Lời nói đầu
Kinh tế nước ta đang trong thời kỳ phát triển rất cao.Đặc biệt, từ khi nước ta
chính thức tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới, sự phát triển đó mang lại cho
chúng ta nhiều kết quả tuyệt vời như tốc độ tăng GDP cao, nhu cầu đời sống của đại
bộ phận người dân được nâng lên.... Tuy nhiên, những vấn đề tiêu cực mà nó mang
lại cũng đang đặt chúng ta trước những thách thức khó khăn lớn mà tiêu biểu trong
đó là vấn đề thất nghiệp gia tăng. Trước tình hình đó, em đã viết đề án này để có thể
đưa ra 1 cái nhìn khách quan về "Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000
đến nay". Đề án này gồm có 3 phần chính sau:
Phần đầu: Cơ sở lý luận về vấn đề thất nghiệp
Phần hai: Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam
Phần ba: Định hướng giải quyết việc làm trong thời gian tới
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
Mục lục
Lời nói đầu....................................................................................................2
Chương I: Cơ sở lý luận...............................................................................3
I. Khái niệm về thất nghiệp....................................................................3
II. Các hình thức thất nghiệp...................................................................3
III. Đối tượng thất nghiệp........................................................................5
IV. Mối quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát........................................5
V. Các vấn đề khác có liên quan.............................................................8
1. Luật về tiền lương tối thiểu.......................................................8
2. Công đoàn và thương lượng tập thể..........................................8
3. Lý thuyết về tiền lương hiệu quả...............................................8
4. Các vấn đề xã hội khác..............................................................8
Chương II: Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam...........................................9
I. Tổng quan về thất nghiệp và việc làm..................................................9
1. Lực lượng lao động...................................................................9
Nguyên nhân: Trong thị trường lao động luôn có một dòng người lao
động có/mất việc làm, gia nhập/thoát ra khỏi lực lượng lao động.
Đối tượng: những người tốt nghiệp đại học, người làm việc gia đình,
những người rời bỏ/mất công việc.
Giải pháp: Cần tìm việc tư nhân, quảng cáo của các doanh nghiệp cũng
như người tìm việc, và các trung tâm tìm việc tư nhân,
Chính phủ cần mở các trung tâm dịch vụ việc làm, dạy nghề của chính phủ, và
cố gắng giảm việc tăng thêm những khoản Bảo hiểm Thất nghiệp.
Thất nghiệp cơ cấu: là sự mất việc kéo dài trong các ngành hoặc vùng có sự
giảm sút kéo dài về nhu cầu lao động do thay đổi cơ cấu nền kinh tế
Nguyên nhân:
Khi có sự thay đổi về cơ cấu trong nền kinh tế, chúng ta thường có các ngành
phát triển cùng với sự tăng lên về nhu cầu lao động cũng như các ngành có sự suy
giảm.
Sự dịch chuyển các ngành nghề xuất khẩu và nhập khẩu do thương mại quốc tế
tự do hơn - trong 10 năm qua cả xuất khẩu và nhập khẩu của chúng ta đã tăng lên
đáng kể trong phần trăm của nền kinh tế, báo hiệu một sự dịch chuyển lớn trong thị
trường lao động trong các ngành xuất khẩu và ngành nhập khẩu cạnh tranh.
Những vi mạch máy tính rẻ dẫn đến sự nở rộ về tự động hoá và robot hoá
Những vấn đề trong các ngành dựa trên nguồn lực như là đánh cá và đốn gỗ.
Những thay đổi trong thị trường thế giới đối với các sản phẩm nông nghiệp.
Tính cứng nhắc của tiền lương(hay thất bại của tiền lương trong việc điều chỉnh
về trạng thái cân bằng cung cầu về lao động. đôi khi tiền lương bị mắc ở mức cao
hơn mức làm cân bằng thị trường, vì thế lượng cung về lao động lớn hơn lượng cầu
Đối tượng: những lao động ở không đúng khu vực hoặc có kỹ năng
không phù hợp
Giải pháp:
Họ phải tự thân cố gắng đào tạo lại, tự thân thay đổi chỗ ở hoặc nghỉ hưu
Chính phủ cần trợ cấp đào tạo lại, trợ giúp việc phân bổ lại theo vùng
Thất nghiệp theo mùa: thường do thực tế là một số công việc chỉ thực hiện
d.Thất nghiệp hữu hình: mức lương ko đáp ứng đc nhu cầu hoặc kỳ vọng
của người lao động
e.Thất nghiệp trá hình: thời gian lao động thực tế ít, thiếu việc làm hoặc
năng suất lao động thấp, ko góp phần tạo ra thu nhập cho xã hội.
Nguyên nhân: do giới hạn về đất đai nông nghiệp, do khu vực kinh tế
phi nông thôn chậm phát triển
Đối tượng: chủ yếu xảy ra ở khu vực nông thôn(trình bày nơi cư trú, đặc
điểm của mỗi loại đối tượng
III.Đối tượng thất nghiệp:
Người lao động có trình độ, kỹ năng thấp ko đáp ứng yêu cầu công việc
Nông dân thiếu và mất đất sản xuất
Công nhân bị thay thế công việc bằng máy móc hoặc công nghệ tiên tiến hơn
Lao động nc ngoài về nc nhưng có yêu cầu về thu nhập quá cao
Người về hưu nhưng có nhu cầu lao động
Học sinh viên viên mới ra trường
Người trong thời gian chuyển chỗ làm việc
IV.Mối quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát
Từ những năm 1960 của thế kỉ trước, người ta đã khám phá ra mối quan hệ tỉ lệ
nghịch giữa lạm phát và thất nghiệp, kiểm chứng bởi hàng loạt các dữ liệu thống kê
ghi nhận từ nhiều nền kinh tế. Điều này có nghĩa, các nhà hoạch định chính sách
kinh tế buộc phải đánh đổi thất nghiệp cao để giảm lạm phát hay ngược lại. Tức là
4
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
họ buộc phải chấp nhận tăng cầu thông qua các chính sách tài khóa và tiền tệ để đổi
được khả năng giảm thất nghiệp và điều này đồng nghĩa với việc chấp nhận một
lớn và người ta có thể tăng phúc lợi cho nhiều thế hệ trong khi vẫn giảm tỉ lệ tiết
kiệm. Nói khác đi, dù lượng tiền dư thừa có thấp, sản xuất có giảm, song trong một
nền kinh tế tiết kiệm ít vẫn có tác động kích thích tiêu dùng - để từ đó đẩy nhanh tốc
độ phát triển, và nới rộng quy mô kinh tế.
Trong các công trình nghiên cứu của mình, Giáo sư Phelps, người từng làm
việc nhiều năm với nhà kinh tế nổi tiếng Richard Nelson hồi giữa thập kỉ 60 cũng
khẳng định tầm quan trọng của việc đầu tư cho giáo dục. Con người, cùng với công
nghệ là chìa khóa để các nước nghèo “bắt kịp” tốc độ phát triển của các nước giàu.
Điều này cũng lý giải tại sao tăng trưởng GDP ngày càng bộc lộ rõ sự phụ thuộc
vào nguồn vốn nhân lực, thay vì chỉ dựa vào tốc độ tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Không có người thất nghiệp, giá cả ổn định và tăng trưởng kinh tế cao là mục
đích trọng tâm của chính sách kinh tế. Nhưng những người ra chính sách luôn phải
đối mặt với sự xung đột: Làm sao để cân bằng giữa lạm phát và thất nghiệp? Làm
sao để cân bằng giữa tiêu phí hiện nay và tích lũy sau này? Edmund S. Phelps đã
5
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
đưa ra kiến thức về sự cân bằng trong 2 lĩnh vực trên. Ông đã nêu ra không chỉ công
thức về tích lũy vốn mà còn cả về cách cân bằng giữa lạm phát thất nghiệp là vấn đề
cơ bản để phân phối phúc lợi qua các thời kỳ. Phân tích của Phelps có tầm sâu sắc
trong lý thuyết kinh tế cũng như chính sách kinh tế vĩ mô.
Theo quan điểm thịnh hành hồi những năm 60, giữa lạm phát và thất nghiệp tồn
tại mối liện hệ ổn định ngầm được được thể hiện trong biểu đồ Phillips (Phillips
curve). Mối liên hệ đó được xác nhận bằng dữ liệu kinh tế ở vài quốc gia. Ngụ ý của
nó là, trong chính sách kinh tế, người ta có thể lựa chọn giữa hoặc là lạm phát thấp,
hoặc là thất nghiệp thấp, và thông qua chính sách tài chính và tiền tệ thì có thể giảm
thất nghiệp. Theo biểu đồ Phillip, điều đó sẽ phải trả giá bằng lạm phát đột xuất
(one-time increase).
thảo các chính sách cho tương lai càng khó khăn hơn. Chính sách duy trì lạm phát ở
mức thấp cũng có thể xem là để giảm mức lạm phát kỳ vọng - một lựa chọn có lợi
cho mức lạm phát và thất nghiệp trong tương lai hơn là các phương án khác.
Phelps cũng đưa ra mô hình đầu tiên về những yếu tố quyết định tới cân bằng
thất nghiệp. Trong mô hình đó, các công ty định ra mức lương để tác động tới số lao
6
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
động. Càng nhiều công ty muốn tăng lực lượng lao động thì tỷ lệ thất nghiệp càng
giảm, mức lương đưa ra phải càng cao. Phelps chỉ ra sự tồn tại của tỷ lệ thất nghiệp
cân bằng duy nhất được tính theo mức tăng lương của công ty và mức tăng lương
kỳ vọng. Sự sáng tạo của Phelps là đã bắt đầu từ những giả định về hành vi hay các
yếu tố cá nhân trong thị trường lao động. Phelps cũng là người đầu tiên tích hợp giả
thiết về hiệu lực của lương vào lý thuyết kinh tế vĩ mô. Giả thuyết đó cho rằng đầu
tư sinh lời nhất của một công ty là trả lương cao để nâng cao tinh thần người lao
động, giảm thiểu số người chuyển việc và thu hút lao động có kĩ năng cao hơn. Cơ
chế đó cũng giúp đưa tỷ lệ thất nghiệp về mức cân bằng.
Phelps không phải là người duy nhất chỉ trích biểu đồ Phillips hồi cuối thập kỷ
60. Milton Friedman (giải Nobel năm 1976) cũng nhấn mạnh tới vai trò của lạm
phát kỳ vọng. Khác với Friedman, Phelps nhấn mạnh tới sự tác động từ thất nghiệp
tới lạm phát (không định trước).
Đóng góp của Phelps đã thay đổi cơ bản quan điểm của các nhà kinh tế về cách
thức điều hành kinh tế vĩ mô. Khung lý thuyết mà ông dựng nên từ cuối những năm
60 giúp giải thích vì sao cả lạm phát lẫn thất nghệp đều gia tăng trong những năm
70. Ông cũng làm sáng tỏ tính hạn chế của các chính sách kinh tế vĩ mô. Một ví dụ
là ngày nay các ngân hàng trung ương thường quyết định tỷ lệ lãi suất dựa trên đánh
giá tỷ lệ thất nghiệp cân bằng và sự cân bằng giữa tác động của chính sách tới các
lĩnh vực khác nhau.
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
ảnh hưởng đến năng suất lao động
Tiền lương cao làm giảm tình trạng bỏ việc qua đó giảm thời gian tuyển mộ và
đào tạo người lao động mới
Chất lượng bình quân của lực lượng lao động trong doanh nghiệp phụ thuộc
vào mức lương mà nó trả cho người lao động của mình. Thông qua việc trả lương
trên mức cân bằng, doanh nghiệp có thể giảm bớt sự lựa chọn bất lợi là những lao
động giỏi nhất tìm việc ở nơi khác và nâng cao chất lượng bình quân của lực lượng
lao động qua đó làm tăng được năng suất lao động của họ
Mức lương cao làm tăng nỗ lực của người lao động: tiền lương cao, tổn thất mà
người lao động phải chịu khi bị phát hiện trốn việc và đuổi việc càng lớn
4. Các vấn đề xã hội khác
Vấn đề trợ cấp thất nghiệp: trợ cấp thất nghiệp giúp người lao động bị thất
nghiệp giảm bớt gánh nặng về tài chính nhưng nó cũng khiến cho tỷ lệ thất nghiệp
tăng lên do động lực đi tìm việc của họ bị giảm bớt đi. Cùng với đó, khi nền kinh tế
lâm vào khủng hoảng, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao thì khoản trợ cấp thất nghiệp sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến toàn nền kinh tế
Tỉ lệ ăn theo: tỷ lệ này luôn tỷ lệ thuận với tỷ lệ thất nghiệp vì với toàn nền
kinh tế khi có một người thất nghiệp thì cũng có nghĩa là có 1 người “ăn theo”. Mặc
dù trong những người “ăn theo” không chỉ gồm những người thất nghiệp nhưng nó
cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Tỷ lệ ăn theo cũng là một chỉ số quan trọng cùng
với tỷ lệ thất nghiệp để đánh giá mức độ lành mạnh của nền kinh tế
Bất bình đẳng: khi vấn đề bất bình đẳng được giải quyết thì sẽ có nhiều hơn
những người trong độ tuổi lao động tham gia vào thị trường lao động. Nếu nền kinh
tế không giải quyết tốt thì cũng làm cho tỷ lệ thất nghiệp tăng lên. Tuy nhiên đây là
vấn đề tất yếu khách quan khi các quốc gia đang trên con đường phát triển.
Các tệ nạn xã hội: một tỷ lệ lớn số tội phạm hiện nay là do thiếu tiền, thất
9. tuổi thọ bình quân
10. cung cấp nước sạch nông thôn
Chỉ tiêu
kế hoạch
2001-2005
.05
1.2
7.5
Ước thực hiện
2001-2005
30
80
25
80
%
45
40
%
%
Dưới 10%
22-25
9
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
Dịch vụ
28.26%
Nông nghiệp
52.80%
Công nghiệp
18.93%
Chất lượng lao động của nước ta là vấn đề đánh lo ngại trong quá trình phát
triển kinh tế của nước ta hiện nay. Chất lượng lao động được nghiên cứu dựa trên
nhiều tiêu chí như: kỹ năng nghề nghiệp, sức khỏe, ý thức của người lao động,…
Chất lượng đào tạo nhân lực nhất là ở bậc đại học nhìn chung còn thấp so với
mục tiêu giáo dục, với yêu cầu phục vụ phát triển kinh tế xã hội và với trình độ các
nước trong khu vực có mặt còn non kém. Nội dung, phương pháp dạy đại học chưa
đáp ứng tốt yêu cầu chuẩn bị nhân lực cho công nghiệp hóa rút ngắn và trình độ
chưa theo kịp phát triển khoa học công nghệ hiện đại. Việc học tập ở mọi cấp học bị
chi phối nặng nề bởi tâm lý bằng cấp; phương pháp giáo dục nặng về áp đặt, chưa
khuyến khích sự năng động, sáng tạo của người học, chưa coi trọng năng lực tư duy
và năng lực thực hành
Hiện nay lao động đã qua đào tạo của nước ta mới chỉ có 32% và chỉ có 14,4%
lao động thấp.có chứng chỉ đào tạo ngắn hạn- đây là 1 tỷ lệ rất thấp. Mỗi năm chúng
ta đào tạo ra hơn 1 triệu lao động chủ yếu từ các trường đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, trường nghề nhưng đội ngũ lao động này chỉ được dạy nhiều về lý
thuyết chứ ko được đào tạo nhiều về kỹ năng chuyên môn vì thế khi ra trường họ
chưa có đủ trình độ đáp ứng được ngay yêu cầu của công việc.
Chỉ số sự thành thạo tiếng anh là 2.62 điểm
Chỉ số sự thành thạo công nghệ cao là 2.5 điểm
Chất lượng đào tạo kém cùng với nền kinh tế quá quan tâm đến bằng cấp khiến
cho mục đích học của người học cũng thay đổi, họ học ko phải vì kiến thức mà để
có một tấm bằng rồi lại dùng nó để xin những công việc vượt quá khả năng của họ.
11
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
Sức khỏe của người lao động kém cũng là một vấn đề đáng lưu tâm. Với điều
kiện khí hậu khắc nghiệt, chế độ dinh dưỡng thiếu khoa học, chất lượng bữa ăn còn
thấp tạo cho người lao động nước ta có sức khỏe chỉ ở mức trung bình. Cùng với đó
là điều kiện làm việc chưa được đảm bảo, an toàn lao động chưa được quan tâm
đúng mức từ đó dẫn đến nguy cơ xảy ra tai nạn lao động với người lao động cao.
Một kết quả khảo sát của Viện khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động cho thấy 40%
doanh nghiệp không có cán bộ y tế và 44% doanh nghiệp không tổ chức khám sức
khỏe khi tuyển dụng lao động và khám sức định kỳ cho người lao động.
Ý thức kỷ luật của người lao động là vấn đề đáng quan tâm nhất. Mặc dù lao
động Việt Nam được đánh giá là khéo léo, thông minh, sáng tạo, tiếp thu nhanh
những kỹ thuật và công nghệ hiện đại được chuyển giao từ bên ngoài nhưng lại
thiếu tính chuyên nghiệp. Người lao động hay có hiện tượng trốn việc, đi làm muộn,
gây gổ đánh nhau, ý thức bảo vệ tài sản chung còn kém. Những điều này dẫn đến
năng suất lao động của họ thấp, tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế không được
khả quan. Ngoài ra kỹ năng làm việc theo nhóm cũng như khả năng hợp tác để hoàn
thành công việc của lao động Việt Nam quá yếu kém. Vì thế nếu một công việc cá
nhân thì họ làm tốt nhưng nếu làm việc tập thể thì năng suất lao động giảm xuống
rõ rệt và trong nhiều trường hợp công việc đã không được hoàn thành đúng như yêu
cầu của cấp trên
Sự hiểu biết về luật pháp của họ còn khá nhiều hạn chế. Đa số người lao động
chưa từng đọc qua luật lao động vì thế họ ko biết mình có quyền lợi gì. Vì thế họ
cần cù, chịu khó, khéo tay, tiếp thu nhanh. Tuy nhiên, số người có chuyên môn kỹ
thuật chỉ chiếm khoảng 1/3 và người mới chỉ thâm nhập được vào những lĩnh vực
không đòi hỏi trình độ tay nghề cao và thông thạo về ngoại ngữ. Đây cũng là tình
trạng chung của các nước đang phát triển. Vì vậy sự cạnh tranh trên thị trường lao
động đối với Việt Nam càng lớn hơn.
Ngoài ra lao động Việt Nam còn bộc lộ những nhược điểm làm giảm tính cạnh
tranh của chính mình, đó là thể lực yếu, kỷ luật lao động yếu, ngoại ngữ kém, tính
cộng đồng không cao và chưa có tác phong công nghiệp trong làm việc và lối sống.
Về trình độ tay nghề, phần lớn lao động Việt Nam không qua đào tạo chuyên
môn kỹ thuật, trung bình chiếm khoảng ¾ tổng số lao động xuất khẩu
Về loại hình ngành nghề, lao động xuất khẩu của Việt Nam tập trung vào một
số ngành sau: nông, lâm, ngư nghiệp chiếm khoảng 60%; xây dựng, công nghiệp:
16% và dịch vụ:24%
Về lứa tuổi, do phía đối tác nước ngoài yêu cầu lứa tuổi người lao động từ 1835 tuổi nên lao động Việt Nam cũng chỉ tập trung và lứa tuổi này, trong đó 18-25
tuổi chiếm khoảng 27% còn lại là 25-35 tuổi
2. Việc làm
Thu nhập sụt giảm đang là vấn đề trầm trọng tại Nam Á, nơi có 4 trong số 10
thanh niên kiếm chưa tới 1USD/ngày và chỉ có 1 trong số 10 người là có khả năng
nuôi sống gia đình với mức thu nhập trên mức đói nghèo 2USD/ngày.
Theo báo cáo của 6 tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn, nhu cầu của các doanh
nghiệp này trong giai đoạn 2008-2012 lên tới 80.000-90.000 người, trong đó số lao
động có trình độ cao đẳng là 24.000 người. Về cơ cấu, qua khảo sát ở 40 doanh
nghiệp, trong thời gian tới, số lao động cần tuyển, lao động qua đào tạo nghề chiếm
trên 40%, lao động có trình độ cao đẳng, đại học chiếm khoảng 18%, còn lại là lao
động phổ thông. Theo báo cáo của VINASHIN, trong số nhu cầu nhân lực đến năm
2010 và 2015 của tập đoàn, số lao động qua đào tạo nghề chiếm từ 60-70%, tỷ lệ
cao đẳng, đại học từ 22-26%.
Ở đồng bằng sông Cửu Long, khi mất đi 1ha đất nông nghiệp trồng cây lâu năm
thì mất đi 3,5 việc làm và 0,3 việc làm dịch vụ nông nghiệp
hình dịch vụ...
- Khu vực xuất nhập khẩu sử dụng nhiều lao động tăng nhanh, bao gồm: chế
biến thực phẩm, sản phẩm điện tử, cơ khí, sản phẩm hoá chất, xuất khẩu lao động,
rau quả, vật liệu xây dựng, cao su, cà phê, hạt điều, sản phẩm gỗ, phần mềm và
công nghệ thông tin, dịch vụ vận tải biển và giao nhận, thủ công mỹ nghệ...
- Khu vực có năng lực cạnh tranh cao, bao gồm: gạo, cà phê, thuỷ sản, cao su tự
nhiên, may mặc, da giày, đồ uống, đồ chơi, gốm sứ, thuỷ tinh, động cơ diesel công
suất nhỏ, chất tảy rửa, biến thế, cáp điện, dầu thô, than, khí đốt chloruamit, hàng thủ
công mỹ nghệ, du lịch...
- Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ có điều kiện phát triển vì tính chất linh
hoạt, năng động, "chen chân" được vào các lĩnh vực doanh nghiệp lớn còn bỏ ngỏ
và khó xoay sở, bao gồm: doanh nghiệp dịch vụ, công nghiệp chế biến nông sản,
khôi phục và phát triển làng nghề, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, sản xuất hàng
tiêu dùng, hàng xuất khẩu...
Hiện nay, cả nước có hơn 240.000 doanh nghiệp, thu hút khoảng 9 triệu lao
động. Dự kiến đến năm 2010, nước ta có khoảng 500.000 doanh nghịêp, góp phần
tạo thêm 2,7 triệu chỗ làm việc mới cho người lao động.
Chúng ta đang phấn đấu cải cách hành chính và tạo môi trường đầu tư thuận lợi
để đến năm 2010 có khoảng 500 nghìn doanh nghiệp (hầu hết là doanh nghiệp vừa
và nhỏ) đạt tỷ lệ 200 người dân/1 doanh nghiệp.
Trong khi đó, những ngành có khả năng cạnh tranh thấp sẽ bị thu hẹp, đó là
những ngành có mức bảo hộ cao, có hàm lượng vốn lớn, công nghệ lạc hậu và năng
suất lao động rất thấp, những ngành "xế chiều" khai thác tài nguyên thiên nhiên và
xuất khẩu thô: thép, giấy, phân bón, hoá chất và ximăng của nhà sản xuất trong
nước, khai thác mỏ, than, mía đường và nông nghiệp.
II. Thực trạng thất nghiệp Việt Nam
Trong thập niên vừa qua, kể từ năm 1995, tỷ lệ thanh niên thất nghiệp tại các
quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương tăng 85,5%Với tỷ lệ
trên, 9,5 triệu thanh niên trong độ tuổi từ 15 đến 24 không có việc làm, báo cáo vừa
2006
Sơ bộ
2007
6.42
6.28
6.01
5.78
5.60
5.31
4.82
4.64
Đồng bằng sông Hồng
7.34
7.07
6.64
6.38
5.62
5.11
5.19
5.30
4.91
3.89
3.42
Bắc Trung Bộ
6.87
6.72
5.82
5.45
5.35
4.98
5.50
4.53
4.23
2.38
2.11
Đông Nam Bộ
6.16
5.92
6.30
6.08
5.92
5.62
5.47
4.83
Đồng bằng sông Cửu Long
6.15
2001
2002
2003
2004
2005
74.16
75.53
73.01
73.44
72.12
73.92
77.04
76.58
73.18
74.26
75.36
73.05
72.78
72.52
74.60
77.18
76.42
73.38
80.65
78.75
80.31
78.44
76.45
77.81
81.61
82.90
80.00
Tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam nguồn GSO
Năm
% TN thành thị
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
5,88
6,01
6,85
6,74
82.70
83.46
81.70
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
Tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm, nhưng tỷ lệ thất nghiệp hữu hình và dài
hạn thấp, tỷ lệ thất nghiệp vô hình và ngắn hạn cao, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi ở
khu vực thành thị còn lớn (4,91%)
Theo tính toán có khoảng 20-30% thất nghiệp vì đất canh tác ngày càng thu hẹp
do phát triển các khu công nghiệp
Nguyên nhân
Năm 2008 là năm thứ 2 Việt Nam chính thức là thành viên của WTO. Tác động
của hội nhập kinh tế đến việc làm và thị trường lao động Việt Nam được thể hiện
dưới nhiều hình thức: Tình trạng thất nghiệp và nghèo có thể gia tăng. Vì dưới tác
động của cạnh tranh, có những doanh nghiệp sẽ bị phá sản, hoặc thu nhỏ sản xuất,
và sẽ dẫn đến việc lao động bị mất việc làm hoặc bị giảm thu nhập. Trong khi đó,
thị trường lao động sẽ hình thành theo hướng liên thông mở trong và ngoài nước,
người lao động nước ngoài sẽ tham gia vào thị trường lao động Việt Nam, và nếu
lao động trong nước không được đào tạo tốt, có kỹ năng đáp ứng yêu cầu thì cũng
sẽ bị cạnh tranh ngay chính trên sân nhà.
Theo tính toán, nếu GDP giảm đi 2% so với GDP tiềm năng thì tỷ lệ thất
nghiệp sẽ tăng lên 1%.
Theo dự báo, đến năm 2012, Việt Nam chỉ cung cấp được 50% nhu cầu lao
động có kỹ năng đáp ứng đòi hỏi của thị trường. Đó là con số đáng báo động.
Hiện nay, nhìn vào con số người thất nghiệp của Việt Nam, người trẻ chiếm tỷ
lệ rất lớn, tới 75% ở dưới tuổi 34. (Ở các nước, tỷ lệ này thường dao động ở mức
50-60%). Đây là sự lãng phí nguồn lực rất lớn
Vậy thất nghiệp ở nước ta sẽ tăng hay giảm ?
Trả lời cho câu hỏi này phụ thuộc vào 2 nhân tố chính, đó là: nhận thức, đổi
vực kinh tế nhà nước, của khu vực nông nghiệp sẽ giảm.
Như vậy, tình trạng thất nghiệp trá hình (đặc biệt là dưới các hình thức thời
gian làm việc ít, thu nhập thấp, trình độ cao làm việc giản đơn và làm trái ngành
nghề) sẽ giảm.
Trong dài hạn khi nền kinh tế mở cửa hấp thụ được lượng vốn đầu tư lớn, mặt
bằng chất lượng lao động được nâng lên, nếu chúng ta xây dựng được một “xã hội
học tập" có cạnh tranh rất mạnh về năng lực, phẩm chất, tư duy lao động và quản lý
tốt, không để xảy ra khủng hoảng kinh tế thì thất nghiệp hữu hình sẽ giảm và đạt ở
mức thất nghiệp tự nhiên. Những nhân tố tích cực này sẽ tiếp tục thúc đẩy ổn định
và tăng trưởng kinh tế nhưng tác động của tăng năng suất sẽ ngày càng cao và
chiếm ưu thế so với tăng việc làm.
Thất nghiệp trá hình sẽ giảm mạnh trong dài hạn đồng thời với việc tăng việc
làm trong khu vực chính thức làm công ăn lương và giảm dần tỷ trọng làm việc
trong khu vực phi chính thức.
Như vậy thất nghiệp tăng hay giảm phụ thuộc vào từng loại hình, từng thời kỳ
và phụ thuộc vào chính từng người cũng như trình độ quản lý nền kinh tế nói chung,
trình độ quản lý thị trường lao động nói riêng.
17
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
Chương III:
Định hướng giải quyết việc làm trong
thời gian tới
I. Định hướng và mục tiêu giải quyết việc làm ở Việt
Nam
1. Định hướng
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 có viết:“Giải quyết việc làm là
chức
năng
(2):
- Phân bố nguồn lực có hiệu quả: bảo đảm mọi người tìm được việc làm nhanh
chóng, phù hợp với kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và năng lực từng người.
- Phân phối thu nhập công bằng: gắn tiền lương với kết quả công việc và
hiệu quả kinh doanh, công nhân được trả đúng với giá trị cống hiến, tốc độ tăng
năng suất lao động phải lớn hơn tốc độ tăng tiền lương thực tế.
- Phân tán rủi ro: có hệ thống chính sách bảo vệ người thất nghiệp, hạn chế
đến tối thiểu việc mất thu nhập, tạo điều kiện để người thất nghiệp có thể tìm được
việc
làm
nhanh
chóng.
Thực hiện ba chức năng đã nêu sẽ trực tiếp làm tăng tổng sản phẩm xã hội, tăng
thu nhập của cá nhân người lao động và thoả mãn các nhu cầu về mặt xã hội – thực
18
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
hiện ổn định xã hội gắn liền với tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, tình trạng thất
nghiệp lớn sẽ gây ra những hậu quả kinh tế – xã hội nghiêm trọng; bởi vì những
người thất nghiệp đã bị đẩy từ khu vực sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội và
cho bản thân mình sang khu vực nhận phân phối thu nhập của nền kinh tế vốn đã rất
eo hẹp.
Một số giải pháp phát triển thị trừơng lao động
Giải pháp liên quan đến cung lao động
Duy trì các kết quả đã đạt được liên quan đến chương trình dân số và kế hoạch
Tạo điều kiện để thị trường lao động vận hành có hiệu quả. Pháp luật về lao
động cần được tiếp tục hoàn thiện theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh của Bộ
luật lao động để bảo vệ quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động
Các tổ chức giao dịch về lao động và việc làm cần có cơ chế để có thể hoạt
động tích cực hơn, người lao động và người sử dụng lao động có thể dễ dàng tiếp
cận được với nhau, đặc biệt tại các nơi có mật độ dân cư cao và tỷ lệ người tìm việc
lớn để giúp cho người lao động có thể tiếp cận đến việc làm 1 cách thuận tiện nhất,
cần hình thành hệ thống thông tin – thống kê về thị trường lao động, nắm bắt
thường xuyên, cập nhật kịp thời về tình hình cung và cầu lao động theo vùng, ngành
Về công tác tiền lương nên giảm sự can thiệp của nhà nước trong công tác tiền
19
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
lương đặc biệt với các doanh nghiệp nhà nước. Cần hoàn chỉnh chế độ tiền lương
theo hướng thị trường, tiến tới thống nhất mức lương cho mọi loại hình doanh
nghiệp, các nội dung khác nhà nước chỉ nên hướng dẫn, không nên duyệt đơn tiền
lương và khống chế mức tiền lương bình quân
III. Giải pháp
Các văn bản Luật:
Luật lao động sửa đổi(12/12/2006)
Nghị định quy định về tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp(27/3/2000)
Luật bảo hiểm xã hội(12/7/2006)
Luật người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng(29/11/2006)
Luật dạy nghề(12/12/2006)
Các giải pháp chính của nhà nước
Chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm có nội dung cơ bản
sau:
- Hỗ trợ tổ chức sàn giao dịch việc làm định kỳ, thường xuyên.
20
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
4. Hoạt động giám sát, đánh giá:
a) Mục tiêu: đánh giá, giám sát các hoạt động, dự án trong khuôn khổ Chương
trình mục tiêu quốc gia về việc làm.b) Nội dung:
- Đánh giá kết quả thực hiện các dự án trong Chương trình, kết quả từng năm
và thực hiện Chương trình;
- Giám sát việc thực hiện các hoạt động trong Chương trình;
- Nghiên cứu, kiến nghị, sửa đổi, bổ sung những cơ chế, chính sách cho phù
hợp với đặc thù của Chương trình.
5. Hoạt động nâng cao năng lực quản lý lao động - việc làm:
a) Mục tiêu: hướng dẫn nghiệp vụ cho 75 nghìn cán bộ làm công tác lao động việc làm từ Trung ương đến địa phương;
b) Nội dung: tổ chức tập huấn về phương pháp xây dựng và triển khai Chương
trình, các văn bản mới; phương pháp xây dựng và quản lý dự án vay vốn Quỹ quốc
gia về việc làm, nghiệp vụ giới thiệu việc làm cho cán bộ các Sở Lao động Thương binh và Xã hội, cán bộ Trung ương các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội, cán bộ lao động - việc làm ở địa phương.
Chương trình Mục tiêu quốc gia về việc làm qua hai giai đoạn 2001-2005 và
đến 2010, trong đó dự án vay vốn giải quyết việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm
đóng vai trò chính hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm. Đã có hàng trăm ngàn dự án vay
vốn giải quyết việc làm từ Quỹ quốc gia. Chương trình này đã góp phần nâng cao
nhận thức của nhân dân và toàn xã hội về việc làm, khiến người lao động chủ động
tự tạo việc làm cho bản thân, không trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 đã chỉ rõ: nâng lên đáng kể
chỉ số phát triển con người(HDI) của nước ta. Tốc độ dân số đến năm 2010 còn
1,1%. Xoá hộ đói, giảm hộ nghèo. Giải quyết việc làm ở cả thành thị và nông
thôn( thất nghiệp ở thành thị dưới 5%, quỹ thời gian lao động được sử dụng ở nông
thôn khoảng 80-85%); nâng tỷ lệ người lao động được đào tạo nghề lên khoảng
muốn ký hợp đồng dài hạn vì anh ta biết rằng chương trình bảo hiểm thất nghiệp
đảm bảo một phần thu nhập của mình. Ngoài ra khi nền kinh tế lâm vào tình trạng
bất ổn tỷ lệ thất nghiệp tăng lên thì chương trình này sẽ ngốn khá nhiều ngân sách
của nhà nước
Tính đến hết năm 2006, nhà nước đã chi 6.376 tỷ đồng để giải quyết chính
sách cho gần 200 nghìn lao động tại 3.656 doanh nghiệp sắp xếp lại, tạo thuận lợi
cho lao động sau khi rời doanh nghiệp có thể tự lập nghiệp hoặc có việc làm mới
phù hợp với khả năng.
Các giải pháp khác của nhà nước
Quỹ quốc gia giải quyết việc làm tại các địa phương: là một trong những
chương trình hỗ trợ trực tiếp tạo việc làm. Vốn vay từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm
với lãi suất ưu đãi là biện pháp tài chính quan trọng để kích thích các cơ sở sản xuất
kinh doanh, các hộ gia đình được vay vốn phát triển sản xuất tạo việc làm và tăng
thu nhập.
Công đoàn Việt Nam: là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công
nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập
hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh về mọi
mặt; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động,
phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.
Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị và là thành viên của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây
dựng đội ngũ giai cấp công nhân, lao động.
Các hoạt động tự tìm việc của người lao động
Chủ động tìm việc làm, nhiều lao động ở nông thôn đã tìm đến các khu đô thị
và công nghiệp để tìm cơ hội mới. Quá trình này sẽ còn kéo dài hàng chục năm nữa
với quy mô hàng chục triệu người. Và trong thời gian tới, cơ cấu lao động trong các
ngành công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên.
Lao động dịch chuyển sang khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Phần lớn đội
- Nâng cao chất lượng và độ linh hoạt của hệ thống giáo dục nghề nghiệp, đáp
ứng yêu cầu của thị trường và cạnh tranh quốc tế.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thị trường lao động theo hướng quản lý gián
tiếp, phi tập trung, chống phân biệt đối xử, bảo đảm quyền được làm việc và được
an toàn, quyền thương lượng và tự do cư trú.
- Tăng cường đối thoại xã hội và thương lượng tập thể nhằm xây dựng quan hệ
lao động hài hòa, lành mạnh.
- Phê chuẩn các Công ước của ILO liên quan đến việc làm, thị trường lao động,
tiền lương, dịch vụ việc làm, hướng nghiệp và đào tạo nghề, an toàn vệ sinh lao
động và khuyến khích áp dụng “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”.
23
Vấn đề thất nghiệp của nước ta từ năm 2000 đến nay
Lời kết
Đề án là sự tổng hợp ý kiến của rất nhiều bên từ các cơ quan nhà nước, các viện
nghiên cứu, các trường đại học đến các doanh nghiệp, người dân và các cơ quan
quốc tế đang có hoạt động nghiên cứu về nền kinh tế Việt Nam.những thử thách,
khó khăn đang đặt ra rất nhiều nhưng với đội ngũ rất lớn những người có tâm huyết
trong việc đưa đất nước đi lên. Với 1 cơ sở lý luận đúng đắn, bộ máy chính trị ổn
định, cùng với sự nỗ lực của người dân, em tin chắc trong một tương lai gần vấn đề
thất nghiệp sẽ được cải thiện một cách đáng kể.Mặc dù còn nhiều thiếu sót nhưng
em hi vọng bản đề án có thể cho chúng ta thấy được một cái nhìn khách quan về
tình hình thất nghiệp của nước ta. Qua việc tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp của
vấn đề, chúng ta có thể hiểu hơn và xây dựng lên những chính sách đúng đắn và khả
thi.
24