8
5.4
Known Variance
Phương sai
1.63
2.1
Observations
•
Kết quả bài kiểm tra số 3
Bảng 3.7: Bảng phân phối tần suất kết quả bài kiểm tra số 3
Lớp
% số HS đạt điểm xi
Số
bài
1
2
3
4
TN
127
0
0
0
0
5
6
14.17 16.54
Bảng 3.9: Bảng kiểm định
7
8
9
10
17.32 8.66 3.94
7.20
2.40
0
X theo tiêu chuẩn U
z-Test: Two Sample for Means
Mean
Điểm trung bình
-
-
-
Nhận xét: Đường TN phân bố gần đối xứng quanh giá trị mod = 7, đường ĐC
phân bố gần đối xứng quanh giá trị mod = 5. Số HS đạt điểm dưới giá trị mod = 7 của
khối TN luôn ít hơn khối ĐC, và trên điểm 7 luôn nhiều hơn so với ĐC. Số HS đạt
điểm 7 trở lên là 69.29% trong khi đó ở khối lớp ĐC chỉ đạt 24%. Đường hội tụ tiến
ở khối TN luôn nằm bên phải và cao hơn so với ĐC.
Từ những kết quả trên, tôi rút ra một số nhận xét như sau:
Điểm trung bình của khối lớp TN ở các bài kiểm tra ( 6.6, 6.8, 7.01) cao hơn khối đối
chứng (5.2, 5.4, 5.52) chứng tỏ khối lớp TN đạt kết quả cao hơn so với ĐC
Kết quả phân tích số liệu ở bảng 3.3, 3.6, 3.9 cho thấy trị số tuyệt đối U luôn lớn hơn
trị số tiêu chuẩn (với Z tiêu chuẩn = 1.959, với mức ý nghĩa α = 0.05). Như vậy sự
khác biệt của X TN và X ĐC là có ý nghĩa. Bác bỏ giả thuyết H 0, chấp nhận đối thuyết
H1: “ Có sự khác nhau giữa kết quả học tập của các lớp TN và ĐC”
Các đường hội tụ tiến ở khối TN luôn nằm bên phải và cao hơn khối ĐC, chứng tỏ số
lượng HS đạt điểm cao ở khối TN nhiều hơn hẳn khối ĐC.
Kết quả xử lý bằng thống kê xác suất ở khối TN và ĐC cho thấy hiệu quả của
việc tiếp cận dạy học theo chủ đề trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
3.4.2. Phân tích định tính
Qua thực tế quá trình thực nghiệm và qua phân tích bài kiểm tra thu được từ 2
nhóm TN và ĐC, theo dõi tinh thần, thái độ học tập của HS, tôi đi đến một số nhận
định sau;
Về mức độ hứng thú và thái độ học tập: Khi học tập trên lớp, HS lớp TN thể hiện
thái độ hứng thú hơn với các nội dung Sinh học cũng như những vấn đề thực tế có
liên quan. Các em sôi nổi thảo luận, đưa ra ý kiến khi có một vấn đề được đưa ra, có
Kết luận
Đề tài đã phân tích cơ sở lý luận của việc xây dựng và dạy học theo chủ đề trong dạy
1.2.
học Sinh học 11 – THPT, xác định được các đặc trưng cơ bản của dạy học theo chủ
đề.
Điều tra được thực trạng dạy học môn Sinh học theo hướng tiếp cận dạy học theo chủ
1.3.
đề ở GV và HS một số trường cho thấy rằng: việc xây dựng và tổ chức dạy học theo
chủ đề chưa được GV sử dụng nhiều.
Phân tích đặc điểm cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 11 – THPT cho thấy sự
1.4.
phù hợp của nội dung chương trình với tiếp cận dạy học theo chủ đề.
Luận văn đã đưa ra một số nguyên tắc và tiếp cận khi xây dựng chủ đề. Từ đó xác
1.5.
định được quy trình xây dựng chủ đề gồm 4 bước: Bước 1: Phân tích cấu trúc nội
dung SGK Sinh học 11. Bước 2: Đề xuất các chủ đề. Bước 3: Xác định các kiến thức
cần thiết để đưa vào chủ đề. Bước 4: Đánh giá chuẩn kiến thức, kỹ năng của chủ đề.
Trên cơ sở đó, tôi xây dựng được 3 chủ đề học tập trong chương trình Sinh học 11 –
THPT.
Từ các chủ đề đã được xây dựng, luận văn đưa ra nguyên tắc tổ chức dạy học theo
1.