TIỂU LUẬN GIÁO DỤC CÔNG DÂN: Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN

TIỂU LUẬN
Đề tài: Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục

pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở
trường THPT

Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt Thắng
Học viên:

Đặng Thị Phượng

Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A

Hà Tĩnh, năm 2015


MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. 1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chất lượng của giáo dục đào tạo nói chung, chất
lượng giáo dục đại học nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất
nước trong giai đoạn hiện nay.
1. 2. Xuất phát từ tầm quan trọng của các bộ môn Giáo dục công dân nói chung, mảng
kiến thức giáo dục pháp luật nói riêng trong việc hình thành, phát triển nhân cách, rèn
giũa, định hướng, giáo dục hành vi đúng đắn cho học sinh. Đặc biệt, trong điều kiện
phát triển xã hội chủ yếu dựa trên nền kinh tế tri thức, cộng với trình độ phát triển cao
của hoạt động dạy học và giáo dục trên thế giới thì việc áp dụng các phương pháp dạy
học tích cực (trong đó có phương pháp dạy học tình huống) là việc làm cần thiết đối
với giáo viên dạy môn Giáo dục công dân.

môn Giáo dục công dân.
5. NHIỆM VỤ VÀ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5. 1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra thực trạng việc dạy và học môn GDCD tại trường THPT Nguyễn Huệ
- Nghiên cứu, tổng hợp và khái quát hóa các cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu hiệu quả của việc áp dụng PPNCTH vào dạy học môn Giáo dục công
dân ở trường THPT Nguyễn Huệ
- Xây dựng tuyển tập hệ thống bài tập tình huống trong dạy học môn Giáo dục công
dân
5. 2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Những năm gần đây
- Không gian: Tại trường THPT Nguyên Huệ
- Nội dung: nghiên cứu phương pháp dạy học tình huống và áp dụng vào thực tiễn
giảng dạy môn GDCD hiện nay.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6. 1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc sách, nghiên cứu tài liệu và tổng kết lý
thuyết.
6. 2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thực nghiệm, khảo sát điều tra,
đo đạc xử lý kết quả bằng thống kê toán học và các phương pháp khác như phỏng vấn
sâu, tổng kết kinh nghiệm, quan sát, lịch sử, logic.
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
7. 1 Đề tài nghiên cứu tổng kết, hệ thống hóa các cơ sở lý luận, các quan điểm về
PPNCTH trong dạy học.
7. 2. Bước đầu vận dụng và rút ra kinh nghiệm cho công việc giảng dạy của giáo viên
GDCD
7. 3. Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, học sinh.
8. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, phụ lục, Tiểu luận kết cấu thành 02 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương II: Tiến trình thực hiện nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu

đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, nhưng phương pháp học có ảnh hưởng trở
lại đối với phương pháp dạy.
Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương pháp học
cũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.
Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý, và bằng
lôgic của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra, đánh
giá) sự học tập của trò. Trong bản thân phương pháp dạy, hai chức năng này gắn bó
hữu cơ với nhau, chúng không thể thiếu nhau được. Trong thực tiễn, nhiều giáo viên
chỉ chăm lo việc truyền đạt mà coi nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên phải kết hợp hai
4


chức năng trên đây bằng chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp lý của bài giảng, thầy
vừa giảng vừa truyền đạt ), vừa đồng thời điều khiển việc tiếp thu ban đầu và cả việc
tự học của trò. Vì vậy phương pháp dạy chính là mẫu, là mô hình cơ bản cho phương
pháp học trong tất cả các giai đoạn của sự học tập.
Còn về phía học sinh, khi học tập vừa phải tiếp thu bài thầy giảng, lại vừa phải
tự điều khiển quá trình học tập của bản thân. Nói cách khác, học sinh phải tiếp thu nội
dung do thầy truyền đạt, đồng thời dựa trên toàn bộ lôgic bài giảng của thầy mà tự lực
chỉ đạo sự học tập của bản thân ( tự định hướng, tự tổ chức, tự thực hiện, tự kiểm tra đánh giá ). Người học sinh giỏi thường là người biết nắm bắt được lôgic cơ bản của
bài giảng của thầy, rồi tự sáng tạo lại nội dung đó theo lôgic của bản thân. Vậy, trong
phương pháp học, hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo gắn bó chặt chẽ với nhau, thâm
nhập vào nhau, bổ sung cho nhau, như hai mặt của cùng một hoạt động.
Dạy tốt, học tốt, xét về mặt phương pháp phải là sự thống nhất của dạy với học,
và đồng thời cũng là sự thống nhất của hai chức năng riêng của mỗi hoạt động truyền
đạt và chỉ đạo trong dạy; tiếp thu và tự chỉ đạo trong học. Nói cách khác, dạy học tối
ưu phải là sự dạy học mà trong đó, về mặt phương pháp, bảo đảm được cùng một lúc
ba phép biện chứng:
Giữa dạy và học.
Giữa truyền đạt và chỉ đạo trong dạy.

toán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyết
được, kết quả là họ nắm được tri thức mới. Trong đó, vấn đề học tập là những tình
huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa cái (kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giải
quyết”.
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta
chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới
mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này kích thích con người
tìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt
động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động
tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết vấn đề”.
Xét về khía cạnh tâm lý thì: “Tình huống là trạng thái tâm lý độc đáo của con
người gặp chướng ngạy nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu giải quyết
mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước, mà bằng tìm tòi sáng tạo tích
cực đầy hứng thú, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương pháp giành kiến
thức và cả niềm vui sướng của người phát hiện kiến thức”.
Qua một số định nghĩa ta có thể hiểu tình huống có vấn đề trong dạy học là:
tình huống học tập mà khi học sinh tham gia thì gặp một số khó khăn, học sinh ý thức
được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khả năng của mình thì
hy vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào việc giải quyết vấn đề đó. Nghĩa là
tình huống đó kích thích hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, đề xuất vấn đề và
giải quyết vấn đề đã đề xuất.
Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm
vụ cần giải quyết, một vướng mắt cần tháo gỡ. Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu
và giải quyết tình huống sẽ là những tri thức mới , nhận thức mới hoặc phương thức
hành động mới đối với chủ thể.
Có ba yếu tố tạo thành tình huống có vấn đề:
Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học.
6


lý luận và thực tiễn. Nếu chỉ có kiến thức lý luận lý thuyết thì giáo viên không đưa ra
được những tình huống, hoặc có đưa ra thì cũng không đúng với nội dung hoặc không
sát thực tế. Từ đó làm cho người học không định hướng được cách giải quyết tình
huống, hoặc giải quyết sai.
1. 1. 2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
1. 1. 2. 1. Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng tình huống
Với tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung
tâm, dạy học bằng tình huống có những ưu điểm sau đây:
7


Thứ nhất: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học dễ hiểu và dễ
nhớ các vấn đề phức tạp’’. Thông qua các tình huống được phân tích, thảo luận, người
học có thể tự rút ra những kiến thức lý luận bổ ích và ghi nhớ những kiến thức này một
cách dễ dàng trong thời gian dài. Nếu học lý thuyết, người học có thể rơi vào tình
trạng “học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không hiểu nên rất mau quên thì phương pháp
giảng dạy tình huống giúp người học hiểu được vấn đề một cách sâu sắc gắn liền với
quá trình giải quyết tình huống đó.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học nâng cao khả
năng tư duy độc lập, sáng tạo”. Nếu trong phương pháp dạy học truyền thống, quá
trình tiếp nhận thông tin diễn ra gần như một chiều giữa giáo viên và học sinh, trong
đó giáo viên là người truyền đạt tri thức và học sinh là người tiếp nhận tri thức đó thì
phương pháp dạy học bằng tình huống tạo ra một môi trường học tích cực có sự tương
tác giữa học sinh và giáo viên, giữa các học sinh với nhau. Trong đó, học sinh được
đặt vào trong một hoàn cảnh buộc họ phải ra quyết định để giải quyết tình huống và họ
phải dùng hết khả năng tư duy, kiến thức vốn có của mình để lập luận bảo vệ quan
điểm đó. Họ không bị phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của giáo viên khi giải quyết
một tình huống cụ thể mà có thể đưa ra các phương án giải quyết sáng tạo. Bên cạnh
đó, dạy học bằng tình huống còn giúp người học có thể chia sẻ tri thức, kinh nghiệm
cho nhau; học được những ý kiến, quan điểm, thông tin từ những bạn học khác làm

năng và thái độ thì phương pháp dạy học bằng tình huống nếu được áp dụng tốt có thể
đạt được cả ba mục tiêu này.
Thứ sáu: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho học sinh có khả năng
nghiên cứu và học tập suốt đời, tăng cường khả năng tự định hướng trong học tập của
học sinh, phù hợp với nhu cầu và sở thích của cá nhân người học”. Thông qua việc
phân tích và thảo luận vấn đề, học sinh học được cách tiếp cận và giải quyết các vấn
đề khác nảy sinh trong tương lai, biết cách tìm kiếm thông tin và trở thành người có
thể tự định hướng học tập và nghiên cứu sau khi đã tốt nghiệp.
Thứ bảy: “Phương pháp dạy học bằng tình huống làm tăng sự hứng thú của
phần lớn học sinh đối với môn học”. Trong phương pháp học bằng tình huống, học
sinh là người chủ động tìm kiếm tri thức và quyết định kiến thức nào cần được nghiên
cứu và học hỏi. Việc thảo luận cũng làm tăng hứng thú của học sinh đối với việc học
vì nó kích thích người học tham gia tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu,
tìm ra giải pháp, tranh luận và lý giải vấn đề khoa học để bảo vệ quan điểm của mình.
Sau khi thảo luận, học sinh vẫn có nhu cầu tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề để trả
lời những câu hỏi được đặt ra trong buổi thảo luận.
Cuối cùng: Giáo viên với vai trò là “điều phối viên” trong một lớp học bằng
tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học sinh, đồng thời
họ cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin, giải pháp mới từ học viên
để làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài giảng của mình, nhất là từ những học
sinh có tư duy nhanh nhẹn sáng tạo. Qua quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu tình
huống, giáo viên cũng có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tình
huống và có những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.
1. 1. 2. 2. Hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình huống
còn có một số điểm hạn chế nhất định.
Thứ nhất: “Đối với các môn học là ngành khoa học xã hội, khi giảng dạy bằng
tình huống, các vấn đề xã hội thường được giải thích theo nhiều quan điểm khác nhau
9


1. 1. 3. 1. Các loại tình huống dạy học
Áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống cho phép giáo viên sử dụng
tình huống một cách rất linh hoạt. Tình huống có thể được dùng trong quá trình thuyết
giảng hay để phục vụ giờ thảo luận như là trọng tâm của bài học. Tùy thuộc vào từng
bối cảnh sử dụng, có thể chia tình huống theo mức độ phức tạp của nó thành những
loại như sau:
Loại 1 – Tình huống đơn giản: “Loại này bao gồm các tình huống dưới dạng
các ví dụ minh họa với tình tiết đơn giản. Độ dài của các tình huống này thường chỉ
10


khoảng 4 - 5 câu. Các tình huống đơn giản có thể dùng ngay trong bài thuyết giảng của
giáo viên nhằm hai mục đích: (1) minh họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và
(2) kích thích học sinh tư duy tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.
Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp hơn
Loại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp giờ thuyết
giảng. Các tình huống phức tạp cần đủ dài vài bao gồm một hoặc một số vấn đề nhằm
gợi mở kiến thức bắt đầu giờ thuyết giảng của một bài học mới. Các tình huống này
cần được giao trước cho học sinh cùng với tài liệu hướng dẫn để học sinh đọc. Các
tình huống không cần quá khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho học sinh nghiên cứu
và ghi nhớ những khái niệm khởi đầu của bài học”.
Loại 3 – Tình huống đầy đủ: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp nhất
và được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này là để học sinh áp
dụng các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải quyết các vụ việc trong thực
tiễn và qua đó học thêm kiến thức mới. Loại tình huống này yêu cầu học sinh không
những phải nghiên cứu tài liệu được giao mà còn phải thực hiện các bước chuẩn bị
theo yêu cầu của giáo viên. Phương pháp nêu vấn đề sẽ hỗ trợ để giải quyết tình
huống, trong đó học sinh là người làm việc chính và giáo viên là người hướng dẫn cho
học sinh. Về nội dung, tình huống này có độ phức tạp cao nhất. Nó thường bao gồm ít
nhất ba vấn đề xuyên suốt trong một hay nhiều bài học và do đó yêu cầu về sự chuẩn

thu. Việc giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải giải quyết một số vấn đề
nhỏ khác và nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được xác định. Trên cơ sở các vấn
đề và tiểu vấn đề, giáo viên sẽ xây dựng các tình tiết sự kiện để hình thành một tình
huống hoàn chỉnh. Ở bước cuối cùng này, giáo viên có thể có hai cách để xây dựng
tình tiết sự kiện. Thứ nhất, giáo viên có thể dựa trên những vụ việc đã xảy ra và đã
được giải quyết một cách sáng tạo. Nếu có những vụ việc liên quan tới những nội dung
kiến thức mà giáo viên đang muốn học sinh tìm hiểu thì giáo viên có thể lấy tình tiết
của vụ việc đó rồi điều chỉnh tình tiết sự kiện cho phù hợp với yêu cầu của mình. Thứ
hai, nếu không tìm được vụ việc thực tế thì giáo viên có thể tự xây dựng nên một tình
huống giả định. Trong trường hợp này các tiêu chuẩn của một tình huống tốt như phân
tích trên đây phải được tuân thủ”.
Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong quá trình
dạy học bằng tình huống .
1. 2 Thực trạng của việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học môn
GDCD ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Huệ
1. 2. 1 Đặc điểm của địa bàn khảo sát
Như chúng ta đã biết mục tiêu của Giáo dục chính là đào tạo thế hệ trẻ, đáp ứng
nhu cầu của đất nước theo từng giai đoạn phát triển. Trước hết phải kể đến đó chính là
xã hội, gia đình và bản thân ngành giáo dục còn chú trọng các môn khoa học nhằm
nâng cao trí tuệ mà chưa chú ý nâng cao cho học sinh, nghĩa là chỉ chú ý đến rèn tài
mà nhân cách chưa rèn đạo đức.
Thời gian dành cho bộ môn này còn ít (1 tiết/tuần). Sách giáo khoa hiện nay nội
dung phong phú, hợp với lứa tuổi học sinh theo từng cấp học nhưng nếu giáo viên
thiếu sự đầu tư thì giờ học sẽ nhàm chán, học sinh không thích học bộ môn này. Hơn
thế nửa kiến thức môn học liên quan đến pháp luật cho nên rất khô khan do đó học
sinh không hứng thú học. Trong thời gian tôi giảng dạy, tôi thấy tình trạng học sinh
không học bài củ, không xem bài mới còn phổ biến, khi đưa ra một yêu cầu về nhà sưu
tầm tranh anhr viết cảm nghĩ thì học sinh không có hứng thú làm, có làm cũng là miễn
12


* Về phía học sinh
- Học sinh luôn có suy nghĩ và cho rằng đây là một bộ môn phụ nên học sinh ít
quan tâm chưa chư ý đên việc học ,đặc biệt các em chưa thấy được tầm quan trọng
của pháp luật do đó chưa mấy quan tâm đến vấn đề pháp luật , còn có thái độ xem
thương cố tình không hiểu không biết hoặc chưa thực sự tìm hiểu về vấn đề này này
, mà còn có thái độ bình thường, chưa phát huy được tính tích cực trong học tập.
- Học sinh xuất hiện tâm lí coi nhẹ, chủ quan trong bộ môn . Các em thường cho
rằng kiến thức của bộ môn nhẹ , không có tác dụng nhiều trong việc học tập nên
13


thiếu quan tâm, thậm chí bỏ rơi bộ môn khi thấy mình đã có đủ cơ số điểm cần thiết.
Vì vậy nên khi được hỏi, khai thác sâu vào vấn đề các em thường tỏ ra lúng túng
hoặc không thể trả lời câu hỏi.
* Về phía giáo viên
Một số giáo viên trong các nhà trường chưa thực sự hiểu hết ý nghĩa, tầm quan
trọng của bộ môn GDCD , đặc biệt là việc giáo dục pháp luật trong môn GDCD. Do
đó quá trình vân dụng tích hợp PL vào trong bài dạy còn gặp nhiều khó khăn nên
trong quá trình giảng dạy thường chỉ tập trung vào kiến thức đặc thù của bộ môn mà
thiếu sự quan tâm, liên hệ với các bộ môn khác , thiếu sự phối kết hợp giữa các giáo
viên .
- Do đặc thù bộ môn nên việc biên soạn bài tập tình huống cho phù hợp trong giờ
dạy GDCD của GV luôn gặp khó khăn , mà sách để giáo viên tham khảo về tình
huống lại ít
- HS chưa quan tâm nhiều đến việc xử lý những tình huống trong cuộc sống ,

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương I đã đi sâu phân tích các nội dung cơ bản làm cơ sở lý luận cho đề tài
nghiên cứu như trình bày tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới và Việt
Nam, giải thích những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài. Đặc biệt, tác giả đã trình

- Anh Hải và chị Hà đã vi phạn vào điều luật nào của luật HN& GĐ ?
Nhóm 3: Bố mẹ anh Tuấn hoàn cảnh gia đình khó khăn. Khi tổ chức đám cưới anh đã
bàn bạc với cha mẹ nên tổ chức tiết kiệm trang trọng và vui vẻ. Nhưng gia đình cô
dâu đã không đồng ý và cho rằng làm như vậy là làm giảm giá trị con gái họ.
Hỏi : - Em có đồng ý với ý kiến của gia đình cô dâu không ? vì sao ?
- Nếu là hàng xóm của gia đình cô dâu em sẽ giải thích như thế nào cho họ
hiểu ?
Ví dụ: Đối với Bài 14 ( lớp 11) Chính sách quốc phòng an ninh, có thể cho HS
thảo luận tình huống
Hùng đã tốt nghiệp THPT nhưng chưa đỗ đại học, đợt này, Hùng có giấy gọi nhập
ngũ. Bố Hùng đã tìm cách xin cho Hùng ở lại. Theo em, Hùng cần phải làm gì? Vì
sao?
Việc thảo luận tình huống này có thể dùng để chuyển tiếp từ mục 2 sang mục 3” Trách nhiệm của công dân đối với chính sách quốc phòng và an ninh” Hoặc dùng để
củng cố khi kết thúc mục 3
Ví dụ: Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống
xã hội
GV có thể sử dụng tình huống ở mục 2. Bình đẳng trong lao động
Tình huống : Anh Hoàng cùng giám đốc Công ti vận tải Y thỏa thuận về kí kết hợp
đồng lao động, theo đó, anh Hoang được nhận vào làm việc tại Công ti này với thời
hạn xác định. Thế nhưng, trong hợp đồng lại không ghi rõ anh Hoàng sẽ làm việc gì.
Theo anh Hoàng việc làm như vậy là trái pháp luật nên anh đã đề nghị bổ sung về nội
15


dung này. Thế nhưng ông giám đốc thì nhất định không nghe vì ông cho rằng sau này
anh Hoàng làm gì là thuộc quyền quyết định của ông mà không cần phải gi rõ trong
hợp đồng. Thấy vậy anh Hoàng đã từ chối kí hợp đồng.
- Anh Hoàng có quyền được ghi rõ trong hợp đồng về công việc phải làm không ?
- Anh Hoàng có quyền thỏa thuận với Giám đốc về những nội dung được ghi trong
hợp đồng không ?

nhận thức theo nội dung SGK.
16


Ví dụ : Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản.
GV có thể sử dụng tình huống sau khi giảng phần thế nào là quyền bất khả xâm
phạm về thân thể của công dân.
Tình huống 1: Cá nhà anh Hùng chỉ trong một đêm cà chết đầy ao. Anh Hùng khẳng
định anh Mạnh là thủ phạm ( vì ao cá nhà anh Mạnh ở gần kề đó). Dựa vào lời khai
của anh Hùng, công an xã bắt anh Mạnh và buộc anh Mạnh nhận tội.
GV đặt câu hỏi cho HS :
Hành động của Công an xã bắt anh Mạnh và buộc anh Mạnh nhận tội đã đúng chưa?
Nếu là em thì em sẽ xử lý như thế nào?
Tình huống 2: Tại một ngã tư đường phố, Hùng chứng kiến một tên trộm đang loay
hoay trộm xe máy. Thấy vậy Hùng đã hô lên và đuổi theo để bắt tên trộm, tuy nhiên do
khoảng cách khá xa nên tên trộm đã chạy thoát. Hôm sau khi đi chơi Hùng đã gặp lại
tên trộm đó.
- Khi thấy tên trộm đang loay hoay trộm xe máy. Hùng có được đuổi bắt tên trộm
không? Tại sao ?
- Hôm sau khi gặp lại tên trộm, nếu em là Hùng trong trường hợp này em sẽ làm gì?
GV hướng dẫn HS tìm hiểu những vấn đề liên quan đến tình huống .
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên có thể sử dụng rất nhiều phương pháp
khác nhau. Tuy nhiên vấn đề là dùng phương pháp nào đem lại hiệu quả giảng dạy tối
ưu, học sinh chiếm lĩnh tri thức nhanh nhất và khắc sâu kiến thức nhất. Thông thường
khi giảng bài này giáo viên thường đưa ra các tình huống liên quan đến bài học, giáo
viên phân tích tình huống và giảng giải sau đó yêu cầu học sinh rút ra kiến thức cơ
bản của bài học. Nhưng nếu các đơn vị kiến thức trong bài đều sử dụng một phương
pháp thì tiết học sẽ trở nên nhàm chán, không kích thích được sự hứng thú của học
sinh.Tuy nhiên cũng bằng phương pháp tình huống được sử dụng một cách sáng tạo
hơn, kết hợp với phương pháp làm việc theo nhóm để phát huy tính chủ động, tự giác,

trình báo với công an xã yêu cầu giải quyết. Dựa vào lời khai của Minh nên công
an xã đã ngay lập tức bắt An”.
Trong tình huống trên công an xã đã vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của
công dân. Cụ thể: Công an xã bắt người khi không có căn cứ chứng tỏ An là người lấy
cắp điện thoại.
Tình huống của nhóm 2: “Phong và Mai cưới nhau đã 2 năm. Nhưng Phong
vốn là người hay nhậu nhẹt. Nay tuy đã có con nhưng Phong hầu như không làm
gì để phụ vợ nuôi con mà vẫn thói nào tật ấy, say xỉn tối ngày. Đã thế, rượu vào là
Phong chửi vợ, có khi Phong còn đánh đập và đuổi vợ ra khỏi nhà. Nhiều lần
Phong còn đe dọa giết vợ”.
Như vậy, Phong đã xúc phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của
vợ mình.
Đây là những hành vi trái với quy định của pháp luật về quyền được pháp luật bảo
hộ và tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân. Hiến pháp năm 2013
đã ghi rõ và quy định thành nguyên tắc trong bộ luật hình sự nước ta.Quyền này có
nghĩa là: Công dân có quyền được pháp luật bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe,
danh dự và nhân phẩm mà không ai được xâm phạm tới.
+ Không ai được đánh người, đặc biệt nghiêm cấm những hành vi hung hãn, côn
đồ, đánh người gây thương tích, làm tổn hại đến sức khỏe của người khác…
+ Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng của người khác như giết
người, đe dọa giết người, làm chết người.
18


+ Không ai ,dù ở bất cứ cương vị nào có quyền xâm phạm tới danh dự và nhân
phẩm của người khác.Trong xã hội ta, danh dự và nhân phẩm của cá nhân được
tôn trọng và bảo vệ.
Mọi hành vi xâm phạm tới sức khỏe, tính mạng, danh dự, và nhân phẩm của công dân
đều vừa trái với đạo đức xã hội,vừa vi phạm pháp luật, phải bị xử lí theo pháp luật.
Tình huống của nhóm 3: “Bị một tên trộm ăn cắp điện thoại, hai người đàn ông

1. Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau.
19


Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy
tín của nhau .
Điều 23. Giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt (trích)
Vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp; học
tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người
* Trong quan hệ tài sản:
Tình huống: “Người chồng do quan niệm vợ mình không đi làm, chỉ công việc ở nhà
nội trợ, không thể quyết định được việc lớn, nên khi bán xe ô tô (tài sản chung của vợ
chồng đang sử dụng vào việc kinh doanh của gia đình) đã không bàn với vợ. Người vợ
phản đối, không đồng ý bán”.
Hỏi: Theo em người vợ có quyền đó không? Vì sao?
Trong quan hệ tài sản: Vợ chồng có quyền ngang nhau về sở hữu tài sản chung (quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt); Vợ chồng có quyền có tài sản chung
và tài sản riêng. Tạo cơ sở củng cố tình yêu vợ chồng, sự bền vững hạnh phúc gia
đình.
HSTL, bổ sung...: Người vợ có quyền phản đối vì theo quy định của pháp luật……GV
tích hợp luật Hôn nhân và gia đình.
Điều 27. Tài sản chung của vợ chồng. (trích)
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân; Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung
hợp nhất.
Điều 28. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. (trích)
1. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung.

Giáo viên cho học sinh đọc từ: quyền BKXP….pháp luật quy định trang 58 sau đó
đặt câu hỏi.
Theo em có thể tự ý vào chỗ ở của người khác khi chưa được người đó đồng ý hay
không?
Cho học sinh thảo luận tình huống trong SGK trang 58
Về nguyên tắc không ai được tự ý vào chỗ ở của tự tiện vào chỗ ở của người khác
là VPPL tuỳ theo người khác nếu không được người đó đồng ý. Tùy mức độ vi phạm
khác nhau mà có thể bị xử lí theo quy định của pháp luật.
Hỏi:- Có khi nào PL cho phép khám xét chỗ ở của CD không? đó là những trường hợp
nào?
HSTL
- Theo em những người nào có thẩm quyền ra lệnh khám chỗ ở, làm việc, địa
điểm của người khác?
HSTL
GV tích hợp Điều22 hiến pháp 2013
1. Mọi công dân có quyền có nơi ở hợp pháp
2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở
của người khác nếu không được người đó đồng ý
3. Việc khám xét chỗ ở do luật định
Điều 124 Bộ luật hình sự 1999 – Tội xâm phạm chỗ ở của công dân (trích)
1. Người nào khám xét trái phép chỗ ở của người khác, đuổi trái phép người khác
ra khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm
21


quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo
không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm
Như vậy, qua việc tự tạo ra các tình huống ta thấy rõ sự hứng thú của học sinh
trong việc vận dụng kiến thức vào việc giải quyết vấn đề thực tiễn. Đây là một phương
pháp rất hiệu quả trong vấn đề giảng dạy. Qua đó, học sinh không những tìm ra được

huống là một trong những tích hợp nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình

22


giảng dạy của người giáo viên. Tuy nhiên đây là phương pháp có nhiều ưu thế trong
quá trình thực hiện đổi mới. Và bản thân tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, để có những tình huống hay, mang tính thời sự người giáo viên phải
thường xuyên thu thập các thông tin trên báo chí, phương tiện thông tin đại chúng hay
ở ngay địa phương mình sinh sống nhưng cần điều chỉnh để phù hợp với nội dung bài
học.
Thứ hai, nguồn cung cấp tình huống đa dạng phong phú phải kể đến học sinh.
Học sinh có thể đưa ra được những tình huống sát thực với thực tế và giáo viên cần
điều chỉnh cho phù hợp. Nếu là tình huống hay, giáo viên nên cộng điểm cho học sinh
để khuyến khích, động viên kịp thời nhằm phát huy được tính tích cực của học sinh.
Thứ ba, phải xây dựng được các tình huống gắn với thực tiễn để học sinh thảo
luận, từ đó học sinh nêu lên kiến thức một cách tự nhiên mà không lệ thuộc vào sách
giáo khoa
Thứ tư, cho học sinh thảo luận để tạo ra các tình huống liên quan đến nội dung
bài học nhằm rèn luyện kĩ năng vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết các vấn
đề thực tiễn.
Cuối cùng, sau khi học sinh đưa ra các tình huống, giáo viên yêu cầu học sinh
nghiêm túc thảo luận tình huống mình nêu, các nhóm khác theo dõi, bổ sung. Kết quả
trình bày tình huống phải được giáo viên nhận xét, đánh giá (có thể cho điểm hoặc
không). Đồng thời, phải rút kinh nghiệm về tinh thần, thái độ làm việc của từng nhóm,
từng thành viên.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Chương II đã đi sâu phân tích các nội dung cơ bản và làm rõ việc vận dụng các
tình huống dạy học pháp luật trong một số bài của bộ môn GDCD THPT . Mô phỏng
các tình huống các tình huống có vấn đề ở một số bài cụ thể , và nói rõ cách thức tổ

5- Hiến pháp năm 2013
6- Pháp luật hôn nhân và gia đình
7- Pháp luật về an toàn giao thông

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status