-1-
MỞ ĐẦU
***
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, sau hơn hai mươi hai năm
-2-
Chính vì những lý do trên, yêu cầu đầu tiên của thị trường là phải xây dựng
được một hệ thống đánh giá chất lượng TTKT, một mạng lưới CBTT hiện đại và
rộng khắp, nhằm ngoài việc thông tin công bố có chất lượng cao, nó còn phải được
truyền đi nhanh chóng, kịp thời, cũng như phải làm sao cho các chủ thể hoạt động
kinh doanh trên thị trường có quyền bình đẳng trong tiếp nhận thông tin.
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường, nhất là trong
khoảng hơn mười năm trở lại đây với mức tăng trưởng bình quân 7%, năm năm gần
đây bình quân 7,5%, riêng năm 2007 là 8,5% (nguồn: gso.gov.vn), xu thế phát triển
kinh tế ngày càng mạnh mẽ đã làm sức bật cho thị trường tài chính phát triển một
cách nhanh chóng, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ hoạt động sản
xuất kinh doanh ngày càng tăng trong toàn nền kinh tế.
Yêu cầu về vốn thúc đẩy thị trường vốn không ngừng phát triển, từ đó dẫn đến
sự ra đời của TTCK là một tất yếu khách quan, khi mà các tổ chức tài chính trung
gian đã có trước đây, không thể đảm nhận tốt vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Thi trường chứng khoán là một thị trường cao cấp, hoạt động của thị trường có
những yêu cầu rất khác biệt so với các thị trường truyền thống như thị trường hàng
hoá, dịch vụ, thị trường lao động …, hàng hoá lưu thông, mua, bán trên thị trường
là chứng khoán, đây là các công cụ chu chuyển vốn của nền kinh tế, những hoạt
động kinh doanh trên TTCK dựa vào thông tin là chính, lấy niềm tin làm cơ sở cho
thuộc vào môi trường kinh doanh, chất lượng hàng hoá giao dịch trên thị trường,
phân tích các BCTC được công bố. Mặt khác đứng trên phương diện vĩ mô nền
thông tin được cung cấp trên thị trường là yếu tố góp phần tăng thêm chất lượng,
kinh tế, những TTKT của các DNNY cũng phần nào nói lên tình hình chung của
củng cố niềm tin của các chủ thể kinh doanh. Về phía Nhà nước nhằm thực hiện
toàn nền kinh tế, tình hình sức khoẻ tài chính quốc gia.
điều này, đã ban hành Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành vào
-3-
-4-
đầu năm 2007. Đối với TTCK Việt Nam, đây là lần đầu tiên có một hệ thống luật
quan điểm về việc xây dựng hệ thống công bố thông tin kế toán trên TTCK trên các
pháp hoàn chỉnh. Để có thể phần nào đó nhận định đúng thị trường, chúng tôi đã
mặt như: hình thức, nội dung, phương tiện …, nhằm mục đích sao cho báo cáo tài
chọn ra ba năm 2006 – 2007 – 2008 để nghiên cứu, đánh giá, vì các lý do sau:
chính cung cấp trên thị trường ngày càng trung thực, minh bạch và hợp lý hơn, góp
vừa từng bước đến gần với thông lệ và chuẩn mực quốc tế.
- Một lý do quan trọng nữa là cũng trong những năm này, hiện tượng đầu tư tràn
Bước tiếp theo là thông qua khảo sát và nghiên cứu ngay trên TTCK Việt
lan vào thị trường chứng khoán. Từ nửa cuối năm 2006 đến đầu năm 2007, có
Nam vào những năm nhạy cảm, từ đó đưa ra các đánh giá về thực trạng CBTT của
khoảng 10 tỷ Đô la Mỹ và 300 ngàn tỷ đồng của nhà đầu tư nước ngoài và các tổ
các DNNY trên thị trường, nêu lên một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên,
chức cá nhân trong nước bơm vào TTCK và thị trường bất động sản1, ngay lập tức
nhằm từng bước có biện pháp khắc phục và hoàn thiện.
đã tạo ra giai đoạn thị trường bong bóng ( đầu năm 2006 VNIndex trong khoảng
Sau cùng, căn cứ vào những đánh giá nói trên, luận văn cũng đưa ra những
trên 300 điểm, đã tăng mạnh vào cuối năm 2006 và đầu năm 2007, đạt đỉnh vào
định hướng cho quy trình công bố thông tin trên thị trường, xác định giải pháp,
ngày 12/3/2007: 1.170 điểm, và trở lại trong khoảng trên 300 điểm vào cuối năm
những ý kiến kiến nghị đối với các chủ thể hoạt động trên thị trường với mục đích
-5-
-6-
2008, kết hợp với phần khảo sát, thống kê thực tế, để phân tích, đánh giá đưa ra
định hướng và kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện việc CBTT trên TTCK mà
thôi.
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
KẾ TOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
1.1.
Bản chất và vai trò của thông tin kế toán.
1.1.1 Bản chất của kế toán.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như chọn mẫu nghiên cứu, điều
Lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn, sự phát triển xã hội của các
tra, khảo sát, thống kê mô tả, phân tích và các dữ liệu quá khứ đã tập hợp được
cộng đồng cư dân gắn liền với sự phát triển kinh tế. Nhiều di chỉ khảo cổ đã chỉ ra
thông qua các biểu đồ, hình ảnh, các chỉ số phân tích …, kết hợp so sánh, đối chiếu
rằng nền văn minh mà xã hội loài người hiện nay có được, phần lớn là nhờ vào
Kết luận chương 1
thuyết, giải thích dựa trên những cơ sở khoa học có sự hỗ trợ của các môn học khác
Chương 2
như toán học, triết học, logic học…, và có tên gọi là hạch toán kế toán như bây
Thực trạng công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên Thị
trường Chứng khoán Việt Nam.
giờ.
Tuy nhiên, công việc ghi chép cũng có tính chất vận động riêng của nó, ở giai
Kết luận chương 2
đoạn đầu việc ghi chép chỉ mang tính chất phản ảnh, sao chép, ghi lại các sự kiện
Chương 3
hiện thực trong đời sống kinh tế, chỉ từ khi con người phát minh ra chữ viết và số,
Các giải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin của công ty niêm yết trên
cùng với sự ra đời của toán học dựa trên các chữ số và ký hiệu đã đem lại cho công
Thị trường Chứng khoán Việt Nam.
việc ghi chép các sự kiện kinh tế giá trị thực sự của nó, hạch toán kế toán và thông
thế phát triển của sự vật hiện tượng.
các hoạt động kinh tế mà mình đang thực hiện, cũng như hiệu quả của các công
- Hạch toán kế toán là việc phản ảnh một cách thường xuyên, tổng hợp, liên
việc này là như thế nào. Hạch toán kế toán chính là công việc ghi chép các diễn
tục và có hệ thống các sự kiện kinh tế phát sinh trong một đơn vị kinh tế cần xem
biến trong hoạt động kinh tế dựa trên quan sát, đo lường, tính toán và ghi lại những
xét, theo dõi. Việc phản ảnh các sự kiện kinh tế này thông qua các thước đo là tiền,
sự việc trên.
hiên vật và thời gian lao động.
Trong các hoạt động kinh tế diễn ra hàng ngày thường mang tính chu kỳ, đầu
chu kỳ là quá trình đầu tư bằng nhiều phương tiện khác nhau như vốn bằng tiền,
“Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh
tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” 3.
nguyên vật liệu, sức lao động của con người …, cuối chu kỳ là quá trình thu hoạch,
Mục đích của kế toán là cung cấp thông tin, thông tin được cung cấp cho
tổng kết tính toán hiệu quả hoạt động kinh tế, xem xét để ra quyết định tiếp tục một
- Hạch toán nghiệp vụ là dạng ghi chép trong từng công đoạn của quá trình sản
xuất kinh doanh việc ghi chép chỉ mang tính ghi nhận, tính toán, tổng hợp từng
phần không mang tính chất tổng hợp do đó các chỉ tiêu sử dụng ít, thông tin đơn
giản, chủ yếu dùng để làm số liệu tổng hợp mà thôi.
đòi hỏi phải chính xác, độ tin cậy cao, mặt khác việc quan trọng nhất của báo cáo
tài chính là nó mang tính quyết định cuối cùng.
“Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông
tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng
thông tin của đơn vị kế toán” 4 .
Kế toán quản trị cũng cung cấp những thông tin kế toán có liên quan đến hoạt
động sản xuất kinh doanh như chi phí, thu nhập, của từng bộ phận, sản phẩm cụ thể
-9-
- 10 -
cũng như của từng khâu, từng loại sản phẩm, các thông tin này nhằm mục đích
trường hàng hoá, thị trường tài chính – tiền tệ, quyết định điều tiết, hoạch định
phục vụ nhu cầu quản trị ở các cấp độ khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp.
chính sách vĩ mô của các cơ quan quản lý.
Đặc điểm của kế toán quản trị là những thông tin nó cung cấp mang tính định
Mặt khác thông tin kế toán đó là các báo cáo tài chính thường kỳ, còn phản ảnh
hành thị trường. Công bố BCTC thường kỳ trên thị trường chứng khoán là cung cấp
phản ảnh liên tục những sự kiện đã, đang và sẽ xảy ra trong suốt quá trình hoạt
thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết về: tình hình tài sản, nguồn vốn,
động kinh doanh của doanh nghiệp.
kết quả sản xuất kinh doanh, mức cổ tức được chia …, sở dĩ vấn đề công bố TTKT
1.1.2 Vai trò của thông tin kế toán.
được đặt ra vì các lý do sau:
Giai đoạn hiện nay, TTKT ngày càng trở nên quan trọng, khi mà toàn cầu hoá
- Nhằm mục đích công khai, minh bạch hoá tình hình tài chính của doanh
kinh tế phát huy tác dụng của nó, từ những thay đổi mô hình kinh tế thị trường theo
nghiệp niêm yết, phục vụ yêu cầu của tất cả cổ đông trong công ty, cũng như các
hướng mở, thay đổi mô hình doanh nghiệp, thay đổi trong những mối quan hệ của
chủ thể khác có nhu cầu.
các công ty mẹ, con, công ty xuyên quốc gia …, sự quan tâm của chính quyền về
- Thị trường chứng khoán là nơi tập trung phần lớn nguồn vốn đầu tư cho toàn
- 11 -
- 12 -
nhanh chóng, kịp thời, chính xác và nhất là phải đến được với tất cả các đối tượng
triển, vòng quay vốn trong lưu thông hàng hoá tăng lên cùng với sự phát triển của
tham gia thị trường là như nhau.
nền kinh tế thị trường, song song với tình hình phát triển tài chính – tiền tệ, các
- Thông tin trên thị trường là một trong những yếu tố để nhà đầu tư ra quyết
công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn cũng nhanh chóng phát
định đầu tư, như thế nó chính là một trong những yếu tố tạo ra cung, cầu hàng hoá
triển, từ đó nảy sinh các quan hệ mua, bán các loại công cụ tài chính này, đặc biệt
trên thị trường, đây cũng là yếu tố cơ bản để thị trường tồn tại, hoạt động hiệu quả
là các loại chứng khoán được luật pháp cho phép lưu thông, mua bán trên thị
và phát triển bền vững.
trường. Chính sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã hình thành nên thị trường
- Mặt khác các công ty niêm yết trên TTCK hầu hết là những công ty hàng đầu
trong các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh trong nền kinh tế, chất lượng công ty
Sự phát triển lớn mạnh của thị trường tài chính, cùng với yêu cầu thực hiện cơ
kế toán có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và sự phát triển bền vững
chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang tổ chức phát hành mà không thông qua
của thị trường.
định chế trung gian nào, hay nói khác đi đó là đáp ứng yêu cầu chu chuyển vốn đầu
1.2.1
tư có chi phí thấp, yêu cầu này đã hình thành nên một loại thị trường cao cấp đó là
TTCK và cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán.
1.2.1.1 Thị trường chứng khoán (Securities Market)
TTCK, việc mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn là chứng khoán vốn và
Thị trường tài chính (Financial Market) bao gồm thị trường vốn (Capital
chứng khoán nợ, được diễn ra tập trung tại TTCK, trên hệ thống giao dịch điện tử
Market) và thị trường tiền tệ (Currency Market), TTCK là bộ phận chính của thị
của Sở giao dịch chứng khoán và các hệ thống giao dịch không tập trung khác có
trường vốn. Thị trường tài chính được hình thành, tồn tại và phát triển là một tất
1.2.1.1.2 Thị trường thứ cấp (Secondary Market)
1.2.1.1.1 Thị trường sơ cấp (Primary Market)
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các loại chứng khoán đã qua giao dịch lần
Thị trường sơ cấp là nơi phân phối lần đầu các chứng khoán của tổ chức phát
đầu trên thị trường sơ cấp, và đây chính là hàng hoá của thị trường. trên thị trường
hành, việc mua bán được diễn ra theo nhiều hình thức: phát hành không thông qua
thứ cấp, hoạt động mua đi bán lại diễn ra giữa các chủ thể tham gia thị trường mà
đấu giá và phát hành thông qua đấu giá, chính trong quá trình đấu giá đã hình thành
không làm tăng thêm quy mô về vốn đầu tư, không tạo ra nguồn tài chính mới cho
nhiều loại giá khác nhau của chứng khoán phát hành, nhưng đa phần chứng khoán
các tổ chức phát hành, các khoản thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về các
phát hành trên thị trường sơ cấp bán theo mệnh giá. Phát hành được chia ra làm hai
nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán, tuy nhiên giữa hai thị trường này
loại: Phát hành ra công chúng lần đầu (Inititial Public Offering - IPO) và phát hành
luôn có sự gắn kết chặt chẽ với nhau.
- Tỷ lệ nắm giữ của các cổ đông lớn (theo quy định riêng).
trường sơ cấp phát triển và điều này là yếu tố quyết định, giúp cho các tổ chức phát
- Các hình thức bảo lãnh (nếu có).
hành chứng khoán thành công, nhằm đạt được mục đích huy động vốn phục vụ
- Các yêu cầu khác …
hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác hoạt động của thị trường thứ cấp cũng
thoả mãn nhanh chóng nhu cầu chuyển dịch vốn đầu tư giữa các nhà đầu tư trên thị
trường chứng khoán.
- 15 -
Thị trường chứng khoán ra đời nhắm đến mục tiêu cung cấp dịch vụ chu
chuyển vốn với chi phí thấp, lưu động hoá lĩnh vực đầu tư, làm cho chứng khoán có
tính thanh khoản cao, đồng thời đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh trong toàn nền kinh tế.
Hoạt động mua bán trên TTCK được chia thành: Thị trường tập trung và thị
trường phi tập trung.
Thị trường tập trung được thực hiện qua Sở giao dịch chứng khoán, thông qua
- 16 -
theo những hợp đồng miệng hoặc trao tay, các hoạt động mua bán này căn cứ vào
sự tín nhiệm lẫn nhau của các nhà đầu tư.
Để quản lý thị trường OTC, ở một số nước thành lập Hiệp hội kinh doanh
chứng khoán quốc gia, Hiệp hội này ban hành quy chế thị trường, kết nạp và khai
điều hành và giám sát thị trường của mình.
hữu chứng khoán, đây chỉ là nơi giao dịch, và tạo điều kiện cho việc giao dịch được
Ngoài ra Ủy ban chứng khoán kiểm soát mọi hoạt động phát hành chứng
thuận lợi, công bằng, minh bạch và đúng pháp luật cho các chứng khoán của các tổ
khoán của các công ty niêm yết nói riêng và các công ty công chúng (Public
chức đủ điều kiện niêm yết tại Sở giao dịch.
Company) nói chung.
Thị trường phi tập trung (Over The Counter Market – Thị trường OTC).
Bên cạnh thị trường giao dịch tập trung, thị trường chứng khoán còn có thị
trường giao dịch phi tập trung, tại đây dành cho những công ty chưa đủ điều kiện
giao dịch tại Sở giao dịch, việc giao dịch chủ yếu thông qua yết giá và thương
lượng trực tiếp giữa người mua và người bán về các chứng khoán mà họ sở hữu,
điều kiện giao dịch trên thị trường này tương đối đơn giản, chỉ cần không vi phạm
luật pháp trong quan hệ mua bán.
Ngoài hai thị trường chính thức này, trong các quốc gia có TTCK luôn tồn tại
một thị trường thứ ba, đó là các hoạt động giao dịch, mua bán các loại chứng khoán
Quản lý trực tiếp các tổ chức tự quản, giám sát, thanh tra cũng như xử lý các tổ
chức, cá nhân tham gia thị trường để bảo vệ lợi ích chung, trong trường hợp có hiện
tượng vi phạm pháp luật.
Trực tiếp điều hành và giám sát thị trường chứng khoán gồm có hai tổ chức
chính: Sở giao dịch chứng khoán và Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán.
Sở giao dịch chứng khoán:
Đầu tư thông qua các tổ chức có ưu điểm là có thể đa dạng hoá danh mục
nói chung cho toàn ngành kinh doanh chứng khoán, đảm bảo lợi ích chung cho toàn
đầu tư và khối lượng vốn lớn giúp cho các tổ chức đầu tư có ưu thế hơn hẳn những
ngành. Hiệp hội đưa ra các quy định và thực hiện các chức năng:
nhà đầu tư cá nhân.
- Điều hành, giám sát thị trường giao dịch phi tập trung. Các công ty muốn
Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
tham gia thị trường này phải đăng ký với Hiệp hội, và phải chấp hành các quy định
do Hiệp hội đề ra.
- Công ty chứng khoán: Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng
khoán, có thể thực hiện các công việc như môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư chứng
- Theo dõi việc thực hiện giao dịch giữa khách hàng và các công ty chứng
khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán.
khoán thành viên, điều tra và xử lý các vi phạm nếu có.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán đưa ra các đề xuất và gợi ý với cơ
quan quản lý, điều hành của Nhà nước về các vấn đề vĩ mô của thị trường chứng
khoán.
Là loại hình công ty kinh doanh có điều kiện, các công ty chứng khoán
thường không mua chứng khoán trực tiếp của tổ chức phát hành mà mua từ các tổ
Nhà đầu tư:
- 19 -
chức bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môi giới,
khách hàng mua và bán chứng khoán thông qua các công ty chứng khoán.
- 20 -
Là hành vi của kẻ lợi dụng quyền hành hay sự ưu tiên trong việc có được các
thông tin nội bộ của công ty, từ đó mua vào hay bán ra cổ phiếu của công ty đó trên
- Nguyên tắc cạnh tranh đấu giá
thị trường. Sau khi thông tin được công bố rộng rãi ra công chúng giá cổ phiếu của
Trên thị trường sơ cấp lẫn thị trường thứ cấp, giá cả chứng khoán là do mối
công ty này sẽ có sự thay đổi lớn, tạo ra lợi nhuận phi pháp cho những kẻ mua bán
quan hệ cung cầu quyết định, mua và bán chứng khoán được thực hiện theo phương
thức đấu giá và tự do cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia thị trường với nhau.
- Nguyên tắc công khai
nội gián.
- Thông tin sai sự thật
Là hành vi phao tin đồn thất thiệt trên thị trường để hưởng lợi do mua thấp và
Đối với các CTCK hoặc tổ chức đầu tư, trong kinh doanh nghiêm cấm:
+ Làm trái lệnh đặt mua, bán của khách hàng.
+ Không cung cấp xác nhận giao dịch theo quy định.
+ Tự ý mua bán chứng khoán trên tài khoản của khách hàng, hoặc mượn danh
nghĩa khách hàng để mua bán chứng khoán.
1.2.2. Công ty niêm yết và thông tin công bố trên thị trường chứng khoán.
1.2.2.1 Công ty niêm yết
- Đầu cơ chứng khoán, lũng đoạn thị trường
Công việc được thực hiện từ một nhóm nhà đầu tư cấu kết với nhau để mua hoặc
bán chứng khoán với số lượng lớn gây nên cung hay cầu giả tạo, làm cho giá cả cổ
CTNY là những CTCP được SGDCK cho phép niêm yết cổ phiếu của mình
cho mục đích giao dịch trên Sở, nếu công ty đáp ứng được một số tiêu chí theo quy
định của Sở.
phiếu tăng hoặc giảm đột ngột, lũng đoạn thị trường.
- Mua bán nội gián
Các hình thức niêm yết cổ phiếu gồm có niêm yết lần đầu và niêm yết bổ
sung.
- 21 -
Niêm yết lần đầu là sau khi được phép của SGDCK, cổ phiếu của công ty cổ
phần lần đầu tiên được giao dịch trên TTCK.
Niêm yết bổ sung gồm các dạng sau:
- Tăng vốn bằng cách phát hành chứng quyền, trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu.
- Trả cổ tức bằng cổ phiếu.
chức, cơ cấu cổ đông, cổ đông nắm quyền kiểm soát, được trình bày tóm tắt trong
- Chia, tách, sáp nhập các công ty niêm yết và chưa niêm yết hoặc các công ty
Bản cáo bạch (Prospectus) và các tài liệu khác có liên quan, trình Ủy ban chứng
niêm yết với nhau.
khoán xem xét chuẩn y.
Hủy niêm yết trong các trường hợp:
Ở Việt Nam hiện nay, UBCKNN( SSC) trực thuộc Bộ Tài chính là cơ quan
- Hủy niêm yết tự nguyện
quản lý, chịu trách nhiệm theo dõi hoạt động công bố thông tin và chào bán chứng
- Hủy niêm yết bắt buộc
khoán trên thị trường sơ cấp của tổ chức phát hành. Nội dung chủ yếu là thông qua
Các tiêu chuẩn niêm yết:
báo cáo tài chính, trong đó “Bản cáo bạch” và “Giấy đăng ký chào bán chứng
- Tiêu chuẩn định lượng bao gồm các tiêu chuẩn thời gian hoạt động, tổng vốn
khoán” là hai tài liệu quan trọng trong số các tài liệu phải trình Ủy ban chứng
Việc thực hiện công bố thông tin phải thông qua các ấn phẩm, trang thông tin
quan quản lý thị trường trực tiếp và gián tiếp. Tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin
điện tử của tổ chức niêm yết, qua phương tiện thông tin đại chúng hoặc phương tiện
là yêu cầu quan trọng và là điều kiện bắt buộc khi các tổ chức muốn được niêm yết
công bố thông tin của các cơ quan quản lý nói trên.
trên Sở giao dịch.
Tuy nhiên trong trường hợp có lý do bất khả kháng, hoặc vì nguyên nhân chính
Căn cứ vào thời điểm công bố, thông tin được chia làm 3 loại:
đáng nào khác, tổ chức niêm yết có thể hoãn hoặc được phép không công bố thông
Thông tin định kỳ
tin bất thường.
Gồm các BCTC của các tổ chức niêm yết theo quy định như BCTC quý, BCTC
1.2.3. Ảnh hưởng của thông tin kế toán đối với các đối tượng sử dụng thông tin
năm, trong đó BCTC năm phải được kiểm toán bởi công ty kiểm toán, và các thông
tin mà các DNNY phải công bố khác theo yêu cầu của Sở giao dịch chứng khoán.
Thông tin bất thường
bố phải nêu ra sự kiện được các cơ quan quản lý yêu cầu, nguyên nhân, mức độ xác
thực, các giải pháp xử lý (nếu có).
mua, bán chứng khoán.
Thông tin kế toán còn được xem như là thông tin nền tảng cho sự phát triển
của thị trường, kết quả dịch chuyển nguồn vốn trong doanh nghiệp, tình hình sản
Thông tin về giao dịch của các cổ đông nội bộ
xuất kinh doanh của các tổ chức niêm yết, mức cổ tức được chia trong kỳ, cách tạo
Nhân sự cấp cao và những người có liên quan trong tổ chức niêm yết, có thực
và sử dụng tiền của tổ chức niêm yết và các thông tin khác trong BCTC, chính là
hiện giao dịch cổ phiếu, trái phiếu mà mình sở hữu, thì phải được công bố thông tin
yếu tố củng cố niềm tin của nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu ở hiện tại và trong tương
trước và sau khi thực hiện giao dịch, kể cả giao dịch không thông qua hệ thống giao
lai, đồng thời niềm tin cũng là chìa khoá cho sự thành công và phát triển bền vững
dịch như cho, tặng, thừa kế …, nếu đã thông báo thông tin giao dịch mà không thực
của TTCK.
hiện cũng phải công bố thông tin, đồng thời nêu rõ lý do.
b. Đối với các tổ chức quản lý, điều hành và tạo lập thị trường
Tên gọi các tổ chức quản lý TTCK:
tâm lý của họ trên thị trường.
+
Ngoài ra TTCK cũng là phong vũ biểu của nền kinh tế (nếu bây giờ chưa thì sau
này sẽ), vì thông thường các DNNY là những công ty có hiệu quả kinh doanh cao
hàng đầu trong các lĩnh vực ngành nghề mà các tổ chức này tham gia trong nền
+ Pháp: Ủy ban Nghiệp vụ Chứng khoán Pháp (Commission des Opération
de Bourse – COB), nay là thành viên của tổ chức NYSE Euronext.
kinh tế đất nước, vì vậy thông qua những diễn biến trên thị trường, các nhà quản lý,
điều hành vĩ mô có thể nắm được thực trạng sản xuất kinh doanh chung toàn nền
kinh tế, từ đó có những bước đi thích hợp nhằm phát triển kinh tế quốc gia.
Mỹ: Ủy Ban Giao dịch Chứng khoán (Securities and Exchange
Commission – SEC)
+ Trung Quốc: Cơ quan Giám quản chứng khoán của Quốc vụ Viện Trung
Quốc (China Securities Regulatory Commission – CSRC)
Quy định về CBTT của những tổ chức trên đối với các CTNY như sau:
Việc công bố TTKT nói riêng và việc công bố thông tin nói chung cũng chính
là yêu cầu bức thiết trong việc thực hiện thị trường tự do cạnh tranh, bình đẳng,
1.3.1 Hình thức công bố thông tin
3. BCTC quý
X
X
X
tổ chức niêm yết trên thị trường chứng khoán thực sự là sở hữu của nhiều nhà đầu
4. Điều kiện kiểm
BCTC năm và nửa
BCTC năm và nửa
tư là cá nhân và tổ chức, chất lượng thông tin có ảnh hưởng đến niềm tin của nhà
toán
năm
năm
Bất kỳ quốc gia nào có thị trường chứng khoán, đều có yêu cầu công bố thông
BCTC năm
đầu tư, ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu, đây chính là nguyên nhân sâu xa có tác
Euronet, hoà hợp với
CSRC, hoà hợp
tiên (NYSE Euronext), càng làm tăng tính chuyên môn hoá cao về tất cả mọi mặt
BCTC nửa năm
Dựa trên quy mô
quy định của AMF,
với quy định của
của thị trường, tiến tới xây dựng TTCK cạnh tranh hoàn hảo.
vốn và số cổ đông
CNC, IFRS
ASBE, IAS
Thực trạng hiện nay của TTCK Việt Nam, do mới thành lập, các yếu tố của thị
trường như quy mô, hàng hoá, số lượng nhà đầu tư tham gia thị trường, hệ thống
và US GAAP
2. BCTC quý
Trong giai đoạn gần đây, với sự ra đời của thị trường chứng khoán toàn cầu đầu
1. BCTC năm
Từ 75 đến 90 ngày
90 ngày
Trong vòng 4 tháng
khuôn mẫu báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán theo thông lệ quốc tế, cũng như
2. BCTC nửa năm
Từ 75 đến 90 ngày
90 ngày
Trong vòng 2 tháng
các vấn đề có liên quan khác đến việc CBTT trên thị trường, qua đó xác định mô
3. BCTC quý
Từ 40 đến 45 ngày
45 ngày
Trong vòng 1 tháng
hình thị trường chứng khoán Âu, Mỹ là thị trường mục tiêu chiến lược cho TTCK
sang nền kinh tế thị trường, các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán đa
định trong nhiều năm, đồng thời với trình độ am hiểu về luật pháp của các chủ thể
phần là các doanh nghiệp nhà nước IPO để đạt tiêu chuẩn niêm yết, nhưng khi tiến
tham gia thị trường tương đối tốt, công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ, do vậy việc
- 29 -
hành IPO, các doanh nghiệp Trung Quốc chỉ phát hành cổ phiếu tăng vốn chứ
không bán vốn Nhà nước.
- 30 -
Kết luận chương 1
Qua xem xét, phân tích tính chất đặc trưng của TTCK, cho thấy các vấn đề
Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với tình hình
có liên quan đến thông tin được công bố là thực sự quan trọng, yêu cầu CBTT phải
kinh tế xã hội Trung Quốc, cùng là những quốc gia có xuất phát điểm là nền kinh tế
được đưa lên hàng đầu, nếu muốn cho TTCK phát triển ổn định và bền vững, vì nó
hoạch định XHCN chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cũng có
chính là chất lượng của hàng hoá chứng khoán là cổ phiếu của các DNNY được
hướng và là mục tiêu thực hiện cho TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Mặt khác các vấn đề thực hiện CBTT cũng phải được đặt ra xuất phát từ lý do
bất cân xứng trong việc ghi nhận thông tin, nhất là TTKT của các chủ thể tham gia
thị trường, cũng từ nguyên nhân thông tin bất cân xứng này dẫn đến các hậu quả là
các hiện tượng vi phạm quy định nguyên tắc kinh doanh trên TTCK đã và đang
thường xuyên xảy ra trong những năm gần đây.
Như vậy việc thực hiện công bố TTKT trên thị trường cần phải được tổ chức
sao cho vừa thuận tiện cho các công ty niêm yết, vừa đảm bảo cung cấp thông tin
minh bạch, nhanh chóng, chính xác, kịp thời, nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu
tư, đó cũng chính là bảo vệ sự tồn tại và phát triển của TTCK.
- 31 -
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM.
- 32 -
5. Tạp chí chứng khoán.
Thị trường sơ cấp do UBCKNN (SSC) trực tiếp quản lý.
Thị trường giao dịch thứ cấp, cũng đồng thời là nơi phục vụ công tác đấu giá các
2.1 Lược sử thị trường chứng khoán và các công ty niêm yết của Việt Nam.
cổ phiếu IPO lần đầu, phát hành tăng vốn ra công chúng của các DN (quy định một
2.1.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nghị định 75/CP của Chính Phủ ngày 28-11-1996 thành lập UBCKNN (SSC),
là cơ quan trực thuộc Chính phủ trực tiếp quản lý nhà nước về chứng khoán và
TTCK, đã đánh dấu ngày ra đời chính thức của TTCK Việt Nam, sau hơn sáu năm
chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xây dựng thị trường .
Ngày 7-9-2004. Thủ Tướng Chính phủ đã có Quyết định số 161/2004/ QĐ-
HOSE chính thức chuyển thành SGDCK TpHCM theo Quyết định số
559/QĐ-TTg, ngày 11-5-2007 của Thủ tướng Chính phủ.
TTGDCK HN chính thức khai trương đi vào hoạt động ngày 8-3-2005, và ngày
14-7-2005 chính thức khai trương sàn giao dịch thứ cấp với 6 công ty niêm yết.
2.1.2. Các Công ty niêm yết.
TTg về việc sáp nhập UBCKNN vào Bộ Tài chính, theo nội dung Quyết định này
Tiêu chuẩn niêm yết cổ phiếu trên SGDCH, TTGDCK của các CTCP được thực
UBCKNN là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng quản lý Nhà
hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK, trong đó các
nước về chứng khoán và TTCK, trực tiếp giám sát và quản lý TTCK theo quy định
nội dung chính về các tiêu chuẩn niêm yết như sau:
của pháp luật.
Chỉ tiêu
Các tổ chức sự nghiệp trực thuộc UBCKNN (SSC) :
1. Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HaSTC).
Năm liền trước có lãi và không
kinh doanh
không có lỗ lũy kế
có lỗ lũy kế
3. Cổ phiếu và số
20% cổ phiếu của công ty do Cổ phiếu có quyền biểu quyết
lượng cổ đông
ít nhất 100 cổ đông nắm giữ
hữu ít nhất 50% trong 3 năm kể từ ngày niêm yết.
Tối thiểu 20% vốn cổ phần của công ty do ít nhất 50 cổ đông ngoài tổ chức
niêm yết nắm giữ, đối với công ty có vốn từ 100 tỷ đồng trở lên, tỷ lệ này là 15%.
Có hồ sơ niêm yết hợp lệ.
của công ty do ít nhất 100 cổ
2.2
đông nắm giữ
Thông tin kế toán công bố trên thị trường chứng khoán Việt Nam
2.2.1 Theo quyết định của các cơ quan chức năng
nay gồm có:
diện
- Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11-7-1998, của Chính phủ về chứng
Có hồ sơ niêm yết cổ phiếu Có hồ sơ niêm yết cổ phiếu hợp
5. Hồ sơ niêm yết cổ
hợp lệ theo quy định tại lệ theo quy định tại khoản 2
phiếu.
khoản 2 điều 10 Nghị định số điều
14/2007/NĐ-CP
khoán và TTCK.
số
- Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28-11-2003 của Chính phủ về chứng
Các DN mới thành lập thuộc
- Thông tư 57/2004/TT-BTC ngày 17-6-2004, của Bộ Tài chính hướng
10
Nghị
Hiện nay theo tinh thần thông tư 38/2007/TT-BTC, việc công bố thông tin là
BCTC thường niên được quy định như sau:
trên TTGDCK có các tiêu chuẩn sau:
Vốn điều lệ từ 5 tỷ đồng trở lên, 2 năm liền trước có lãi, đối với DNNN cổ
Yêu cầu thực hiện CBTT:
Việc CBTT phải đầy đủ, chính xác, và kịp thời theo quy định của pháp luật.
phần hoá chỉ cần năm liền trước có lãi.
- 35 -
- 36 -
Việc CBTT phải do Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc hoặc người được ủy
Trường hợp kết quả sản xuất kinh doanh giữa 2 kỳ báo cáo có biến động từ 5%
quyền CBTT thực hiện. Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc phải chịu trách nhiệm về
trở lên (dự thảo thông tư mới quy định 10% 8), tổ chức niêm yết phải giải trình rõ
nội dung thông tin do người được ủy quyền CBTT công bố.
nguyên nhân dẫn đến những bất thường đó trong BCTC quý.
Việc CBTT phải được thực hiện đồng thời với việc báo cáo UBCKNN,
Mẫu số B 01 – DN
bảng hiển thị điện tử, các trạm đầu cuối của SGDCK, TTGDCK, và phương tiện
BCKQHĐSXKD:
Mẫu số B 02 – DN
thông tin đại chúng.
BCLCTT :
Mẫu số B 03 – DN
BTMBCTC:
Mẫu số B 09 – DN
Hình thức công bố BCTC
Công ty niêm yết phải công bố BCTC quý và BCTC năm, BCTC quý không
phải kiểm toán, BCTC năm phải được kiểm toán do tổ chức kiểm toán được chấp
thuận của UBCKNN cho phép kiểm toán các doanh nghiệp niêm yết.
Thời gian công bố báo cáo tài chính
Trường hợp DNNY là công ty mẹ, nội dung CBTT theo quy định của pháp luật
kế toán về BCTC hợp nhất và tổng hợp.
Công ty niêm yết phải lập và công bố báo cáo thường niên theo mẫu CBTT-02
của thông tư 38/2007TT-BTC, đồng thời với công bố BCTC năm.
Thời gian công bố BCTC năm là 100 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
BTMBCTC chọn lọc:
Mẫu số B 09a – DN
2.2.2 Tình hình thực hiện của các công ty niêm yết
2.2.2.1 Sơ lược về tình hình CTNY trên SGDCK Tp HCM
- 37 -
- 38 -
Biểu đồ tình hình niêm yết và giá trị mệnh giá trên SGDCK TpHCM tính đến ngày
Năm
Số lượng CTNY
Khối lượng CP niêm yết
31/12/2008.
hiện tại (31/12/2007)
2000
5
175.057.894
141
2004
28
394.966.653
120
2005
35
675.058.672
100
2006
106
2.562.973.043
2007
141
4.642.807.946
11
5
175
0
35
28
2000
330
217
2001
675
394
339
0
2002
2003
47
37
123
44,34
26,24
71,10
của Chính phủ, Bộ Tài Chính và UBCKNN, TTGDCK, chỉ đến năm 2007, khi Luật
Chứng khoán và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành, việc
CBTT mới có những tiêu chuẩn rõ ràng và có nề nếp.
b. Báo cáo tài chính giữa niên độ
Quý IV năm 2008 trên HOSE có 173 CTNY, thống kê tình hình thực hiện như
sau:
a. Tình hình thực hiện công bố BCTC năm
Nội Dung
Thống kê qua các năm 2006, 2007, 2008 như sau:
Khoản mục
2006
2007
- Không đầy đủ
Tỷ lệ (%)
- Hợp pháp theo luật 10
Tỷ lệ (%)
- Không hợp pháp
Tỷ lệ (%)
- Có đầu tư tài chính
Tỷ lệ (%)
- Không ĐTTC
Tỷ lệ (%)
- Phát hành tăng VĐL
Tỷ lệ %
Số lượng
Tỷ lệ % / Tổng số
129
74,56
1. Công bố BCTC đầy đủ
85
118
156
80,18
94
152
99,01
91,49
87.86
47
76
70
44.34
53,90
40,46
59
65
103
55,66
44
25,44
+ Thiếu BCĐKT, BCLCTT, TMBCTC
8
18,18
+ Thiếu BCLCTT, TMBCTC
32
72,72
+ Thiếu TMBCTC
4
9,10
Về thời gian công bố BCTC quý chỉ có vào khoảng 25% (43/173) DNNY thực
hiện công bố BCTC quý đúng thời hạn (25 ngày).
* Chi tiết xin tham khảo phụ lục kèm theo
2.3 Đánh giá tình hình công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
2.3.1 Khảo sát
a. Đối tượng khảo sát:
Dùng phiếu lấy ý kiến các đối tượng:
2. Chất lượng CBTT trong các BCTC?
Tốt (so với trước đây)
- Nguồn vốn chủ sở hữu
3. Nội dung CBTT đã hợp lý hay chưa?
Hợp lý
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
4. Các biện pháp xử lý, chế tài theo Nghị định 36/2007/NĐ-CP
và Thông tư 97/2007/TT-BTC đã đủ mạnh hay chưa?
5. Trong DN quý vị có tổ chức phổ biến kiến thức về chứng
khoán và TTCK hay không?
- Bảng cân đối kế toán
Chưa
- Các khoản đầu tư ngắn hạn
Không
6. Cách tìm hiểu về chứng khoán và TTCK của quý vị?
Tự tìm hiểu
7. Có hay không sự trùng lặp trong các quy định về CBTT?
Có
- Thị giá cổ phiếu trên thu nhập (P/E)
- Lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu
12.Quý vị dựa vào kênh thông tin nào để mua bán chứng khoán ? Nhiều kênh thông tin
13. Theo quý vị côngviệc CBTT trên TTCK có ảnh hưởng như
thế nào đối với thị trường ?
14. Có hay không hiện tượng che dấu thông tin trên thị trường ?
- Lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần
Rất quan trọng
- Tỷ lệ cổ tức trên thị giá cổ phiếu (D/P)
- Tỷ lệ cổ tức trên giá trị sổ sách cổ phiếu (D/B)
Có
- Lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA)
- Chỉ số thanh toán nhanh
15. Mức độ quan tâm của nhà đầu tư đến các chỉ tiêu trong BCTC ( liệt kê theo thứ
- Doanh thu thuần trên tổng tài sản
tự mức độ quan tâm từ cao đến thấp) :
- Lợi nhuận gộp trên Doanh thu thuần
- 43 -
- Lợi nhuận gộp trên tổng tài sản
tồn tại các vấn đề sau :
- Vòng quay hàng tồn kho
- Hiện tượng một số DNNY không công bố TMBCTC, từ đó số liệu trên
- Vòng quay tổng tài sản
BCĐKT không có tư liệu để phân tích, tìm hiểu thêm về tình hình tài chính của
- Tài sản dài hạn trên tổng tài sản
DN.
- Số lần thu nhập/ lãi vay
- Tổng tài sản trên tỷ số nợ
* Chi tiết xin tham khảo phụ lục kèm theo
2.3.2 Đánh giá
a. Đánh giá về nội dung thông tin công bố
- Trong thông tư 38/2007/TT-BTC, tiết 1.2.2, khoản 1 mục IV có quy định
trường hợp kết quả hoạt động kinh doanh giữa hai kỳ báo cáo có biến động từ 5%
trở lên DNNY phải có trách nhiệm giải trình, nhưng trong các mẫu báo cáo không
có cột chỉ tiêu kỳ này và kỳ trước, để so sánh tăng giảm, dẫn đến các DNNY
thường không tính toán trước và giải trình, ngoài ra người đọc báo cáo cũng không
Nội dung thông tin công bố của các CTNY trên TTCK gồm: BCĐKT,
xác định được mức tăng giảm so với kỳ trước để tiếp tục tìm đọc báo cáo giải trình
không được thực hiện, mục đích dấu bớt những khoản giảm lợi nhuận trong kỳ của
với DN lại càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa, do DN sợ thông tin bị rò rỉ ra bên
doanh nghiệp.
ngoài.
- 45 -
- 46 -
- Thông tin được công bố trong BTMBCTC cũng chưa đầy đủ như yêu cầu nội
tư vào các loại chứng khoán khác dưới dạng mua cổ phiếu của các công ty cổ phần
dung các khoản 2, 4, 9 mục IV của Thông tư 38/2007/TT-BTC. Từ đây cho thấy
chưa niêm yết trên thị trường OTC, đấu giá cổ phiếu các DNNN IPO lần đầu, đầu
BCTC giữa niên độ của các DNNY không đảm bảo được một số yếu tố cơ bản
tư góp vốn vào các doanh nghiệp khác, khoản liên doanh liên kết …, (ví dụ như
trong chuẩn mực chung của VAS.
trường hợp cổ phiếu VCB, giá đấu giá bình quân là 107.000đ/cp, nhưng đến
còn bảng giá đất do Nhà nước công bố thì quá phi thực tế, không thể dùng làm tài
- Sự chênh lệch và giải trình chênh lệch trong công bố BCTC có kiểm toán năm
liệu tham khảo được .
cũng thường xảy ra trong các DNNY nguyên nhân là các DNNN tuy đã chuyển đổi
- Tình trạng ghi nhận về những khoản chi phí cổ phần hoá DNNN, định giá
mô hình theo chủ trương của Chính phủ về cổ phần hoá DNNN, nhưng sổ sách kế
thương hiệu doanh nghiệp thành viên khi hợp nhất thành tài sản cố định vô hình,
toán của doanh nghiệp chịu sự kiểm tra và điều chỉnh của các đơn vị kiểm toán độc
cũng là một số nguyên nhân dẫn đến ý kiến ngoại trừ trong báo cáo kiểm toán của
lập, các tổ chức cấp trên như: kiểm toán Nhà nước, công ty mẹ, tập đoàn, dẫn đến
kiểm toán viên độc lập.
tình trạng số liệu chênh lệch trong BCTC , làm cho nội dung BCTC của các doanh
nghiệp này khó hiểu.
- Tình hình khấu hao tài sản cố định chung của các DNNY là khấu hao theo
đường thẳng (chỉ có một hoặc hai doanh nghiệp thay đổi chính sách này và có trình
- Việc trích lập dự phòng trong đầu tư tài chính theo chuẩn mực kế toán số 08,
- 47 -
- 48 -
người bán, người mua …, nói lên tình trạng yếu kém trong nghiệp vụ kế toán và
các quy định trong CBTT một phần trách nhiệm thuộc về cách thức xử lý vi phạm
việc không chấp hành luật pháp trong công tác kế toán tại các DNNY.
còn qua loa, hoặc các biện pháp chưa đủ mức độ, một phần cũng do công tác điều
- Khoản loại trừ theo Luật như khoản giảm thuế do ưu đãi đầu tư, ưu đãi do
niêm yết, do DNNN cổ phần hoá …, là có sự không thống nhất về thực thi chính
sách luật pháp về thuế ở các địa phương khác nhau.
- Hiện tượng phổ biến trong năm 2008, để đối phó với tình trạng BCTC năm bị
biến động trong tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, giữa báo cáo kiểm toán
chỉnh luật pháp chưa kịp thời, đồng bộ với thực tế của thị trường.
Tình trạng chồng chéo trong việc xử lý tài chính của các DNNY là do các
doanh nghiệp này bị điều chỉnh bởi nhiều hệ thống luật, chi phối bởi nhiều cơ quan,
tổ chức quản lý tài chính cấp trên, đây cũng là nguyên nhân chính trong việc làm
sai lệch các thông tin trong BCTC.
và BCTC có vấn đề về số liệu nhất là trong BCKQHĐKD, vì thế khi công bố
Qua việc thực hiện công bố thông tin là BCTC, cho thấy tình trạng kiểm soát
BCTC năm, các DNNY công bố bản chính báo cáo kiểm toán chèn vào bộ BCTC
mình, đây là nguyên nhân dẫn đến sức ép cổ tức, pha loãng cổ phiếu làm giảm lợi
sự và cơ cấu tổ chức của DNNY.
nhuận kéo theo giảm giá cổ phiếu , suy giảm niềm tin của nhà đầu tư. Mặt khác khi
Các DNNY chưa quan tâm và đầu tư tìm hiểu hệ thống luật lệ hiện hành, chưa
phát hành tăng vốn trong giai đoạn này có số thặng dư vốn rất lớn, doanh nghiệp đã
xem trọng công tác tuân thủ luật pháp trong việc CBTT, nhất là thông tin kế toán
dùng số vốn này quay lại đầu tư vào cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết, động
trên TTCK, chính là do sự thiếu am hiểu về luật pháp mà ra. Mặt khác hiện tượng
tác này càng thúc đẩy hiện tượng bong bóng trên TTCK, khi thị trường suy giảm
này cũng không loại trừ khả năng che dấu thông tin nhằm phục vụ lợi ích cá nhân,
dẫn đến kết quả kinh doanh của các DNNY có biến động lớn vào cuối năm 2008.
vi phạm nguyên tắc hoạt động, tạo ra các hành vi tiêu cực có ảnh hưởng đến thị
trường.
b. Chất lượng thông tin công bố
Tình hình chất lượng công bố thông tin trên BCTC của các DNNY hiện nay
Để đối phó với tình hình trên, cơ quan quản lý các cấp vẫn chưa liên kết chặt
DNNY cũng không giải trình các vấn đề ngoại trừ, cách xử lý sau khi công bố
gồm cả BCTC và báo cáo kiểm toán, có trường hợp người ký không đúng theo
BCTC, tạo nên mối nghi ngờ về chất lượng thông tin trong các báo cáo.
chức danh và DN cũng không công bố giấy ủy quyền kèm theo.
- Việc không tuân thủ luật pháp về kế toán, trong chấp hành những quy định
Tại khoản 4 điều 30 Luật kế toán có quy định: BCTC phải được người lập, kế
CBTT trên TTCK, tình trạng dàn xếp số liệu, làm đẹp báo cáo, công bố BCTC
toán trưởng và người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán ký. Người ký
không theo trình tự, không đúng quy định …, thường xuyên xảy ra trong đa số các
BCTC phải chịu trách nhiệm về nội dung của báo cáo.
doanh nghiệp, cho thấy sự trung thực trong các BCTC của các DNNY đang có vấn
đề.
Thông tư 38/2007/TT-BTC quy định BCTC năm phải có kiểm toán còn phải
công bố báo cáo kiểm toán đồng thời với việc công bố BCTC và mẫu CBTT-02,
- Báo cáo tài chính quý IV và và BCTC năm có kiểm toán của đa số các
nhưng các DNNY cũng chưa chấp hành đúng quy định trên.
công bố mẫu CBTT-03 là chủ yếu, trường hợp là báo cáo năm thường chỉ công bố
Tình hình không đảm bảo chất lượng thông tin được công bố trong BCTC,
có nguyên nhân xuất phát từ nếp văn hoá công ty tồn tại từ thời kỳ bao cấp, do thực
chất công ty cũng không có thay đổi nào đáng kể từ khi cổ phần hoá DNNN, và
niêm yết trên TTCK.
BCTC chứ không công bố báo cáo kiểm toán và thường cũng thiếu TMBCTC, các
tài liệu này chỉ có đầy đủ trên cổng thông tin của HOSE và SSC mà thôi.
d. Đánh giá về chấp hành các quy định về công bố thông tin
- Các quy định về CBTT được chấp hành theo kiểu tốt thì báo cáo ngay, xấu thì
Hiện tượng che dấu thông tin xấu nói chung và thông tin tài chính nói riêng, là
chưa cần báo cáo vội, vì vậy hiện tượng hoãn báo cáo xảy ra thường xuyên với
những nguyên nhân cơ bản dẫn đến mất đi tính nghiêm minh, chính xác và minh
nhiều lý do khá đơn giản và khó chấp nhận được như: “Do phần mềm kế toán bị lỗi
- 51 -
- 52 -
hoặc do chưa quen lập báo cáo tài chính hợp nhất hay do mới niêm yết ...”. Nguyên
nhân này cũng xuất phát từ quan điểm, từ cách thức báo cáo hoạt động kinh doanh
của các DNNN trước đây, hiện nay đã chuyển đổi mô hình nhưng chỉ là hình thức
bên ngoài, thực chất bên trong chưa có nhiều thay đổi.
- Phổ biến nhất là trong năm 2008 khi các DNNY ồ ạt đầu tư vào cổ phiếu niêm
phát triển đồng bộ của thị trường dẫn đến hiện tượng quá tải , gây ra sự chậm trễ
CBTT do cán bộ quản lý các phòng ban công ty kiêm nhiệm, trong quá trình làm
kéo dài thời gian CBTT.
nhiệm vụ cũng chưa được thông qua đào tạo, quy định về 1/3 Thành viên Hội đồng
- Tình trạng khai thác cạn kiệt thị trường còn non trẻ cộng với sự yếu kém
quản trị không tham gia điều hành, Ban kiểm soát công ty, ít nhất phải có một
trong công tác điều hành vĩ mô, công tác quản lý, giám sát thị trường còn lỏng lẻo,
thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên cũng chưa thực hiện tốt.
bằng chứng là báo cáo kết quả xử phạt vi phạm hành chính trong năm 2008 của
Hiện nay các DNNY công bố trên báo chí, trang bản tin thị trường của SGDCK
UBCKNN 13.
TpHCM, TTGDCK HN …, tuy nhiên BCTC được tập trung công bố vào một thời
- Chưa có sự thống nhất và đồng bộ giữa Luật và những quy định của văn bản
điểm nhất định, do đó thường gây ra hiện tượng quá tải cho các tổ chức này, khó có
hướng dẫn được sử dụng trong CBTT là BCTC của các DNNY. Ngoài ra những
ổn định tâm lý nhà đầu tư. Việc CBTT hiện nay phải dựa vào công nghệ, nhất là
3.1. Các quan điểm định hướng và hoàn thiện.
công nghệ thông tin. Vì vậy, xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hoàn chỉnh cả
3.1.1. Quan điểm.
về chất và lượng, song song với đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho hệ thống này,
3.1.1.1 Phù hợp với môi trường pháp lý và môi trường hoạt động của thị
là yêu cầu trước mắt cần phải được nhanh chóng thực hiện.
Ngoài các yêu cầu trên, hệ thống luật pháp xây dựng nhằm điều chỉnh việc
trường chứng khoán Việt Nam.
So với các nước trên thế giới đã có TTCK, quy mô thị trường Việt Nam hãy
CBTT trên thị trường còn phải tương thích với các bộ luật: Luật Doanh nghiệp,
còn nhỏ và mới. Tuy nhiên mục đích của Chính phủ là xây dựng một thị trường
Luật Đầu tư, Luật Kế toán, Luật kiểm toán …,đồng thời gắn liền với sự phát triển
phát triển ổn định và bền vững. Vì vậy yêu cầu đầu tiên của thị trường là phải tạo
của thị trường, phù hợp với điều kiện thực tế đất nước, cũng như bám sát các chuẩn
lập được niềm tin của các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường, nghĩa là làm
Trong điều kiện hiện nay, sự thay đổi trên thị trường phải được tiến hành từng
quan quản lý các cấp phải thường xuyên tổ chức đào tạo và đào tạo lại đội ngũ
bước, đi dần từ thấp đến cao, việc đầu tiên vẫn là xây dựng hệ thống luật pháp
nhân sự hoạt động trên thị trường, đồng thời sử dụng tất cả các phương tiện truyền
thống nhất, đồng bộ, tạo môi trường ổn định, xây dựng thị trường minh bạch, công
thông có thể huy động được, cùng tham gia vận động giáo dục, truyền bá các kiến
bằng trên cơ sở “Bảo vệ nhà đầu tư là ưu tiên hàng đầu”14. Để đảm bảo môi trường
thức cơ bản về chứng khoán và TTCK.
ổn định thì các cơ quan quản lý trực tiếp và gián tiếp thị trường là UBCKNN, Sở
giao dịch chứng khoán phải thường xuyên theo dõi và giám sát các hoạt động trên
thị trường, ngăn ngừa tiêu cực, đồng thời phải có biện pháp xử lý thích đáng khi có
tiêu cực xảy ra.
3.1.1.2 Phù hợp với yêu cầu hội nhập và phát triển của thị trường chứng
khoán Việt Nam.
TTCK được xây dựng trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang thực hiện
chính sách kinh tế mở và hội nhập kinh tế quốc tế. Ngoài việc thu hút nguồn vốn
đầu tư trong nước, TTCK còn là điạ chỉ quan trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài,
- 55 -
- 56 -
chuẩn mực quốc tế về công nghệ, môi trường kinh doanh, hệ thống luật pháp…,
cũng đồng thời là nơi kinh doanh của các tổ chức trong và ngoài nước, vì thế
nhằm tạo điều kiện để bổ sung các loại hàng hoá khác cho thị trường khi có điều
TTCK phải được xây dựng đứng trên quan điểm đây là sân chơi quốc tế, lấy hành
kiện thuận lợi.
lang pháp lý làm tiêu chuẩn, điều hành thị trường bằng luật pháp, bằng văn bản quy
Xây dựng từng bước chuyên môn hoá nghiệp vụ của các CTCK là những tổ
phạm cụ thể, xây dựng cơ chế mọi thể nhân và pháp nhân đều bình đẳng trước
chức cung ứng dịch vụ chủ yếu trên thị trường, xây dựng đội ngũ các CTCK thành
pháp luật, quyền lợi và trách nhiệm là ngang bằng nhau, như vậy, để nhằm từng
các tổ chức tự quản chuyên nghiệp, dịch vụ cung ứng trên thị trường ngày càng đa
bước xây dựng thị trường tự do cạnh tranh, phù hợp với yêu cầu kinh doanh của tất
dạng, nhanh chóng, tiện lợi và phong phú để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của
cả mọi thành phần trên thị trường.
nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Hệ thống luật pháp có liên quan đến TTCK cũng chính là hệ thống luật pháp
liên quan đến toàn bộ nền kinh tế như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật
Yêu cầu hội nhập cũng đặt ra vấn đề CBTT theo chiều hướng đa ngôn ngữ, phục
Chứng khoán, Luật Thuế GTGT, Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế
vụ cho khách hàng là nhà đầu tư nước ngoài, song song với việc chuẩn mực kế toán
Thu nhập cá nhân…Công tác xây dựng các văn bản hướng dẫn, quy định pháp lý
- 57 -
- 58 -
về TTCK nói chung và về CBTT nói riêng, cần phải cụ thể, rõ ràng, nhất quán từ
- Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng BCTC, một mặt phù hợp với tình hình
trên xuống dưới, phải kịp thời sửa chữa, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu phát
thực tế của Việt Nam, nhưng vẫn phải đảm bảo các nguyên lý chung theo thông lệ
triển của thị trường, nhất là các biểu mẫu được dùng trong các báo cáo, đặc biệt là
và chuẩn mực quốc tế, song song với việc xây dựng hệ thống chuẩn mực phù hợp,
trong BCTC, tránh trùng lắp, cũng như cung cấp thiếu thông tin, nhằm giúp nhà
hại đến lợi ích, suy giảm niềm tin của nhà đầu tư đối với thị trường.
doanh của mình, đồng thời giảm tải cho hệ thống cung cấp thông tin, và các dịch vụ
khác có liên quan đối với quy định CBTT thường niên .
3.1.2.2 Hoàn thiện các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của thông tin
- Trong việc đánh giá chất lượng thông tin là BCTC thì báo cáo kiểm toán
chiếm vị trí hết sức quan trọng, ý kiến của kiểm toán viên đưa ra chính là một trong
những tiêu chuấn đánh giá chất lượng BCTC, xác định mức độ trung thực trong ý
kiến kiểm toán về BCTC, cũng là tiêu chuấn để đánh giá chất lượng BCTC. Tuy
được công bố
- Chất lượng của thông tin được công bố là BCTC có liên quan đến nhiều
nhiên vấn đề được đặt ra ở đây là “ai kiểm toán các kiểm toán viên”, vì thế công tác
lĩnh vực khác nhau như: quy định của pháp luật về Kế toán, kiểm toán, công nghệ
kiểm tra chất lượng kiểm toán viên và các báo cáo kiểm toán cũng cần phải được
thông tin, đạo đức và trình độ nghiệp vụ chuyên môn của các đối tượng tham gia
xem xét và phải được tổ chức thực hiện các quy trình, quy chế vận hành, kiểm tra,
cung cấp...Như vậy, muốn hoàn thiện các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cũng là
đánh giá đồng bộ với quy trình thực hiện BCTC của các DNNY trên TTCK.
hoàn thiện các mặt theo quy định, vấn đề này cần phải có những chuyên gia giỏi
ràng và phải đúng quy định. Vì vậy ngoài việc phải thực hiện CBTT, các doanh
(1) Chuẩn mực kế toán Việt Nam(VAS), gồm:
nghiệp còn phải công bố đầy đủ các nội dung thông tin cần thiết theo đúng biểu
Chuẩn mực số 06: “ thuê tài sản”
mẫu quy định.
Chuẩn mực số 11: “Hợp nhất kinh doanh”
- Nội dung CBTT nói chung và thông tin BCTC nói riêng, phải đảm bảo đúng
theo chuẩn mực kế toán và các văn bản hướng dẫn thi hành, Các số liệu được trình
bày trên các biểu mẫu báo cáo phải có tính kế thừa và phải phản ảnh đúng bản chất
Chuẩn mực số 14: “Doanh thu và thu nhập khác”
Chuẩn mực số 17: “Thuế Thu nhập doanh nghiệp”
Chuẩn mực số 18: “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng”
của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, nếu là số liệu tổng hợp phải được thuyết minh
(2) Quyết định 15/2006/QĐ-BTC
chi tiết để người đọc hiểu rõ được bản chất sự việc, trung thực, minh bạch và chính
(3) Thông Tư 13/2006/TT-BTC
xác là các yêu cầu chính trong nội dung thông tin được công bố.
Các giải pháp hoàn thiện cụ thể
3.2.1
Giải pháp về nội dung thông tin công bố
3.2.1.1 Về trích lập dự phòng
TK 351 – “Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm”
TK 352 – “Dự phòng phải trả”
* Tài khoản được trích lập từ lợi nhuận sau thuế:
TK 415 – “Quỹ dự phòng tài chính”
Tuy nhiên, hầu hết sự biến động về tài chính của các DNNY tập trung vào
nhóm các tài khoản sau:
TK 129 – “Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn”
TK 139 – “Dự phòng phải thu khó đòi”
- 61 -
- 62 -
TK 159 – “Dự phòng giảm giá hàng tồn kho”
Thiếu trích thêm
TK 229 – “Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn”
Thừa hoàn nhập
Có TK 129 ( 229)
Nợ TK 635
Có TK 129( 229)
Thừa hoàn nhập
Nợ 129 (229)
Có TK 635
Nợ 129(229)
Có TK 635
Nợ 129(229)
Có TK 515
2. Tài khoản 139
+Xử lý
Thiếu trích thêm
Thừa hoàn nhập
- Đối với nợ phải thu quá hạn thanh toán, mức trích lập dự phòng như sau:
30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 3 tháng đến dưới 1 năm.
50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm.
70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 3 năm.
- Đối với khoản dự phòng phải trả cho sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp
đã tiêu thụ trong năm, tổng mức trích lập dự phòng không được vượt quá 5% tổng
doanh thu tiêu thụ của các loại sản phẩm, hàng hoá.
Các văn bản hướng dẫn đều có quy định cụ thể thời gian thực hiện trích lập, đối
Nợ TK 642
Có TK 139
Nợ TK 139
Có TK 711
chỉnh công tác trích lập dự phòng theo quy định.
Cuối niên độ kế toán
Giữa và cuối niên độ Giữa và cuối niên độ
kế toán
kế toán
Nợ TK 632
Có TK 159
Nợ TK 632
Có TK 159
3. Tài khoản 159
- Thời điểm
trích lập
Bút toán ghi sổ
+Trích lập
Nợ TK 632
Có TK 159
Nợ TK 159
Có TK 711
đúng yêu cầu này, dẫn đến tình trạng cuối năm khi trích lập, con số dự phòng quá
vậy, đề nghị các tổ chức điều hành TTCK khuyến cáo các DNNY thực hiện nghiêm
Ngoài ra các văn bản hướng dẫn hạch toán còn có sự khác biệt giữa trích lập và
hoàn nhập các khoản dự phòng, trong đó một số khoản hoàn nhập được đưa vào
các tài khoản thuộc nhóm doanh thu (TK: 515, 711), theo ý kiến cá nhân, hướng
dẫn hoàn nhập như vậy là chưa phù hợp với thực tế, đề nghị khi trích lập ghi tăng
tài khoản nào, thì khi hoàn nhập phải ghi giảm tài khoản đó, nhằm đảm bảo tính
Nợ TK 632
Có TK 159
trung thực của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
+Xử lý
- 63 -
- 64 -
Về trích lập dự phòng đối với các khoản đầu tư tài chính là chứng khoán cũng
Khoản dự phòng phải trả dành cho các DN bán hàng hoá, sản phẩm, công trình
chưa có hướng dẫn cách tính rõ ràng, cụ thể cho từng đối tượng. Chúng tôi xin đề
xây lắp có bảo hành, được quy định cách tính toán dựa vào hợp đồng kinh tế, hoặc
nghị phương án trích lập dự phòng như sau:
Dự phòng trợ cấp mất việc làm dùng để chi trợ cấp thôi việc, mất việc làm, đào
VNIndex0 - VNIndex1
= (Giá mua – Mệnh giá) x -----------------------------trích lập dự phòng
VNIndex0
Với:
hiện hành. Trường hợp quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm hàng năm không chi hết
+ VNIndex0: thời điểm mua chứng khoán
được chuyển sang năm sau, khi doanh nghiệp khoá sổ kế toán kết thúc năm tài
+ VNIndex1: thời điểm khoá sổ kế toán
chính.
Ngoài các cổ phiếu niêm yết trên TTCK có báo giá trên bảng giao dịch điện
Chứng từ kế toán
tử, các DNNY còn mua cổ phiếu trên thị trường OTC, mua đấu giá cổ phiếu IPO
Các chứng từ có liên quan dùng để tính toán trích lập dự phòng trong các trường
lần đầu của các CTCP, đây là những cổ phiếu được tự do mua bán trên thị trường.
hợp đầu tư tài chính là các bảng kê chi tiết từng loại cổ phiếu, trái phiếu, các khoản
Vì vậy, chúng tôi đã đề nghị cách tính dự phòng như trên, do thực chất các cổ phiếu
số cũng không có gì khác biệt, nhưng lại tạo ra thuận lợi cho doanh nghiệp trong
phải thu.
công tác sử dụng và quản lý tài sản cố định.
Tuy nhiên, tác động của phương pháp khấu hao là ảnh hưởng đến lợi nhuận
3.2.1.2 Về vấn đề khấu hao tài sản cố định
Đối với tài sản cố định trong các DNNY, thống kê cho thấy đa phần các doanh
nghiệp sử dụng phương pháp khấu hao đường thẳng, rất ít doanh nghiệp sử dụng
phương pháp khấu hao khác, mặc dù chuẩn mực kế toán và Quyết định số
206/2003/QĐ-BTC, ngày 12-12-2003 của Bộ Tài chính, đều có quy định tất cả có 3
phương pháp khấu hao tài sản cố định, đó là:
của doanh nghiệp, nếu khấu hao nhanh sẽ giảm lợi nhuận hiện tại từ đó:
- Khoản thu thuế bị giảm ảnh hưởng đến số thu của cơ quan thuế địa phương.
- Cổ tức của các cổ đông giảm sút, sẽ tác động tâm lý nhà đầu tư, kéo theo sự
sụt giảm giá cổ phiếu của công ty.
Như vậy các DNNY cần xem xét cách tính khấu hao như thế nào để hài hoà,
Phương pháp khấu hao đường thằng.
phù hợp với lợi ích của các chủ thể có liên quan, đồng thời tạo ra thuận lợi cho
Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh.
doanh nghiệp trong việc quản lý tài sản cố định, và phương pháp khấu hao này phải
Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.
trạng tài sản cố định của doanh nghiệp, sau nữa đáp ứng tình hình chung của đất
1. Tổng giá trị tài sản tính đến 31.12.năm …. :
…………………..đồng
nước trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Các khoản ghi giảm tài sản trong năm:
…………………..đồng
Tài sản cố định có khấu hao nhanh sẽ mau thu hồi vốn, tạo điều kiện cải tiến kỹ
2.1 Trích quỹ phúc lợi:
…………………..đồng
thuật, tăng năng suất lao động và hiệu quả hoạt động kinh doanh, như thế lợi nhuận
2.2 Trích quỹ khen thưởng:
…………………..đồng
cũng tăng lên, tức là thuế thu nhập doanh nghiệp cũng tăng theo tương ứng.
2.3 Cổ tức phải trả:
…………………..đồng
B. Tình hình nguồn vốn
phân tích và ra quyết định đầu tư.
1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu:
C. Chênh lệch (A.7) – (B.1): ( >0 : + ;
những sai phạm định kỳ và đột xuất trong việc CBTT của các DNNY, nhằm mục
- Các BCTC có kiểm toán phải có ý kiến kiểm toán viên là chấp nhận toàn
đích đưa dần việc CBTT đi vào quy củ và nề nếp, đây là yếu tố cơ bản nhằm phát
phần, nếu có khoản ngoại trừ trọng yếu, doanh nghiệp phải công bố công văn giải
trình nội dung ngoại trừ, các phương án xử lý và phải cam kết thực hiện đúng thời
gian.
triển thị trường ổn định, bền vững.
3.2.3. Giải pháp về điều kiện và trách nhiệm công bố thông tin
- Quy định về điều kiện và trách nhiệm công bố thông tin phải cụ thể, rõ ràng
3.2.2. Giải pháp về phạm vi và hình thức công bố thông tin
với những đối tượng có trách nhiệm phải cung cấp thông tin theo quy định, tuy
- Điều kiện đầu tiên là các DNNY phải xây dựng trang web của chính mình và
nhiên trong tình hình hiện nay, trường hợp quá tải thông tin, thường xảy ra do hiện
quản lý tốt, đây là giải pháp mang tính cơ bản trong nội dung công bố thông tin.
nay các công ty đại chúng đăng ký với UBCKNN đến thời điểm 31/12/2008 là 896
Thông tin được đưa ra công chúng bằng nhiều kênh khác nhau sẽ đảm bảo yếu tố
công ty, vì vậy nên chăng phải có quy định thêm thời gian cho việc công bố vì lý
- Các cơ quan điều hành vĩ mô TTCK nên tăng cường thêm một số chức năng
tiếp như SGDCK về thời gian công bố nhằm đảm bảo thông tin có thể đến với NĐT
cho các tổ chức hiệp hội chuyên ngành, tổ chức kiểm tra chéo, đánh giá tình hình
trong thời gian ngắn nhất, tránh tình trạng thời gian thông tin nằm chờ tại các cơ
thực hiện các công tác có liên quan đến thông tin được công bố trên TTCK.
quan trung gian khá dài, đây cũng là nguyên nhân xảy ra tình trạng rò rỉ thông tin
3.2.5. Giải pháp xử lý các vi phạm – các biện pháp chế tài
công bố trong những năm vừa qua (đề nghị quy định: nếu là ngày làm việc phải
Đơn vị trực tiếp theo dõi giám sát, thanh tra các tổ chức cá nhân hoạt động trên
công bố trong ngày, trường hợp bất khả kháng có thể chậm trễ, nhưng thời gian
TTCK hiện nay do Ban thanh tra UBCKNN dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch
chậm trễ không quá 2 ngày, kể cả trường hợp là ngày thứ bảy và chủ nhật).
UBCKNN, văn bản quy định về công tác này là Nghị định 36/2007/NĐ-CP, ngày
3.2.4. Giải pháp đánh giá chất lượng thông tin công bố
8-3-2007 của Chính phủ và Thông tư 97/2007/TT-BTC, ngày 8-8-2007 của BTC về
vốn điều lệ đối với các CTCP chưa phải là công ty đại chúng.
nhập doanh nghiệp…
Ngoài các lý do trên thì biện pháp chế tài hiện nay cũng chưa có tác động tích
- Ý kiến của kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán cần quy định rõ mức độ
cực, hình thức xử lý, mức chế tài là phạt tiền theo khung quy định như hiện nay là
ngoại trừ trọng yếu, nếu có ảnh hưởng đến BCTC kiểm toán viên phải nói rõ vấn đề
quá nhẹ, không đủ tính răn đe. Căn cứ vào báo cáo xử phạt hành chính trong lĩnh
ngoại trừ sẽ có ảnh hưởng như thế nào, trong báo cáo kiểm toán và đồng thời phải
vực chứng khoán và TTCK năm 2008 thì mức thấp nhất là 10 triệu đồng và mức
cao nhất là 100 triệu đồng, trong đó phổ biến là mức phạt 20 đến 30 triệu đồng, so
- 71 -
- 72 -
với giá trị của những vụ việc vi phạm, mức phạt này là quá nhẹ, và chủ yếu là phạt
vi phạm trong lĩnh vực phát hành chứng khoán mà thôi.
Giải pháp xử lý trong công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát cần phải được xem
là quan trọng, không thua kém việc xây dựng môi trường kinh doanh trên TTCK,
Nhiệm vụ chính của kiểm toán nội bộ được tập trung vào: kiểm toán hoạt động
bộ nên trực thuộc hội đồng quản trị.
phục hậu quả trong thời gian bao lâu và phải thực hiện đúng theo cam kết trên.
b. Kiểm toán độc lập
Mặt khác các biện pháp chế tài như phạt tiền, nên tính theo phần trăm (%) giá
Kiểm toán độc lập được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền
trị của các vụ vi phạm, có quy định mức tối đa và tối thiểu, nhằm linh hoạt hoá biện
kinh tế thị trường và chính sách cổ phần hoá chuyển đổi mô hình DNNN thành
pháp chế tài phù hợp với tốc độ phát triển chung về giá trị giao dịch trên thị trường
công ty cổ phần , lúc này nhu cầu về kiểm toán BCTC của các công ty cổ phần là tổ
trong giai đoạn hiện nay.
chức phát hành, tổ chức niêm yết …tăng nhanh do ưu thế của mô hình doanh
3.2.6 Giải pháp đối với công tác kiểm toán
a. Kiểm toán nội bộ:
Đây là vấn đề còn mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt nam nói chung, và các
DNNY nói riêng, hiện nay theo mô hình công ty cổ phần, công tác kiểm tra nội bộ
được hiểu như là công cụ phục vụ cho Ban giám đốc (Ban Tổng giám đốc) công ty,
vì thế mặc dù đã có Quyết định 12/2007/QĐ – BTC ngày 13-3-2007, của Bộ Tài
chính hướng dẫn các DNNY thực hiện xây dựng quy trình kiểm tra, kiểm soát nội
bộ, nhưng rất ít doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc quy chế này, điều này cũng dẫn
đổ của Công ty Enron và Worldcom, trong đó có sự liên đới trách nhiệm của công
chuyển giao cho Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), thực hiện
ty kiểm toán hàng đầu tại Mỹ là Arthur Andersen, đây cũng là nguyên nhân dẫn
một số nội dung công việc quản lý, hành nghề kế toán, kiểm toán.
đến sự ra đời của đạo luật Sarbanes – Oxley năm 2002.
Quyết định số 89/2007/QĐ-BTC ngày 24-10-2007 của Bộ Tài chính về việc
Thị trường chứng khoán Việt Nam với vụ rối ren tài chính của công ty cổ phần
ban hành Quy chế lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận kiểm toán
Bông Bạch Tuyết năm 2008 (Bibica vào năm 2005), trong đó nổi lên những vấn đề
cho tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán.
như: không tuân thủ chế độ kế toán và lập BCTC, thông tin được công bố trên
Với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng BCTC của các DNNY, trước hết
TTCK, hạn chế về trình độ của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán trong
công tác kiểm toán phải được đặt lên hàng đầu, vì bản chất của kiểm toán là đảm
quá trình cung cấp dịch vụ kiểm toán cho các DNNY…, mặt khác nó cũng cho thấy
Đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng chuyên môn của kiểm toán viên.
phiếu ra công chúng…, chắc chắn áp lực thời vụ kiểm toán đè nặng lên các doanh
Trình độ quản lý, ứng dụng khoa học - kỹ thuật, chính sách đãi ngộ đối với
nghiệp kiểm toán được phép kiểm toán các tổ chức niêm yết và tổ chức phát hành,
kiểm toán viên của doanh nghiệp kiểm toán.
Kiểm toán là một mắt xích không thể thiếu trong quy trình vận hành của
việc này không thể tránh khỏi ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC của các
kiểm toán viên trong khi thực hiện kiểm toán BCTC.
TTCK, TTCK là thị trường kinh doanh thông tin, hoạt động trên nền tảng của niềm
Qua tình trạng ngoại trừ xuất hiện khá nhiều trong các báo cáo kiểm toán, có
tin, do vậy một BCTC được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập nghiêm
những điểm ngoại trừ là trọng yếu, nhưng các DNNY thường không công bố giải
minh, chính trực, và chuyên nghiệp, sẽ làm an lòng nhà đầu tư, cho dù không đảm
trình kèm theo. Các cơ quan quản lý TTCK cần phải có văn bản quy định rõ ràng
- 75 -
- 76 -
xây dựng, tu chính một bộ Luật và Chuẩn mực kế toán Việt Nam thống nhất, giảm
ty kiểm toán, với đánh giá của mình về BCTC đã kiểm toán của DNNY được phát
bớt các văn bản hướng dẫn kèm theo, làm khuôn mẫu cho các kế toán viên thực
hành ra công chúng, trong trường hợp thực hiện quy trình kiểm toán có sai sót.
hiện công tác kế toán.
Các văn bản pháp luật quy định về kế toán, kiểm toán phải được xây dựng thống
Theo thông lệ quốc tế, công việc xây dựng chuẩn mực kế toán được thực hiện
nhất giữa các tổ chức: kiểm toán độc lập và kiểm toán Nhà nước trong công tác
bởi Hiệp hội kế toán. Vì thế đề nghị Bộ tăng cường thêm một số chức năng cho Hội
kiểm toán BCTC của các tập đoàn, tránh để xảy ra chênh lệch số liệu trong BCTC
kế toán, kiểm toán Việt Nam (VAA) hiện nay, xây dựng Hội thành một tổ chức
của các doanh nghiệp vừa là DNNY, vừa là DNNN, vừa là công ty con của các tập
chuyên môn làm tham mưu cho Bộ về các vấn đề có liên quan đến công tác kế
đoàn.
toán, làm công tác trực tiếp quản lý, điều hành theo dõi, kiểm tra, cũng như kiến
xử lý các trường hợp vi phạm trong thực hiện kiểm toán, tránh để xảy ra những
trường hợp liên đới vi phạm có ảnh hưởng đến TTCK.
(1) Bộ Tài chính nên giao hẳn nhiệm vụ xây dựng hệ thống văn bản quy phạm
Mặt khác về chuyên môn nên tách hai nhiệm vụ kế toán, kiểm toán ra thành
pháp luật có liên quan đến lĩnh vực chứng khoán cho UBCKNN(SSC), sau khi đã
hai bộ phận riêng biệt, giao cho hai tổ chức thực hiện. Ví dụ chuyển VAA thành
trình Bộ và được duyệt y, nhằm phù hợp với tình hình phát triển cả về quy mô và
- 77 -
- 78 -
Hiệp hội kế toán, VACPA thành Hiệp hội kiểm toán, để dễ dàng trong việc xây
liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Kế toán, Luật Đầu tư …, đồng thời đảm
dựng chuyên nghiệp hoá các công tác kế toán, kiểm toán.
bảo các biểu mẫu báo cáo có đầy đủ nội dung phục vụ cho phân tích tình hình tài
(4) Bán bớt cổ phần Nhà nước trong các DNNY không thuộc diện Nhà nước
chính doanh nghiệp, để hoạt động của thị trường ngày càng hiệu quả hơn.
làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu, hiệu quả của thị trường, đó cũng là nguyên
(5) Kiến nghị xem xét đưa vào TTCK một số hàng hoá tài chính khác như
thương phiếu, hối phiếu, hợp đồng giao sau…,các công cụ chứng khoán phái sinh
như nghiệp vụ mua bán khống, mua bán chứng khoán trung hạn, để xây dựng
TTCK ngày càng đa dạng, phong phú, phồn vinh.
- Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước
+ Chấn chỉnh thực trạng CBTT hiện nay của các DNNY, nhất là các BCTC
thường niên, quy định lại về hình thức, phương tiện CBTT, đề nghị và giám sát các
nhân gián tiếp làm tăng cung, giảm cầu chứng khoán và là nguyên nhân dẫn đến
suy thoái thị trường.
+ Ngoài ra SSC cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền giáo dục, phổ
kiến thức về chứng khoán và TTCK, hệ thống văn bản Luật có liên quan như Luật
Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán …, để từng bước nâng cao trình độ
hiểu biết của các chủ thể tham gia TTCK, tạo sự tự giác thực hiện nghĩa vụ cho các
chủ thể tham gia thị trường.
DNNY xây dựng, quản lý tốt trang web của doanh nghiệp, giảm bớt hiện tượng quá
+ Cần có sự phối hợp cao trong mối quan hệ giữa các cơ quan điều hành và
tải trong CBTT, dùng phương tiện thông tin trên làm cầu nối giữa nhà đầu tư và
các tổ chức cung ứng các dịch vụ CBTT trên thị trường như: Hiệp hội kế toán,
doanh nghiệp, tạo sự an tâm cho nhà đầu tư, cũng như cho toàn thị trường.
kiểm toán Việt Nam (VAA), Hội đồng kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
chức trên, hoặc phải có sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông công ty.
+ Từng bước xây dựng đội ngũ các nhà quản lý theo phong cách mới, quản lý
- Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
theo mô hình công ty cổ phần hiện đại, thực hiện việc chấp hành, tuân thủ luật pháp
+ Tổ chức kiểm tra, giám sát tình hình các DNNY thực hiện quy chế của Sở
là việc quan trọng hàng đầu, có chế độ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phù hợp
về CBTT định kỳ, đảm bảo thông tin được công bố kịp thời theo đúng quy định của
luật pháp. Kiến nghị và hỗ trợ các DNNY thực hiện xây dựng trang web công ty
làm cổng thông tin điện tử, phục vụ yêu cầu CBTT.
với yêu cầu trong tình hình mới.
+ Nắm vững hệ thống luật pháp, xây dựng và hoàn chỉnh quy chế về CBTT,
thực hiện quản trị doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, xây dựng hệ thống
+ Tổ chức đào tạo, tập huấn cho các nhân viên công bố thông tin trong các
kiểm tra nội bộ có tính độc lập cao, tạo điều kiện nâng cao trình độ về kế toán của
DNNY, nhằm đảm bảo các doanh nghiệp này hiểu rõ tính quan trọng của việc
các nhân viên tác nghiệp trong đơn vị, từng bước đạt yêu cầu thông tin được công
CBTT.
- 81 -
Kết luận chương 3
- 82 -
Kết luận chung
Các biện pháp nhằm hoàn thiện việc CBTT trước hết phải định hướng được
TTCK là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, đây là một kênh thu hút
mô hình xây dựng thị trường và hệ thống CBTT như thế nào? Xu thế phát triển hệ
vốn đầu tư rất quan trọng trong nền kinh tế, tình hình hoạt động của thị trường cũng
thống ra sao? Thông qua việc xác định quy mô tăng trưởng TTCK trong ngắn và
là cơ sở dữ liệu phục vụ công tác điều hành vĩ mô quốc gia.
dài hạn.
Đặc trưng của TTCK là thị trường vốn cao cấp, nguồn sống của TTCK là thông
Xây dựng TTCK phải đứng trên quan điểm:
- Hội nhập với TTCK thế giới, kế thừa kinh nghiệm các nước tiên tiến có nền
kinh tế thị trường phát triển.
tin được công bố trên thị trường, hàng hoá chứng khoán có một giá trị nội tại khá
TTCK (Hiệp hội kế toán, kiểm toán, chứng khoán…), các tổ chức này sẽ cùng với
thị trường. Tăng cường xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, phục vụ
Bộ Tài chính, UBCKNN, SGDCK, trực tiếp giám sát, theo dõi, kiểm tra, đánh giá
yêu cầu CBTT trên TTCK, đảm bảo thông tin công bố trên thị trường được thông
các hoạt động trên thị trường nhằm thực hiện trung thực và minh bạch hoá TTCK.
suốt.
Tổ chức hệ thống vận hành qua lại đối với các cơ quan quản lý trực tiếp, gián
tiếp và các cơ quan hữu quan đối với thị trường, nhằm đảm bảo các chủ trương,
chính sách của Nhà nước được thi hành đồng bộ thống nhất và hiệu quả, xây dựng
các hiệp hội chức năng giúp việc trong kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá các
mặt hoạt động trên TTCK, nhằm tạo điều kiện cho thị trường phát triển lành mạnh,
minh bạch, ổn định và bền vững.
- 83 -
NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ ĐỀ TÀI
- Đề tài được thực hiện có tính thời sự đối với chuyên ngành trong giai đoạn
hiện nay, cách trình bày và bố cục được xây dựng có phương pháp khoa học, trình
bày thứ tự và có logic, kỹ năng viết, ghi nhận và giải trình sự việc theo thứ tự hợp
lý, đơn giản, dễ hiểu và ít sai sót.
- Nội dung đề tài đã đưa ra khá nhiều ý kiến mới mẻ về cách nhìn nhận về
thông tin kế toán, báo cáo tài chính, công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm
yết nói chung và các công ty cổ phần nói riêng. Thông qua nội dung đề tài đã phản