Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1
MỤC LỤC
Trang
Sinh viên: Phạm Tiến Minh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2
LỜI MỞ ĐẦU
Có một câu hỏi mà bất cứ người lao động nào cũng đặt ra đầu tiên khi
bán sức lao động của mình đó là Tiền lương anh ta sẽ kiếm được là bao
nhiêu? Cũng là câu hỏi đầu tiên của những ông chủ - những người mua sức
lao động, đó là: Trả công cho người lao động bao nhiêu để mà vừa đáp ứng
nhu cầu của họ, vừa làm ăn có lãi? Rõ ràng trên cả khía cạnh Mua và Bán sức
lao động thì yếu tố tiền lương luôn được đặt lên hàng đầu.
Tiền lương chỉ thực sự có ý nghĩa và tác dụng khi nó thực hiện đúng
chức năng là phân phối theo sức lao động, qua đó giúp cho người lao động
nhận được đúng giá trị mà mình đã bỏ ra. Chỉ có như vậy người lao động mới
chuyên tâm vào công việc của mình vì họ tin rằng mình được bù đắp xứng
đáng. Một chính sách tiền lương hợp lý sẽ tạo động lực cho người lao động
hăng hái làm việc, nâng cao năng suất lao động cũng như hiệu quả công việc,
góp phần làm giảm chi phí tiền lương cho một đơn vị sản phẩm, gia tăng lợi
nhuận đáng kể cho doanh nghiệp.
Vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải không ngừng hoàn thiện quy chế trả
lương của mình sao cho phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp nói riêng và
4
PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY CHẾ TRẢ LƯƠNG.
I. VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG.
1. Khái niệm và bản chất của tiền lương.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa thì các loại thị
trường cũng được hình thành và ngày càng phát triển. Trong nền kinh tế thị
trường và sự hoạt động của thị trường sức lao động (hay gọi là thị trường lao
động), sức lao động là hàng hóa, do vậy tiền lương là biểu hiện bằng tiền của
giá trị hàng hóa sức lao động, là giá cả của sức lao động. Khi phân tích về nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa, C.Mác viết: “ Tiền công không phải là giá trị hay giá
cả của lao động mà chỉ là một hình thái cải trang của giá trị hay giá cả sức lao
động”
Tiền lương, trước hết là số tiền mà người sử dụng lao động (người mua
sức lao động) trả cho người lao động (người bán sức lao động). Đây là quan
hệ kinh tế của tiền lương. Mặt khác, do tính chất đặc biệt của loại hàng hóa
sức lao động mà tiền lương không chỉ thuần túy là vấn đề kinh tế mà còn là
một vấn đề xã hội rất quan trọng, liên quan đến đời sống và trật tự xã hội –
thể hiện quan hệ xã hội…
Trong quá trình hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh doanh, đối với
chủ doanh nghiệp, tiền lương là một phần chi phí cấu thành sản xuất – kinh
doanh. Vì vậy tiền lương luôn được tính toán và quản lý chặt chẻ. Còn đối với
người lao động, tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ, là phần
thu nhập chủ yếu đối với đại đa số lao động trong xã hội và có ảnh hưởng trực
tiếp đến cuộc sống của họ. Do đó phấn đấu nâng cao tiền lương là mục đích
của hết thảy người lao động. Mục đích này tạo động lực để người lao động
phát triển trình độ và khả năng lao động của mình.
Sinh viên: Phạm Tiến Minh
- Làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao.
Tiền lương là một đòn bẩy quan trọng để nâng cao năng suất lao động,
tạo cơ sở quan trọng nâng cao hiệu quả kinh doanh. Do vậy, tổ chức tiền
Sinh viên: Phạm Tiến Minh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
6
lương phải đạt yêu cầu làm tăng năng suất lao động. Mặt khác, đây cũng là
yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển, nâng cao trình độ và kỹ năng của người
lao động.
Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu.
Tiền lương luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi người lao động. Một
chế độ tiền lương đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu có tác động trực tiếp tới động cơ
và thái độ làm việc của họ, đồng thời làm tăng hiệu quả của hoạt động quản
lý, nhất là quản lý tiền lương.
2.2. Nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương.
Nguyên tắc cơ bản trong tổ chức tiền lương là cơ sở quan trọng nhất để
xây dựng được một cơ chế trả lương, quản lý tiền lương và chính sách thu
nhập thích hợp trong một thể chế kinh tế nhất định. Ở nước ta, khi xây dựng
các chế độ tiền lương phải theo nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc 1: Trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau
Trả công ngang nhau cho lao động như nhau, xuất phát từ nguyên tắc
phân phối theo lao động. Nguyên tắc này dùng thước đo lao động để đánh
giá,so sánh và thực hiện trả lương. Những người lao động khác nhau về tuổi
tác, giới tính, trình độ… nhưng có mức hao phí sức lao động như nhau thì
được trả lương như nhau..
Sự phân bố theo khu vực sản xuất.
3.Ý nghĩa của tiền lương.
Tiền lương không chỉ tác động trực tiếp tới người lao động và người sử
dụng lao động mà còn tới cả tổ chức và xã hội.
3.1. Đối với người lao động.
Bất cứ người lao động nào khi tham gia vào thị trường lao động đều
mong muốn nhân được một thu nhập nhất định từ tiền lương(đa phần la muốn
cao) mà qua đó có thể trang trải các chi tiêu sinh hoạt. dịch vụ cần thiết cho
bản thân và cho gia đình họ. Tức là, tiền lương phải đảm bảo được tối thiểu
nhu cầu và mức sống tối thiểu của người lao động. Do đó tiền lương ảnh
hưởng trực tiếp đến mức sống của người lao động.
Việc đảm bảo đời sống của bản thân và gia đình người lao động ở mức
độ nào đó không chỉ thể hiện năng lực của người lao động mà còn thể hiện
Sinh viên: Phạm Tiến Minh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
8
khả năng gánh vác gia đìng của họ. Do đó nó ảnh hưởng đến địa vị của người
lao động tron gia đình và ngoài xã hội.
Thực tế chỉ ra rằng, nhu cầu về giá trị là không có giới hạn, người lao
động luôn mong nhận được mức lương cao để thoả mãn nhu cầu ngày càng
cao của họ. Do đó mức lương cao sẽ tạo động lực cho người lao động.
3.2.
Đối với tổ chức.
Tiền lương là chi phí sản xuất quan trọng, việc tăng, giảm tiền lương sẽ
2. Cấu trúc và nội dung của quy chế tiền lương.
2.1. Những nguyên tắc chung.
Khi xây dựng quy chế trả lương thì phải đảm bảo những nguyên tắc sau.
- Thực hiện phân phối theo lao động, tiền lương phụ thuộc vào kết quả
lao động cuối cùng của từng người, từng bộ phận.
- Chống phân phối bình quân, hệ số giãn cách giữa người có tiền lương
cao nhất và thấp nhất do doanh nghiệp lựa chọn, quyết định nhưng tối đa
không quá hai lần so với hệ số mức lương cao nhất áp dụng trong doanh
nghiệp theo quy định.
- Quỹ tiền lương được phân phối cho người lao động trong doanh
nghiệp, không được sử dụng vào mục đích khác.
- Tiền lương và thu nhập hàng tháng của người lao động được ghi vào Sổ
lương của doanh nghiệp quy định tại thông tư số 15/LĐTBXH-TT ngày
10/4/1997 của Bộ lao động - Thương binh và xã hội.
- Lãnh đạo doanh nghiệp phối hợp với tổ chức công đoàn cùng cấp để
xây dựng quy chế trả lương.
- Cơ chế trả lương phải linh hoạt để đáp ứng được những thay đổi của
doanh nghiệp và thị trường.
2.2. Quỹ tiền lương.
2.2.1. Khái niệm.
Tổng quỹ tiền lương hay còn gọi là quỹ lương là tổng số tiền dùng để trả
lương cho người lao động, do cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp quản lý.
Trong doanh nghiệp quỹ lương dùng để trả lương, các khoản như lương và
một phần tiền thưởng cho người lao động làm việc, phục vụ cho quá trình sản
xuất kinh doanh trong từng thời kỳ của doanh nghiệp.
Sinh viên: Phạm Tiến Minh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Phạm Tiến Minh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
11
- Khái niệm:
Chế độ tiền lương cấp bậc là toàn bộ những quy định của Nhà nước và
các Công ty, doanh nghiệp áp dụng, vận dụng để trả lương cho người lao
động. Căn cứ vào chất lượng và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một
công việc nhất định. Chế độ tiền lương cấp bậc áp dụng cho công nhân,
những người lao động trực tiếp, và trả lương theo kết quả lao động của họ, thể
hiện qua số lượng và chất lượng.
Việc xây dựng và áp dụng chế độ tiền lương cấp bậc là rất cần thiết
nhằm quán triệt các nguyên tắc trong trả lương cho người lao động. Để trả
lương một cách đúng đắn và công bằng thì phải căn cứ vào hai mặt: số lượng
và chất lượng của lao động.
b. Chế độ tiền lương chức vụ.
- Khái niệm:
Chế độ tiền lương chức vụ là toàn bộ những quy định của Nhà nước mà
các tổ chức quản lý nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội và các doanh nghiệp
áp dụng để trả lương cho lao động quản lý.
Khác với công nhân và những người lao động trực tiếp, lao động quản lý
tuy không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng
trong việc lập kế hoạch, tổ chức, điều hành, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Sản xuất ngày càng phát triển, quy mô và phạm vi hoạt động kinh doanh
càng mở rộng thì vai trò quan trọng của lao động quản lý ngày càng tăng và
+ Tiêu chuẩn chính trị
+ Trình độ văn hóa
+Trình độ chuyên môn nghiệp vụ tương ứng với chức vụ được đảm
nhiệm.
+Trách nhiệm.
Việc xây dựng chế độ tiền lương chức vụ được thực hiện theo trình tự
sau:
Xây dựng chức danh lao động quản lý. Thông thường trong quản lý có 3
nhóm chức danh sau:
Chức danh lãnh đạo quản lý
Sinh viên: Phạm Tiến Minh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
13
Chức danh chuyên môn, kỹ thuật.
Chức danh thực hành, phục vụ, dịch vụ
Đánh giá mức độ phức tạp thường được thực hiện trên cơ sở của việc
phân tích nội dung công việc và xác định mức độ phức tạp của từng nội dung
đó qua phương pháp cho điểm.
Trong từng nội dung công việc của lao động quản lý khi phân tích sẽ xác
định các yếu tố của lao động quản lý cần có. Đó là yếu tố chất lượng và yếu tố
trách nhiệm.
Trong hai yếu tố trên, theo kinh nghiệm, yếu tố chất lượng nghề nghiệp
chiếm khoảng 70% tổng số điểm (tính bình quân) còn yếu tố trách nhiệm
chiếm khoảng 30%.
Xác định bội số và số bậc trong một bảng lương hay ngạch lương
L0 – lương cấp bậc của công nhân trong kỳ (tháng, ngày)
Q – mức lương sản phẩm của công nhân trong kỳ
T – Mức thời gian hoàn thành một đơn vị sản phẩm (tháng, ngày)
Tiền lương trong kỳ mà một công nhân hưởng lương theo chế độ trả
lương sản phẩm trực tiếp cá nhân được tính như sau:
L1 = ĐG.Q1
Trong đó:
L1: tiền lương thực tế mà công nhân nhận
Q1: số lượng sản phẩm thực tế hoàn thành
- Chế độ trả lương sản phẩm tập thể.
Chế độ này áp dụng để trả lương cho một nhóm người lao động (tổ sản
xuất…) khi họ hoàn thành một khối lượng sản phẩm nhất định. Chế độ trả
lương sản phẩm tập thể áp dụng cho những công việc đòi hỏi nhiều người
cùng tham gia thực hiện, mà công việc của mỗi cá nhân có liên quan đến
nhau.
- Chế độ trả lương theo sản phẩm gián tiếp.
Chế độ trả lương sản phẩm gián tiếp được áp dụng để trả lương cho
những lao động làm các công việc phục vụ hay phụ trợ, phục vụ cho hoạt
động công nhân chính.
- Chế độ trả lương sản phẩm khoán.
Chế độ lương sản phẩm khoán áp dụng cho những công việc được giao
khoán cho công nhân. Chế độ này được thực hiện khá phổ biến trong ngành
Sinh viên: Phạm Tiến Minh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
16
Quỹ khen thưởng từ quỹ tiền lương đối với người lao động có năng suất,
chất lượng cao, có thành tích trong công tác (tối đa không quá 10% tổng quỹ
tiền lương).
Quỹ khuyến khích người lao động có trình độ, chuyên môn, kỹ thuật cao,
tay nghề giỏi (tối đa không vượt quá 2% tổng quỹ tiền lương).
Quỹ dự phòng cho năm sau (tối đa không quá 12% tổng quỹ tiền lương)
4. Quy định trả lương gắn với kết quả lao động
Căn cứ vào đặc điểm về tổ chức sản xuất, kinh doanh, tổ chức lao động,
doanh nghiệp quy định chế độ trả lương cụ thể gắn với kết quả cuối cùng của
từng người lao động, từng bộ phận như sau.
4.1. Đối với người lao động trả lương theo thời gian: (viên chức quản lý,
chuyên môn, nghiệp vụ, thừa hành phục vụ và các đối tượng khác mà không
thể thực hiện trả lương theo sản phẩm hoặc lương khoán).
Doanh nghiệp có thể lựa chọn 1 trong 2 cách trả lương sau:
Cách 1: Trả lương theo công việc được giao gắn với mức độ phức tạp,
tính trách nhiệm của công việc đòi hỏi, mức độ hoàn thành công việc và số
ngày công thực tế, không phụ thuộc vào hệ số mức lương được xếp theo Nghị
định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ. Công thức tính
như sau:
Vt
Ti =
⋅ ni ⋅ hi
trong đó:
+ Vc: quỹ tiền lương trả trực tiếp cho người lao động
+ Vsp: quỹ tiền lương của bộ phận làm lương sản phẩm
+ Vk: quỹ tiền lương của bộ phận làm lương khoán.
- hi: là hệ số của người thứ i ứng với công việc được giao, mức độ phức
tạp, tính trách nhiệm công việc đòi hỏi và mức độ hoàn thành công việc. Hệ
số hi do doanh nghiệp xác định theo công thức:
đ +đ
1i
2i
hi = đ + đ ⋅ k
1
2
(3)
trong đó:
+ k: là hệ số mức độ hoàn thành được chia làm 3 mức: hoàn thành tốt –
hệ số 1,2 (riêng Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng phải hoàn thành kế
hoạch lợi nhuận mới được áp dụng hệ số 1,2); hoàn thành - hệ số 1,0; chưa
hoàn thành – hệ số 0,7.
+ đ1i: là số điểm mức độ phức tạp của công việc người thứ i đảm nhận
+ đ2i: là số điểm tính trách nhiệm của công việc người thứ i đảm nhận
Tổng số điểm cao nhất của 2 nhóm yếu tố mức độ phức tạp và trách
nhiệm của công việc (đ1i, đ2i) là 100%, thì tỷ trọng điểm cao nhất của đ 1i là
70% và của đ2i là 30%.
Tỷ trọng điểm đ1i, đ2i được xác định theo bảng sau:
Công việc đòi hỏi cấp trình độ
Từ đại học trở lên
18
- Đối với đ1i: căn cứ vào tính tư duy, chủ động, sáng tạo, mức độ hợp tác
và thâm niên công việc đòi hỏi, doanh nghiệp phân chia tỷ trọng điểm trong
khung theo cấp trình độ, lập bảng điểm và đánh giá cho điểm cụ thể.
- Đối với đ2i: căn cứ vào tính quan trọng của công việc, trách nhiệm của
quá trình thực hiện, trách nhiệm đối với kết quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh, với tài sản, tính mạng con người, quan hệ công tác…doanh nghiệp
phân chia tỷ trọng điểm trong khung theo cấp trình độ, lập bảng điểm và đánh
giá cho điểm cụ thể.
+ đ1 + đ2: là tổng số điểm mức độ phức tạp và tính trách nhiệm của công
việc giản đơn nhất trong doanh nghiệp.
Cách 2: Trả lương cho người lao động vừa theo hệ số mức lương được
xếp tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ, vừa
theo kết quả cuối cùng của từng người, từng bộ phận.
Công thức tính như sau:
Ti = T1i + T2i
(4)
trong đó:
- Ti: là tiền lương của người thứ i được nhận
-
T1i: là tiền lương theo Nghị định số 205/2004/NĐ-CP, được tính như
sau:
T1i = ni.ti
(5)
T2i =
m
∑n
j =1
j
⋅ hj
⋅ ni ⋅ hi
(6),
(i thuộc j)
Trong đó:
+ Vt: là quỹ tiền lương tương ứng mức độ hoàn thành công việc của bộ
phận thứ làm lương thời gian.
+ Vcđ: là quỹ tiền lương theo Nghị định số 205/2004/NĐ-CP của bộ
phận làm lương thời gian được tính theo công thức:
m
Vcđ =
∑T
j =1
(7)
Áp dụng công thức (1) hoặc (4) để tính tiền lương được nhận của từng
người.
4.2. Đối với lao động trả lương theo sản phẩm hoặc lương khoán.
a. Đối với lao động làm khoán và làm lương sản phẩm cá nhân trực tiếp,
tiền lương được tính trả theo công thức:
T = Vđg.q
Trong đó:
T: là tiền lương của một lao động nào đó;
Vđg: là đơn giá tiền lương sản phẩm, đối với làm khoán là tiền lương
khoán;
q: là số lượng sản phẩm hoặc việc khoán hoàn thành.
b. Đối với lao động làm lương khoán, lương sản phẩm tập thể thì việc
trả lương được thực hiện theo 1 trong 2 cách sau:
Sinh viên: Phạm Tiến Minh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
21
Cách 1: Trả lương theo ngày công thực tế, hệ số mức lương theo Nghị
định số 205/2004/NĐ-CP và hệ số mức độ đóng góp để hoàn thành công việc,
công thức tính như sau:
Vsp
Ti =
⋅ ni .t i .hi
ij
∑ đ1 j j
; j = 1,n
(10)
j
Trong đó:
j: là chỉ tiêu đánh giá cho điểm mức độ đóng góp để hoàn thành
công việc (có thể từ 2,3,4,…,n chỉ tiêu);
n
∑đ
i =1
ij
: là tổng số điểm đánh giá mức độ đóng góp để hoàn thành công
việc của người thứ i theo các chỉ tiêu j;
n
∑đ
j =1
1j
hệ số mức lương được xếp theo Nghị định số 205/2004/NĐ-CP, và số điểm
đánh giá mức độ đóng góp để hoàn thành công việc. Công thức tính như sau:
Vsp
Ti =
m
∑đ
j =1
j
.t j
(11), (i thuộc j)
Trong đó:
- Ti: là tiền lương của người thứ i được nhận;
- Vsp: là quỹ tiền lương sản phẩm của tập thể;
- m: là số lượng thành viên trong tập thể;
Sinh viên: Phạm Tiến Minh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
23
- ti: là hệ số cấp bậc công việc của người thứ i đảm nhận;
24
1. Thành lập Hội đồng xây dựng quy chế trả lương của doanh nghiệp do
Giám đốc làm Chủ tịch. Thành viên Hội đồng gồm: bộ phận lao động, tiền
lương là Ủy viên thường trực, đại diện tổ chức công đoàn cùng cấp; đại diện
Đảng ủy, đại diện các Phòng và một số chuyên gia giỏi trong lĩnh vực chuyên
môn, nghiệp vụ. Số thành viên cụ thể do Giám đốc quyết định.
2. Hội đồng có nhiệm vụ dự thảo quy chế và tổ chức lấy ý kiến rộng rãi
trong doanh nghiệp, sau đó hoàn chỉnh quy chế.
Giám đốc tổ chức lấy ý kiến tại Đại hội Công nhân viên chức, hoặc đại
diện các bộ phận trong doanh nghiệp, sau đó quyết định công bố chính thức.
Sau khi ban hành quy chế, Bộ phận lao động - tiền lương phối hợp với
tổ chức công đoàn cùng cấp và các bộ phận chuyên môn khác có liên quan
giúp Giám đốc triển khai thực hiện quy chế đến từng bộ phận, từng người lao
động.
3. Đăng ký bản Quy chế trả lương theo quy định
6.Vai trò của quy chế trả lương.
6.1 Đối với nhà nước
Chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính
sách kinh tế xã hội của đất nước. Chính sách này liên quan trực tiếp đến lợi
ích đông đảo người lao động trong xã hội và được nhà nước quản lý. Việc ban
hành các quy định về quy chế trả lương cho người lao động trong các loại
hình doanh nghiệp nói chung và trong các công ty nhà nước nói riêng nhằm
thực hiện chủ truơng quản lý thống nhất về tiền lương của Nhà nước.
Việc ban hành các quy định về quản lý tiền lương nói chung và quy chế
trả lương nói riêng sẽ thực hiện được vai trò quản lý của nhà nước về tiền
lương, nhà nước giúp cho các doanh nghiệp thực hiện tốt các nguyên tắc cơ
bản của tổ chức tiền lương, không bị lúng túng trong việc phân phối tiền
lương.
sản xuất, kinh doanh vì tiền lương cũng là một khoản chi phí của doanh
nghiệp, để tránh tình trạng chi phí lớn hơn doanh thu. Mặt khác, quy chế trả
lương giúp cho doanh nghiệp sử dụng quỹ tiền lươn một cách hợp lý, tránh
tình trạng quỹ tiền lương thực hiện vượt chi so với quỹ tiền lương được
Sinh viên: Phạm Tiến Minh