LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân
tôi dưới sự hướng dẫn của thầy giáo - TS. Hoàng Thúc Lân, trong đó có sự kế
thừa kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước, với những trích dẫn và sử
dụng các tài liệu trong giới hạn cho phép.
Luận văn này chưa được công bố trên các phương tiện thông tin đại
chúng cũng như không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
đã công bố trước đây.
Hà Nội, tháng 06 năm 2015
Tác giả
Chu Thị Hiên
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tập thể các thầy
cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Khoa Triết học đã đem lại cho
tác giả những kiến thức bổ trợ vô cùng có ích trong năm học vừa qua.
Đặc biệt xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo - TS.
Hoàng Thúc Lân, người đã hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình để tác giả hoàn
thành luận văn này.
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Văn
thư, Giáo vụ và đồng nghiệp tại các trường THPT chuyên Hà Nội Amsterdam,THPT Trí Đức, THPT Đào Duy Từ, THPT Afred Nobel đã giúp
đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu, thu thập số liệu thực hiện điều tra,
phỏng vấn.
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, người thân
đã luôn động viên và khuyến khích tác giả trong quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu của mình.
Hà Nội, tháng 06 năm 2015
Tác giả
Chu Thị Hiên
DANH MỤC BẢNG
Bảng
Trang
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1.
Lí do chọn đề tài
Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Non
sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới
đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không,
chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Và đúng như vậy,
học sinh Việt Nam luôn là lực lượng hùng hậu, có tiềm năng và đóng góp
quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Chính vì thế trước
lúc “đi xa” Người không quên căn dặn Đảng ta: “Bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết” [42; tr. 510].
Trong nội dung bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, Hồ Chí Minh
đặt lên hàng đầu vấn đề bồi dưỡng lý tưởng và ý chí cách mạng. Tuy nhiên, lý
tưởng và ý chí cách mạng chỉ có thể duy trì và phát triển trên nền tảng đạo
đức đúng đắn. Thiếu đi nền tảng này học sinh chưa trải qua dạn dày đấu tranh
của bố mẹ… Hiện tượng học sinh bỏ học không lý do, đi muộn, trốn tiết, quay
cóp trong giờ kiểm tra, thi cử… đã trở nên quá phổ biến; rồi học sinh thờ ơ
với các vấn đề chính trị, các hoạt động xã hội, còn mơ hồ về lý tưởng cách
mạng, ham chơi, đua đòi chạy theo lối sống thực dụng, buông thả, xa rời đạo
đức truyền thống, tiếp thu lối sống phương Tây không chọn lọc, quá coi
thường giá trị vật chất, xem thường giá trị tinh thần, có hành vi vi phạm pháp
luật, sa vào các tệ nạn xã hội… trong khi đó, yêu cầu và đòi hỏi của sự nghiệp
đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, các thế hệ học sinh đã, đang và sẽ gánh vác
những trọng trách to lớn nhưng vô cùng khó khăn, phức tạp. Chính vì thế, tại
Đại hội IX Đảng ta lại nhấn mạnh: “Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi
dưỡng đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống,
7
văn hóa, sức khỏe, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng và
sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc” [19; tr. 126].
Như vậy, trước yêu cầu khách quan và cấp bách của công cuộc đổi mới,
việc rèn luyện đạo đức cho học sinh là một nội dung quan trọng hàng đầu
trong việc rèn luyện nhân cách tuổi trẻ, là sự chuẩn bị cực kỳ hệ trọng giúp
cho học sinh bước vào sự nghiệp lập thân, lập nghiệp.
Với những lý do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Rèn luyện đạo đức Hồ
Chí Minh cho học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội hiện nay” làm luận văn
thạc sỹ Triết học của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Tưởng tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và việc rèn luyện đạo đức Hồ Chí
Minh cho thế hệ trẻ nói chung, học sinh THPT ở Hà Nội nói riêng luôn là vấn
đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Vì vậy đã có nhiều cá nhân, tập thể
tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này.
Trong Luận án Tiến sĩ với đề tài “Vai trò của đạo đức đối với sự hình
thành nhân cách cách mạng Việt Nam trong điều kiện đởi mới hiện nay”, Học
viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, (2001). Tác giả Lê Thị Thủy đã nhận
định rõ vai trò của đạo đức chung và đạo đức cách mạng nói riêng đối với quá
trình giáo dục nhân cách cho những nhóm đối tượng cụ thể ứng với điều kiện
thực tế của nền kinh tế thị trường hiện nay.
Tác giả Trần Quy Nhơn với đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh và việc bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”, (2004). Trong quá trình nghiên cứu tác
giả đã đưa ra những nội dung về tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh từ đó
khái nên tầm quan trọng của những nội dung đó đối với việc bồi dưỡng đạo
đức cho thế hệ sau - tức là thế hệ trẻ.
* Hai là, nghiên cứu về thế hệ trẻ, sinh viên, học sinh
Trong Luận án Tiến sĩ với đề tài “Giáo dục đạo đức với việc hình
thành và phát triển nhân cách sinh viên trong giai đoạn hiện nay”, Học viện
9
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, (1999). Tác giả Trần Sĩ Phán đã nêu lên vai
trò của việc giáo dục đạo đức đối với sinh viên nói riêng và thế hệ trẻ nói
chung, từ đó nêu ra những giải pháp quan trọng, thiết thực cho công tác giáo
dục đạo đức của sinh viên trong giai đoạn hiện nay.
Trong Luận án Tiến sĩ Tâm lí học với đề tài “Ảnh hưởng của truyền
thống gia đình đến định hướng giá trị của lứa tuổi thanh niên”, Đại học Sư
phạm Hà Nội, (1997), tác giả Cần Hữu Hải đã đề cập đến khía cạnh những
truyền thống lâu đời của gia đình và sự ảnh hưởng đến thế hệ trẻ. Tác giả đã
phân tích cả hai khía cạnh tích cực và hạn chế của truyền thống gia đình đến
việc định hướng giá trị sống cho thế hệ trẻ.
Trong Luận án tiến sĩ giáo dục học với đề tài “Giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp”, (2010), tác giả Phan Thanh Vân đã trình bày việc lồng ghép giáo dục kĩ
tiếp nối và phát triển của chủ nghĩa yêu nước, là sự biểu hiện trong tình cảm
và thể hiện bằng hành động xung phong ra chiến trường của thanh niên. Tác
giả đã dẫn ra những nhân vật thanh niên yêu nước điển hình trong lịch sử đấu
tranh giành lại độc lập dân tộc.
Ngoài ra còn nhiều đề tài khác nữa nghiên cứu về vấn đề đạo đức cũng
như việc giáo dục đạo đức cho thanh niên học sinh. Với những kết quả đã đạt
được về lí luận cũng như thực tiễn, hầu hết các tác giả đều thừa nhận việc làm
đó mới chỉ là kết quả ban đầu, mới chỉ là phát hiện những vấn đề. Còn trên
những khía cạnh cụ thể cần có sự đầu tư hơn nữa để nghiên cứu một cách
tổng thể, khoa học.
Xuất phát từ những mục đích nghiên cứu khác nhau, mỗi cá nhân, tập
thể nghiên cứu khoa học đã tìm hiểu, nghiên cứu những khía cạnh khác nhau
về vấn đề thế hệ trẻ và việc giáo dục thế hệ trẻ trong đó có giáo dục đạo đức.
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, song việc nghiên
11
cứu hệ thống vấn đề rèn luyện đạo đức Hồ Chí Minh cho HS THPT ở Hà Nội
hiện nay là cần thiết. Tác giả mong muốn làm rõ thêm cơ sở khoa học của
vấn đề rèn luyện đạo đức Hồ Chí Minh cho HS THPT ở Hà Nội hiện nay,
đồng thời góp phần khẳng định tính ứng dụng của đề tài trong thực tế rèn
luyện đạo đức cho học sinh.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc rèn
luyện đạo đức Hồ Chí Minh cho HS THPT ở Hà Nội hiện nay, trên cơ sở đó
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng rèn luyện đạo đức Hồ Chí
Minh cho HS THPT ở Hà Nội trong thời gian tới.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Đạo đức Hồ Chí Minh và việc rèn luyện đạo đức Hồ Chí Minh cho học
Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp logic
và lịch sử, phương pháp so sánh và hệ thống; phương pháp thực nghiệm sư
phạm, phương pháp điều tra khảo sát, phỏng vấn.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được bố cục gồm 2 chương, 7 tiết.
13
Chương 1
ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VÀ VAI TRÒ
CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY
1.1. Đạo đức và đạo đức Hồ Chí Minh
1.1.1. Đạo đức
Quan hệ xã hội là quan hệ đặc trưng của con người. Hệ thống các quan
hệ rất đa dạng và phức tạp, bao gồm quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa
cá nhân với xã hội. Trong cuộc sống, các cá nhân cần phải điều chỉnh hành vi
của mình cho phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng thông qua các chuẩn
mực xã hội. Một cá nhân biết tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với
lợi ích chung của xã hội, của người khác được coi là người có đạo đức.
Ngược lại, một cá nhân chỉ biết đến lợi ích của mình, bất chấp lợi ích của
người khác, của xã hội sẽ bị coi là người thiếu đạo đức.
Như vậy, đạo đức là một hiện tượng xã hội - là một hình thái ý thức đặc
biệt phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ thực tế cuộc sống con
người, của xã hội loài người hướng tới chân, thiện, mỹ. Trong đời sống của
mỗi người, quy luật xã hội tất yếu đòi hỏi họ phải tự ý thức được ý nghĩa,
mục đích, hành vi, hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con
người tự giác điều chỉnh hành của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng
đồng, của xã hội.
Từ khái niệm trên ta có thể thấy rằng đạo đức được hình thành một
cách tự nhiên trong xã hội, trong sự giao tiếp mối quan hệ giữa người với
người. Và sự điều chỉnh hành vi con người của phạm trù đạo đức rất khác so
với các phạm trù khác như pháp luật, phong tục, tập quán. Sự điều chỉnh hành
15
vi của pháp luật là sự điều chỉnh hành vi mang tính bắt buộc, cưỡng chế. Đó
là sự điều chỉnh thông qua những yêu cầu tối thiểu, được quy định bằng các
văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước, buộc các cá nhân và tổ chức phải
tuân theo để đảm bảo lợi ích chung cho xã hội. Trong khi đó, sự điều chỉnh
hành vi của đạo đức lại mang tính tự nguyện và thường là những yêu cầu cao
của xã hội đối với con người. Trong thực tế, có những trường hợp hành vi của
cá nhân tuy không vi phạm pháp luật nhưng có thể vẫn bị phê phán về mặt
đạo đức. Vậy nên mới có câu nói: “pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là
pháp luật tối đa của con người”.
Thực tế cuộc sống chứng minh rằng, cùng với sự vận động và phát triển
của lịch sử xã hội, các quy tắc, chuẩn mực của đạo đức cũng biến đổi theo.
Lịch sử nhân loại đã từng tồn tại nhiều nền đạo đức xã hội khác nhau và các
nền đạo đức này luôn bị chi phối bởi quan điểm và lợi ích của giai cấp thống
trị. Chẳng hạn, trong chế độ phong kiến, “trung” là trung thành một cách vô
điều kiện với vua, vua bảo thần chết là thần phải chết, thần không chết thần
bất trung. Ngày nay, “trung” có nghĩa là trung thành với lợi ích của đất nước,
của nhân dân.
Vai trò của đạo đức được thể hiện:
Thứ nhất, đối với cá nhân: đạo đức giúp hoàn thiện nhân cách con
người. Đạo đức giúp cá nhân có ý thức và năng lực sống thiện, sống có ích,
bức bóc lột, đô hộ của bọn chúa đất và thực dân xâm lược.
Về chính trị: tình hình chính trị rối ren, khắc nghiệt, sự chèn ép khắt
khe của bọn địa chủ phong kiến, sự áp bức, bóc lột tàn khốc của thực dân
khiến cho đời sống của nhân dân thời điểm đó trở nên ngột ngạt. Khát khao tự
do, khát khao sống của con người bị đè bẹp, bị vùi dập dường như không lối
thoát. Trong xã hội chia ra nhiều giai tầng khác nhau, từ đó nảy sinh nhiều
mâu thuẫn, tiêu biểu nhất là: mâu thuẫn giữa địa chủ phong kiến và nông dân,
17
giữa đế quốc và nông dân, thực dân và công nhân, giữa địa chủ phong kiến và
thực dân… đặc điểm của các giai cấp trong xã hội Việt Nam có sự chuyển
biến mạnh mẽ, đồng thời xuất hiện giai cấp mới. Cụ thể sau:
Giai cấp địa chủ phong kiến: Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm
chiếm nước ta một số bộ phận thuộc giai cấp địa chủ đã đầu hàng, làm tay sai
cho thực dân Pháp, số lượng ngày càng đông, địa vị kinh tế và chính trị được
tăng cường - dựa vào đế quốc ra sức tước đoạt ruộng đất của nông dân và
ngày càng giàu có. Do chính sách cai trị của thực dân, giai cấp địa chủ phong
kiến thành chỗ dựa cho Pháp, được Pháp trọng dụng, nâng đỡ và nắm các
chức dịch làng xã.
Giai cấp nông dân: Số lượng đông đảo nhất ở vùng nông thôn, cuộc
sống của họ vốn cơ cực trăm bề, nay dưới tác động của cuộc khai thác của
bọn thực dân lại càng điêu đứng hơn, họ bị tước đoạt ruộng đất, phải chịu
hàng trăm thứ thuế và các khoản phụ thu của các chức dịch trong làng, xã. Do
vậy, giai cấp nông dân thời kì này có nhiều xáo trộn, nhiều nông dân bị phá
sản đã ở lại nông thôn làm tá điền cho địa chủ, đi làm phu cho các đồn điền
Pháp, ra thành thị kiếm ăn - cắt tóc, kéo xe, đi ở ..., một số ít làm công ở nhà
máy, hầm mỏ của tư bản Pháp ở Việt Nam. Do vậy, họ căm ghét chế độ thực
dân, phong kiến cộng với ý thức dân tộc sâu sắc, nông dân sẵn sàng hưởng
lợi của nhân dân ngày càng bị thu hẹp, dân tộc Việt Nam bị mất quyền tự do,
mất tính chủ quyền dân tộc và trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Về văn hóa- xã hội: trong thời gian này văn hóa cũng có nhiều biến đổi.
Nền văn hóa truyền thống, bản địa có sự du nhập, tiếp biến những nền văn
hóa mới. Trong đó ảnh hưởng lớn nhất phải kể đến đó là Phật giáo từ Ấn Độ,
Đạo giáo và Nho giáo từ Trung Quốc. Chính điều đó phần nào làm cho lễ
giáo phong kiến đã khắt khe nay lại càng trở nên khắt khe hơn trong xã hội.
Tính gia trưởng, đặc quyền của người đàn ông trong gia đình khiến cho người
phụ nữ phải chấp nhận cuộc sống “an phận thủ thường”.
19
Trước sự áp bức bóc lột đó nhân dân Việt Nam đã liên tiếp nổi dậy
chống lại ách thống trị của bọn thực dân, chúa đất dưới ngọn cờ của nhiều nhà
yêu nước nối tiếp nhau như: phong trào đấu tranh do Nguyễn Trung Trực lãnh
đạo (1861 - 1868) ở Nam Bộ đến khởi nghĩa Hương Khê (do Phan Đình
Phùng ở Bắc trung bộ), khởi nghĩa Bãi Sậy ở đồng bằng sông Hồng, khởi
nghĩa nông dân Yên Thế (1883 - 1919) ở vùng núi phía Bắc, các sĩ phu yêu
nước dưới ngọn cờ Cần Vương (1885 - 1896), phong trào Đông Du (1904 1908), Đông Kinh Nghĩa Thục đầu thế kỉ XX do các sĩ phu yêu nước có tư
tưởng cải cách theo hướng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu, Phan Châu
Trinh… Tuy nhiên, do không có đường lối, chính sách đúng đắn nên hầu hết
các cuộc đấu tranh đó cuối cùng đều thất bại. Nhưng qua đó phần nào đã đem
lại niềm tin cho nhân dân, đã khơi gợi lên tinh thần yêu nước cho dân tộc Việt
Nam, đồng thời các cuộc khởi nghĩa đó đã thể hiện ý chí quật cường của dân
tộc ta, thể hiện tinh thần yêu nước, yêu dân của dân tộc Việt Nam.
Đứng trước tình cảnh nước mất nhà tan, đời sống nhân dân cơ cực. Hồ
Chí Minh, lúc đó tên là Nguyễn Văn Ba đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu
nước. Dù biết bao phong ba bão táp, biết bao nguy hiểm gian truân nhưng
Người luôn quyết tâm vì sự nghiệp cao cả, vì dân tộc Việt Nam. Người nói
“Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào… Tôi chỉ có
và tâm của nhà cách mạng - nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh.
Tiếp đó là tình đoàn kết, nhân nghĩa, tương thân tương ái. Dù già hay
trẻ, dù trai hay gái, giàu hay nghèo, miền xuôi hay miền ngược… bất kể là ai,
cứ là Việt Nam thì đều biết và hiểu đạo lý cao quý đó. Đạo lý “lá lành đùm lá
rách” đã ăn sâu vào trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam. Truyền
thống đó cũng là sức mạnh của toàn dân tộc để đánh bại mọi kẻ thù, mọi áp
bức bóc lột, gông xiềng, và mỗi ai, nhất là những nhà lãnh đạo cách mạng đều
coi trọng tinh thần đoàn kết của nhân dân, của dân tộc. Nếu không có sức
21
mạnh đó thì sao người lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ, thì sao dân tộc ta có thể
đánh bại kẻ thù, xây dựng đất nước trong mọi thời kỳ và tốt đẹp như ngày
hôm nay. Chẳng vậy mà ông cha ta luôn nhắc câu:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
(ca dao tục ngữ Việt Nam).
Hay Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.
Dân tộc Việt Nam có truyền thống lạc quan, yêu đời, tin tưởng ở tương
lai. Vì đó, trong muôn vàn khó khăn, gian khổ người dân Việt Nam vẫn luôn
động viên nhau, giúp đỡ nhau để vượt qua. Hơn thế nữa, điều đó cũng được
người dân đưa vào ca dao tục ngữ, thành những câu châm ngôn để khích lệ,
động viên nhau. Chẳng hạn: “Thuận vợ thuận chồng, tát biển đông cũng
cạn”, “có công mài sắt có này nên kim”, “có sức người sỏi đá cũng thành
cơm”, “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”... Cũng chính nhờ có truyền
thống này mà dân tộc ta có một niềm tin vững chắc của sức mạnh nội sinh, tin
vào sự chiến thắng của chân lí, của chính nghĩa.
Dân tộc Việt Nam có truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng
Đó là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của Hồ
Chí Minh, nhờ đó mà Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đã có bước phát triển
về chất từ một người yêu nước trở thành một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, tìm ra
con đường cứu nước đúng đắn. Chính trên cơ sở của lý luận Mác - Lênin đã
giúp Người tiếp thu và chuyển hoá những nhân tố tích cực, những giá trị và
tinh hoa văn hoá của dân tộc và của nhân loại để tạo nên tư tưởng của mình
phù hợp với xu thế vận động của lịch sử. Vì vậy, trong quá trình hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh thì chủ nghĩa Mác-Lênin có vai trò to lớn, là cơ sở, nguồn
gốc chủ yếu nhất.
23
Chính bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định trong cuốn
sách Đường Kách Mệnh được viết năm 1927 cuốn sách vỡ lòng cho chiến sĩ
cách mạng đầu tiên của Việt Nam: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa
nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là
chủ nghĩa Mác - Lênin” [54; tr. 268].
Điều quan trọng là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin như thế nào? Đây là một vấn đề quan trọng và cũng đã có rất nhiều giải
đáp khác nhau. Có quan điểm cho rằng Hồ Chí Minh ‘bê” nguyên chủ nghĩa
Mác – Lênin vào Việt Nam mà không có sự sáng tạo gì cả; có quan điểm lại
cho rằng đó là sự bắt trước, dập khuôn, máy móc… đó toàn là những quan
điểm sai lầm. Thực sự vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng ra sao chủ
nghĩa Mác - Lênin đã được thực tế cuộc sống chứng minh, nếu như ai đọc
những cuốn sách mà Người viết, nghe những lời mà Người nói, nhìn những
việc Người làm thì sẽ có cách nhìn nhận, đánh giá khác ngay thôi.
Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin với một tinh thần vừa sâu
sắc, vừa sáng tạo. Sâu sắc vì đã nắm được tinh thần của Mác, Ăngghen, Lênin
về bản chất và tính tất yếu của những cái gọi là chính nghĩa, hợp khách quan
và thực tiễn. Người đã tiếp thu một cách đầy chon lọc và sáng tạo Chủ nghĩa
Mác – Lênin về tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến
Hồ Chí Minh đã được hình thành từ quá trình Hồ Chí Minh, với tư cách là
chủ thể văn hóa, tiếp nhận tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn
hóa nhân loại”. Văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh là sự thống nhất hữu cơ,
không thể tách rời giữa tư tưởng đạo đức và thực tiễn đời sống đạo đức của
Người, là hiện thân sinh động, chân thực, cảm động về trí tuệ - tình cảm - tâm
hồn - lối sống và nhân cách Hồ Chí Minh - con người Việt Nam đẹp nhất, là
bản sắc độc đáo của văn hóa đạo đức dân tộc gắn liền với tầm cao tư tưởng
đạo đức của thời đại cách mạng và tiếp biến được những tinh hoa văn hóa đạo
đức của nhân loại.
25