ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI BÍCH NGỌC
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
TRONG TIỂU THUYẾT “ĐỘI GẠO LÊN CHÙA”
CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khóa luận: PGS. TS. Cao Thị Hảo
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016
i
MỤC LỤC
Trang
TRANG BÌA PHỤ............................................................................................I
ii
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Đối với mỗi tác phẩm văn học quan niệm nghệ thuật về con người
Một trong những cây bút được đánh giá cao trong giai đoạn hiện nay là
tác giả Nguyễn Xuân Khánh. Nguyễn Xuân Khánh được đánh giá là nhà văn
“tự do trên sân chơi tiểu thuyết hiện đại”[19] là “cầu nối giữa truyền thống
và hiện đại”[19]. Trong khi nhiều tiểu thuyết hiện đại khi đi vào chủ đề lịch
sử thường rơi vào tình trạng “lạc đường” khi thuộc vào hai trường hợp hoặc
đưa ra những hư cấu phi lí nhảm nhí hoặc minh họa cho lịch sử một cách khô
cứng, nhạt nhòa thì Nguyễn Xuân Khánh lại là một trong số ít những tác giả
thành công với thể loại tiểu thuyết lịch sử. Gần đây, ông đã cho ra đời bộ ba
tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn và Đội gạo lên chùa. Cả ba tác
phẩm này đều gây tiếng vang lớn, mang lại cho Nguyễn Xuân Khánh nhiều
giải thưởng và tên tuổi của ông nhanh chóng đến với bạn đọc. Đặc biệt với
Đội gạo lên chùa cuốn tiểu thuyết được hoàn thành vào tuổi bảy mươi chín
đã càng khẳng định tên tuổi của ông khi tác phẩm đoạt giải thưởng là một
trong năm tác phẩm hay nhất của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2011.
Có thể nói điểm nổi bật trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa là Nguyễn
Xuân Khánh đã đi sâu vào khám phá “con người cũ” dưới góc nhìn mới.
Nguyễn Xuân Khánh không chỉ viết về cuộc sống con người dưới cái nhìn
lịch sử văn hóa truyền thống mà ông còn thổi vào từng trang sách một màu
sắc, một không khí Phật giáo đậm đặc. Bởi theo ông trong mỗi con người đặc
biệt là người Việt Nam dù ít dù nhiều mỗi chúng ta đều mang một tinh thần
Phật giáo. Chính vì thế mà Nguyễn Xuân Khánh đã xuất phát từ góc nhìn Phật
giáo để đi sâu khám phá con người. Đây chính là điểm nổi bật khác biệt so
với tiểu thuyết của các nhà văn khác và cũng là điểm khác biệt của Đội gạo
lên chùa so với hai tiểu thuyết trước đó của ông.
1.3 Việc đi từ góc nhìn của Phật học để cắt nghĩa con người trong tác
phẩm đòi hỏi Nguyễn Xuân Khánh phải có những lựa chọn nhất định trong
phương thức thể hiện nhân vật của mình, từ đó bộc lộ quan niệm của mình về
thế giới con người. Các phương thức này không chỉ là công cụ nhà văn sử
dụng để chỉ ra một hướng khám phá và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chính
tác giả mà nó còn là phương diện để người đọc nắm bắt và cảm thấy mối quan
hiện lại lịch sử theo cách của văn học, không khô cứng mà mang tính hấp dẫn
trong từng câu chuyện, từng nhân vật. Đồng thời Ðội gạo lên chùa cũng là
3
“lời cảnh báo về những giá trị cốt yếu, sâu thẳm, đẹp đẽ của văn hóa Việt
đang bị phá hủy, đang dần biến mất”(Hoàng Quốc Hải) [18].
Đặc biệt sau khi đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Đội gạo
lên chùa đã trở thành một tác phẩm gây được sự chú ý của không ít nhà phê
bình. Nhà nghiên cứu trẻ Phạm Xuân Thạch đánh giá: “Nguyễn Xuân Khánh
là một trường hợp độc đáo khi mọi sự thể nghiệm, đột phá về hình thức đã trở
nên bão hòa thì ông lại trở về với dạng sơ khai của tiểu thuyết: tiểu thuyết
truyền thống”[16]. Nhà văn Hoàng Quốc Hải - người cũng đau đáu với những
cuốn tiểu thuyết lịch sử - nêu những điều tâm đắc của mình về cuốn tiểu
thuyết của người đồng nghiệp tài hoa: “Anh luôn đụng đến những vấn đề bản
chất của văn hóa Việt, đó là Mẫu thượng ngàn - hiện tượng văn hóa thuần
Việt; và giờ đây là đạo Phật - hiện tượng văn hóa du nhập nhưng đã được
Việt hóa. Ðội gạo lên chùa cũng là lời cảnh báo về những giá trị cốt yếu, sâu
thẳm, đẹp đẽ của văn hóa Việt đang bị phá hủy, đang dần biến mất”[16].
Bên cạnh những lời khen ngợi, nhiều nhà nghiên cứu cũng thẳng thắn
chỉ ra những hạn chế của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong khi viết đó là
đôi khi ông quá sa đà vào việc trình bày phong tục văn hóa hoặc “thiếu sự cụ
thể ở những chi tiết thực, vì thế đọc tiểu thuyết của ông thích nhưng chưa
“sướng”, đây là một điều đáng tiếc” [18]- nhà phê bình văn học Hoài Nam
bày tỏ quan điểm.
Nhìn nhận “đứa con” của mình, Nguyễn Xuân Khánh chỉ nói rất giản
dị: “Tôi “đội gạo lên chùa” bằng tất cả vốn sống của cuộc đời mình, bằng tất
cả sự trải nghiệm 79 năm của mình. Có những chi tiết đời giúp tôi nhặt được:
năm 1977 tôi bị nghi ung thư, nằm viện, có sư ông nằm cùng phòng. Sư lại có
vật. Qua đó người đọc cũng nhận thấy nhiều gặp gỡ kỳ lạ giữa hai tác giả.
Hai tác giả cùng chịu ảnh hưởng của thiền, mỹ học thiền và văn hóa Phật
giáo cổ truyền. Dù bản sắc văn hóa của hai truyền thống Việt - Nhật có
những điểm không hoàn toàn giống nhau nhưng cả hai đã trao cho người đọc
những cảm hứng về cái đẹp bay bổng, kỳ diệu với chất nhân bản, Phật bản
độc đáo”[17]. Các bài viết như “Từ một góc nhìn tâm linh với Đội gạo lên
chùa” của Vân Long đăng trên báo Sức khỏe và đời sống. Bài viết “Tiểu
thuyết như một tham khảo Phật giáo – Đọc Đội gạo lên chùa của Nguyễn
Xuân Khánh” của Mai Anh Tuấn cũng đã đưa ra nhận xét “Đội gạo lên chùa
5
của Nguyễn Xuân Khánh là cuốn tiểu thuyết ngay từ tiêu đề đã tiết lộ một dấu
chỉ Phật giáo và bởi thế, liền sau đó, vẫy gọi những cảm xúc cũng như tri
thức tiếp nhận thuộc chốn cửa thiền”[18].
Trên báo văn nghệ, số 6, ngày 11 tháng 2 năm 2012, nhà văn Văn
Chinh có bài “Tinh thần dân chủ Phật giáo Việt qua tiểu thuyết Đội gạo lên
chùa của Nguyễn Xuân Khánh”. Trong bài viết tác giả đã phát hiện ra cái hay
trong tác phẩm từ góc nhìn Phật giáo: “Đặt vấn đề sai lầm dĩ vãng thành một
sơn “bão nổi can qua” vừa đứng nhất lại vừa bản chất nhất, vì người làng
quê có thiện căn nhưng có cả ác ă, bị khuyên thiện hay xui ác đều rất dễ; và
vì rồi người cũng làng thì vẫn phải sống với nhau, dời này sang đời khác.
đây phải chăng cũng là tư tưởng nghệ thuật của tiểu thuyết” [19]
Một số tác giả khác lại quan tâm về nghệ thuật tiểu thuyết trong tác
phẩm “Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua Đội gạo lên chùa”
của Hoàng Thị Hoài Hương (Luận văn thạc sĩ). “Đội gạo lên chùa – trong
chùa và ngoài chùa” của Hoài Nam đăng trên trang Ngôn ngữ và văn hóa hay
“Nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân
Khánh” của tác giả Nguyễn Quốc Bảo. Nhà thơ Hoàng Việt Hằng trong bài
viết “Thong thả kiếp người đội gạo lên chùa” đưa ra nhận định:“Từng nổi
thuật hợp lí: sử dụng yếu tố nguyên mẫu và hư cấu nghệ thuật nhuần
nhuyễn, các yếu tố ngôn ngữ, giọng điệu, đặc biệt là đặt nhân vật dưới góc
nhìn văn hoá Việt đậm đà tính dân tộc, kết tinh thành biểu tượng độc
đáo”[25]. Bài viết “Trong bóng hình một đại tự sự” của Nguyễn Chí Hoan
(Tham luận tại tọa đàm Lịch sử và văn hóa qua tự sự nghệ thuật của Nguyễn
Xuân Khánh do Viện Văn học tổ chức).
Các bài viết đã đứng dưới góc độ tôn giáo và nghệ thuật để đi sâu vào
tìm hiểu tác phẩm. Mỗi bài viết, mỗi công trình nghiên cứu là một sự khám
phá tác phẩm ở các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên theo chúng tôi khảo sát
vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm chưa được các tác
giả chú ý nhiều trong khi đây là một trong những vấn đề trọng tâm tạo nên sự
thành công của tác phẩm. Bởi vậy, với đề tài “Quan niệm nghệ thuật về con
người trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh”, chúng
tôi sẽ tập trung tìm hiểu tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh từ góc độ thi
7
pháp. Từ đó đóng góp một phần vào việc khẳng định giá trị tác phẩm trong
nền văn học nói chung và lĩnh vực tiểu thuyết nói riêng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là quan niệm nghệ thuật về
con người trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu chính của đề tài là tiểu
thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh. Bên cạnh đó chúng tôi
cũng quan tâm tới một số tiểu thuyết đương thời để so sánh.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Vị trí vai trò của Nguyễn Xuân Khánh trong dòng tiểu thuyết đương đại
Việt Nam.
Khái quát quan niệm nghệ thuật về con người nói chung và quan niệm
B. NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ CON NGƯỜI VÀ TÁC GIẢ NGUYỄN XUÂN KHÁNH
1.1. Một số vấn đề lí luận về quan niệm nghệ thuật về con người
1.1.1 Khái niệm
Theo từ điển thuật ngữ văn học “Quan niệm nghệ thuật là hình thức
bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ qui chiếu ẩn chìm trong hình
trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác,
phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở
của tư duy nghệ thuật [4,Tr273].
Quan niệm nghệ thuật còn là các nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con
người vốn có của hình thức nghệ thuật, bảo đảm cho nó khả năng thể hiện đời
sống với một chiều sâu nào đó. Nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong cách hiểu
thế giới và con người của một hệ thống nghệ thuật, thể hiện khả năng, phạm
vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó. Quan niệm nghệ thuật của văn học có
liên quan mật thiết với quan niệm về thế giới và con người về mặt triết học,
khoa học, tôn giáo, đạo đức, chính trị vốn có của thời đại mình. Nhưng do đặc
thù của mình mà quan niệm nghệ thuật có những thể hiện và bộc lộ riêng.
Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thể hiện ở điểm nhìn nghệ
thuật, ở chủ đề cảm nhận đời sống được hiểu như những hằng số tâm lí của
chủ thể, ở kiểu nhân vật và biến cố mà tác phẩm cung cấp, ở cách xử lí biến
cố và quan hệ nhân vật. Khác với tư tưởng, tác phẩm tập trung thể hiện một
thái độ với cuộc sống trong bình diện quan hệ giữa hiện thực và lí tưởng.
Quan niệm nghệ thuật chỉ cung cấp một mô hình nghệ thuật về thế giới có
tính chất công cụ để thể hiện những cuộc sống cần phải mang tính khuynh
hướng khác nhau. Cụ thể là nó chỉ cung cấp một điểm xuất phát để tìm hiểu
nội dung của tác phẩm cụ thể, một cơ sở để nghiên cứu sự phát triển tiến hóa
Nhân vật văn học nào cũng biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con người
theo một quan điểm nhất định và qua các đặc điểm mà nhà văn lựa chọn. Đó
là mô hình về con người của tác giả. Tuy nhiên quan niệm nghệ thuật về con
11
người và nhân vật không phải là một. Quan niệm nghệ thuật về con người bao
quát rộng hơn, nhân vật chỉ là biểu hiện cụ thể cá biệt của nó.
Nhân vật là cơ sở để khám phá quan niệm nghệ thuật về con người của
tác giả. Muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người phải xuất phát từ
những biểu hiện lặp đi lặp lại của nhân vật, thông qua các yếu tố bền vững,
được tô đậm dùng để tạo lên chúng. Các yếu tố này được nhà văn xây dựng
và được biểu hiện trong tác phẩm. Chẳng hạn như ở cách xưng hô đối với
nhân vật, tên gọi của nhân vật, cách thức giới thiệu nhân vật và sự biến đổi
của nhân vật trong tác phẩm. Đồng thời nó còn biểu hiện qua chân dung nhân
vật, ngoại hình, trang phục, hành động, tâm lý, nội tâm, ngôn ngữ hay giao
tiếp. Tính cách của nhân vật nếu hiểu là nội dung khái quát nhân vật như các
phẩm chất tư tưởng, đạo đức, ý chí… thì không phải phạm vi của biểu hiện
quan niệm nghệ thuật, mà bản thân nó thuộc vào quan niệm tư tưởng ý thức
hệ của tác giả. Nhưng tính cách nếu hiểu là cơ sở logic của hình tượng con
người thì nó lại là yếu tố mang quan niệm nghệ thuật.
Miêu tả chân dung nhân vật: mỗi nhà văn khi tạo ra các nhân vật trong
tác phẩm của mình đều chọn những cách miêu tả khác nhau để xây dựng hình
tượng nhân vật. Đó không chỉ là cách miêu tả tạo cho nhân vật một đặc điểm
nhận diện mà đó còn là cách nhìn, quan niệm của nhà văn về con người trong
mối tương quan với cuộc sống. Không phải ngẫu nhiên mà trong Lửa tư
những ngôi nhà, Miền cháy, Nguyễn Minh Châu lại cho nhân vật của mình
hiện lên với vẻ khắc khổ, dằn vặt bất an sau chiến tranh mà đó chính là hiện
thân của những con người lo toan, những con người luôn bất an khi cuộc sống
những phạm trù thể hiện quan niệm về con người như mọi yếu tố khác của tác
phẩm. Song chúng chỉ biểu hiện trong tính hệ thống, trong sự lặp lại có qui
luật, có sự liên hệ chi phối lẫn nhau.
Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học
biểu hiện qua tất cả các mặt của nhân vật dưới ngòi bút của tác giả mà bộc lộ
ra bên ngoài thông qua cách mà tác giả đặt tên cho nhân vật của mình hay
cách miêu tả từ chân dung ngoại hình đến tính cách. Những yếu tố đó lặp đi
lặp lại khiến cho người đọc thông qua đó có thể phát hiện được quan niệm của
tác giả về con người.
13
1.2.Tác giả Nguyễn Xuân Khánh và những đóng góp cho dòng tiểu
thuyết đương đại Việt Nam
1.2.1. Tiểu sử và con người.
1.2.1.1. Tiểu sử.
Nguyễn Xuân Khánh có bút danh là Đào Nguyễn, ông sinh năm 1933,
quê tại Cổ Nhuế - Từ Liêm - Hà Nội. Ông từng đỗ tú tài Toán và từng học
Đại học Y khoa Hà Nội cho đến hết năm 1952. Năm 1953, Nguyễn Xuân
Khánh vào bộ đội. Trong khoảng mười năm, ông đã đảm nhiệm những vai trò
khác nhau trong quân đội. Đầu tiên Nguyễn Xuân Khánh ở một đơn vị pháo
binh, sau đó chuyển sang dạy văn hoá tại Trường Sĩ quan Lục quân trước khi
ông chuyển về làm việc tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội rồi Báo Thiếu niên
tiền phong. Từ 1966, ông là phóng viên báo Thiếu niên Tiền phong. Năm
1973, Nguyễn Xuân Khánh quyết định dừng sự nghiệp của mình nên ông về
nghỉ hưu sớm. Hiện nay ông đang sống tại Hà Nội.
1.2.2.2 Con người.
Nguyễn Xuân Khánh bắt đầu sự nghiệp viết văn từ năm 1955, cùng
thời với Nguyên Ngọc, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng…
đoạt giải nhì (đợt 1, 1958, không có giải nhất) cuộc thi viết về đời sống bộ đội
trong hòa bình của tạp chí Văn nghệ quân đội.
Nhưng ông chính thức bước vào nghiệp văn từ năm 1963 với tập truyện
ngắn Rưng sâu (tập truyện ngắn, Nxb Văn học,1963) sau đó là một loạt các
tác phẩm ra đời sau đó : Miền hoang tưởng (tiểu thuyết, Nxb. Đà Nẵng,
1990), Trư cuồng (tiểu thuyết, talawas, 2005), Hồ Quý Ly (tiểu thuyết, Nxb
Phụ nữ, Hà Nội, 2000, 2001, 2002, nối bản và tái bản 15 lần), Hai đứa trẻ và
con chó Mèo xóm núi (Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2002), Mưa quê (Nxb Kim
Đồng, Hà Nội, 2003), Mẫu thượng ngàn (tiểu thuyết, Nxb Phụ nữ, Hà Nội,
2006), Đội gạo lên chùa (tiểu thuyết, Nxb Phụ nữ 2012).
Không chỉ viết truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh còn có
sách biên khảo như: George Sand – nhà văn của tình yêu (Nxb. Phụ nữ, Hà
Nội, 1994). Bên cạnh đó là dịch thuật các tác phẩm nước ngoài như: Những
quả vàng (tiểu thuyết của Nathalie Sarraute, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1996),
Chuông nguyện cầu cho kẻ đã khuất (tiểu thuyết của Taha Ben Jelloun,
Trung tâm Văn hoá - Văn minh Pháp và nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 1998),
15
Bảy ngày trên khinh khí cầu (Jules Verne, Nxb. Kim Đồng, Hà Nội, 1998),
Hoàng hậu Sicile (tiểu thuyết của Pamela Schoenewaldt, Nxb.Kim Đồng, Hà
Nội, 1999), Tâm lý học đám đông (tiểu luận của Gustave le Bon, Nxb. Tri
thức, Hà Nội, 2006).
Tuy có số lượng tác phẩm không phải là ít nhưng mãi đến 2000, tên
tuổi Nguyễn Xuân Khánh mới được đông đảo bạn đọc biết đến với tiểu thuyết
Hồ Quý Ly sau đó là Mẫu thượng ngàn (2006) và thứ ba là Đội gạo lên
chùa (2011). Bộ ba tiểu thuyết lịch sử - văn hóa đã đem lại cho ông nhiều giải
thưởng cao quý như: Giải thưởng Thăng Long của UBND TP Hà Nội, Giải
thưởng Hội Nhà văn Hà Nội và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam
1.2.3. Những đóng góp tiêu biểu của Nguyễn Xuân Khánh cho dòng
câu chuyện của thời hiện tại, để đưa ra những tham góp thiết thực vào công
cuộc đổi mới đất nước. Đồng thời Hồ Quý Ly còn là bức tranh đẹp về ngàn
năm văn hiến với những địa danh cổ nổi tiếng, những cảnh sinh hoạt thôn dã,
những lễ hội dân gian, những phong tục tốt đẹp… được lưu truyền hay đã bị
mai một theo năm tháng. Hồ Quý Ly được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt
Nam (1999 - 2000), giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội.
Tiếp sau thành công của Hồ Quý Ly Nguyễn Xuân Khánh tiếp tục cho
ra đời cuốn tiểu thuyết đồ sộ thứ hai – Mẫu thượng ngàn . Mẫu thượng
ngàn là cuốn tiểu thuyết về văn hoá phong tục Việt Nam được thể hiện qua
cuộc sống và những người dân ở một vùng quê bán sơn địa Bắc Bộ cuối thế
kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Mẫu thượng ngàn cũng là cuốn tiểu thuyết lịch sử xã
hội về Hà Nội cuối thế kỷ XIX, gắn với việc người Pháp đánh thành Hà Nội
lần thứ hai, việc xây Nhà thờ Lớn, cuộc chiến của người Pháp với quân Cờ
Đen... Mẫu thượng ngàn còn là câu chuyện tình yêu của những người đàn bà
Việt trong khung cảnh một làng cổ. Đó là tình yêu vừa bao dung, vừa mãnh
liệt của những người phụ nữ với bao nỗi đắng cay, đầy chất phồn thực, bi, hài
hoà quyện với mộng mơ và cao thượng. Mẫu thượng ngàn đã đạt giải thưởng
Tiểu thuyết Hội Nhà Văn Hà Nội năm 2006. Qua cuốn tiểu thuyết đầy ấn
tượng này, tác giả Nguyễn Xuân Khánh một lần nữa chứng tỏ bút lực mạnh
mẽ, sâu sắc, trữ tình của mình, chứng tỏ sự am hiểu sâu sắc về một thời lịch
sử, một phần nền văn hóa Việt.
17
Đến tuổi 80 của cuộc đời Nguyễn Xuân Khánh lại tiếp tục cho ra đời
cuốn tiểu thuyết thứ ba mang tên Đội gạo lên chùa (NXB Phụ nữ, 6/2011).
Trong cuốn tiểu thuyết này Nguyễn Xuân Khánh đã tái ngộ độc giả bằng
dòng văn chương ấm áp và cuốn hút, hứa hẹn những miêu tả, xét đoán tinh tế
về tâm thức con người cũng như những bí ẩn thẳm sâu trong tiềm thức và văn
phẩm không chỉ là sự đối thoại giữa các nhân vật sư cụ Vô Úy – Thầy giáo
Hải, bà vãi Thầm – cô Nguyệt, An – Huệ, …mà đó còn là sự đối thoại giữa
những tư tưởng, những quan niệm về lối sống, về thế giới, con người.
Tiểu kết chương 1:
Như vậy, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là một trong số ít những nhà
văn thành công với thể loại tiểu thuyết lịch sử. Với bộ ba tiểu thuyết đồ sộ của
mình ông đã dẫn dắt người đọc vào một thời kì đã qua với những hào hùng
của lịch sử và những khám phá về con người qua từng thời kì đó. Đặc biệt với
Đội gạo lên chùa Nguyễn Xuân Khánh đã chọn một góc nhìn mới – góc nhìn
Phật giáo để cắt nghĩa, lý giải về con người trong một giai đoạn đầy biến cố
lịch sử. Chính sự khám phá con người này đã hình thành nên cái riêng của
ông trong quan niệm nghệ thuật về con người.
Không chỉ riêng Nguyễn Xuân Khánh mà đối với bất kì nhà văn nào
cũng đều có quan niệm nghệ thuật riêng, điều đó được thể hiện trong tác
phẩm. Và quan niệm nghệ thuật về con người có vai trò quan trọng trong việc
thể hiện nội dung tư tưởng của tác giả cũng như tác phẩm đó. Nhờ có quan
niệm nghệ thuật mà những yếu tố nội tại của nhân vật trong tác phẩm được
bộc lộ một cách rõ ràng, cụ thể qua từng hành động, ngôn ngữ, …Nó đem lại
cho người đọc một sự hình dung nhất định về những điều tác giả muốn hướng
tới, là thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật.
19
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ KIỂU LOẠI CON NGƯỜI TIÊU BIỂU TRONG TIỂU
THUYẾT ĐỘI GẠO LÊN CHÙA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
Trong mỗi tác phẩm văn học, nhà văn luôn cố gắng đi tìm những cách
khác nhau để tái hiện lại cuộc sống bằng con mắt của mình. Trong đó nhân
vật là trung tâm tạo nên cách cắt nghĩa cuộc sống và thế giới của mỗi nhà văn.
cảnh con người mới giữ được mình, từ đó mới có thể mang lại những điều tốt
lành cho người khác.
Sư Vô Úy từ nhỏ đã theo nghiệp tu hành, người đi tu không phải để
“chạy trốn quả nghiệp” mà đi tu bởi “yêu trần thế”. Tu không phải là tìm nơi
để tránh mọi “phong ba bão táp” của thời cuộc mà tu là một lối sống. Đó chỉ
là cách sống khác, cách sống mà những con người đạo hạnh chấp nhận theo
đuổi để đứng vững giữa những buồn vui đau khổ của cuộc đời. Tu thiền
không phải để bất li thế gian, không phải chỉ ở hình thức hay ý niệm mà tu
thiền là tu ở trong tâm.“Người tu thiền không phải chỉ ngồi tư thế hoa sen, rồi
hít thở theo đúng qui cách đã là tu thiền. Con nên hiểu mọi lời nói, hành vi,
cử chỉ…tất cả đều thiền hết. Thiền là một nếp sống đạo hạnh. Từ sớm mai
cho đến tối mịt, lúc nào cũng là thiền”, “ăn là thiền, nói là thiền, nghĩ là
thiền, đi đứng là thiền, làm việc đồng áng cũng là thiền. Bởi vì thiền là sự
sống, hiểu sống. Ta bưng bát cơm ăn, ta cám ơn sự sống. Người làm ra hạt
gạo tức làm ra sự sống.”[6;Tr211]. Tu thiền là cách để sư Vô Úy rèn luyện
chính mình. Bởi Phật dạy rằng chúng sinh còn trôi lăn trong sinh tử luân hồi,
còn nhiều phiền não và khổ đau đơn giản vì chưa phát hiện ra thiện căn của
chính mình và sống với nó mà thôi. Và đức Phật sẽ cứu rỗi con người đưa con
người thoát khỏi những mê lầm những đau khổ đó.
Sư cụ Vô Úy là người hiểu rõ điều đó, chính vì thế người luôn dạy các
đệ tử của mình sống chan hòa với cuộc sống. Sống với những hạnh phúc đơn
giản mà đôi khi vì những dục vọng sai lầm người ta bỏ qua hay đánh mất.
Người nói : “Con ạ kinh pháp có nói rằng : Chúng ta được sinh ra ở cõi
người. Đó là điều hi hữu. Sống ở đời đã là điều hiếm có, vậy thì ta phải sống
làm sao cho xứng đáng. Đừng phí hoài”[6;Tr211]. Đôi lúc hạnh phúc đơn
giản là “Sáng dậy, ta được nghe chim hót, được hưởng luồng gió mát trong
lành”, khi ấy “ta phải biết trang nghiêm nhủ thầm trong dạ: tôi rất sung
21
22
Sinh ra giữa thời điểm biến cố của lịch sử khi thực dân Pháp xâm lược
và coi nhà chùa là nơi che giấu cách mạng phải chọn làm mục tiêu để khai
thác đe dọa những người cách mạng. Sư Vô Úy vẫn bình tâm thản nhiên đối
mặt. Lúc bị dọa nạt rồi bị bắt lên nhà giam phòng nhì đánh đến gãy chân,
người vẫn không quên niệm hồng danh đức Phật cứu khổ cứu nạn. Đó vừa là
một cách đối phó lại cũng là một cách tiếp thêm tinh thần cho chính bản thân.
Sư Vô Úy không chỉ có Phật trong suy nghĩ mà có cả trong lối sống, lối sống
từ bi khoan dung độ lượng sẵn sàng mở lòng với tất cả chúng sinh.
Không giống với sư cụ Vô Úy, không sùng bái Phật giáo cũng không
hiểu rõ về giáo lý nhà Phật nhưng thầy giáo Hải lại nhận thấy ở Phật giáo một
sức mạnh to lớn “Đạo Phật dạy người ta lòng từ bi. Không có từ bi thế giới
này sẽ rơi vào mông muội. Rồi lại dạy con người ta dựa vào chính mình. Ta
luôn phải tìm Phật trong bản thân thế gian ngày nay rất cần cái tâm cao
thượng. Có được cái vô ngã, cái từ bi hỉ xả của đức Phật thì mới mong thế
giới được an lành”[6;Tr333]. Hải không thuyết giảng về tình thương, tình bác
ái, tình đồng chí đồng bào. Tất cả những gì anh làm là vì một lí lẽ rất đơn
giản, anh đã thấy “sự ngạo nghễ vênh vang của những con người da trắng,
lúc nào cũng tự vỗ ngực tự miệt thị hành hạ những đồng bào khốn khổ của
dân tôc mình. Không thể chịu đựng được nữa”[6;Tr415]. Và Hải đã chiến đấu
đến cùng vì lẽ ấy. “Anh không phải người cuồng tín, cũng chẳng mang tư
tưởng anh hùng”. Những hình ảnh về một thầy giáo thư sinh nhỏ bé, nho nhã
được tác giả miêu tả một cách chân thật nó như một thước phim về cuộc đời
của bao chiến sĩ cách mạng thời ấy. Khi bị bắt anh phải “chịu mọi cực hình từ
đánh đập dã man thời nguyên thủy đến tra điện, thân thể sưng vù chỗ nào
cũng có vết thương. Chân thì gãy”. Rồi “mặt xám ngoét. Anh ho sặc sụa.
Nước ở mũi anh vọt ra. Sau đó anh nôn thốc nôn tháo”. Nguyễn Xuân Khánh
không miêu tả nhiều về Hải, ông chỉ viết vài dòng ngắn “thầy Hải trạc hai tư