ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
(Gửi tặng các bạn trong nhóm)
I.
Môn Quản lý học đại cương
Vấn đề 1. Khái niệm quản lý, Các yếu tố cấu thành của hoạt động
quản lý.
Vấn đề 2: Tư tưởng Đức trị của Khổng Tử
Vấn đề 3. Thuyết quản lý theo khoa học của Taylor
Vấn đề 4: Lập kế hoạch. Vai trò của việc lập kế hoạch
Vấn đề 5: Quyết định quản lý. Đặc điểm, vai trò của Quyết định quản
lý
Vấn đề 6: Thông tin quản lý. Yêu cầu đối với thông tin quản lý
II.
Môn Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
Vấn đề 1: Mô hình bộ máy quan liêu thư lại theo Max Weber
Vấn đề 2: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức của
Chính phủ.
Vấn đề 3: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của
UBND.
Vấn đề 4: Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy hành
chính nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Vấn đề 5. Những nguyên tắc cơ bản tổ chức và hoạt động của các cơ
quan hành chính nhà nước.
1
- Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm định
trước được chủ thể quản lý đặt ra. Mục tiêu được thể hiện ở các kết quả, các
giá trị. Mục tiêu là căn cứ để chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý
cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp.
- Môi trường quản lý. Môi trường của quản lý bao gồm môi trường tự
nhiên (như vị trí địa lý, điều kiện khí hậu...); môi trường chính trị; môi
2
trường pháp lý; môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội. Môi trường ảnh hưởng
đến việc thiết lập mục tiêu quản lý và tiến trình quản lý.
Từ đó, có thể đưa ra sơ đồ khái niệm quản lý như sau:
Công cụ
quản lý
Chủ thể
Đối tượng
Mục tiêu
quản lý
quản lý
quản lý
Phương pháp
quản lý
Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà chủ thể quản lý có các
nguyên tắc, công cụ, hình thức, phương pháp quản lý khác nhau, từ đó có thể
Lỗ, qua đời khi ông mới 2 tuổi. Chức quan đầu tiên Khổng tử được nhận là
chức Trung đô tể (coi ấp Trung Đô- kinh đô của nước Lỗ) khi ông đã 51
tuổi. Sau đó, ông giữ các vị trí quan trọng trong triều như Tư Không
(Thượng thư Bộ Công); Đại Tư Khấu (Thượng thư Bộ Hình), Nhiếp tướng
sự (Tướng quốc thứ nhì). Khi thấy nước Lỗ mới hết loạn mà vua đã lao vào
cuộc ăn chơi, không còn trọng những người dưới quyền nữa nên Khổng tử
đã tự ý bỏ Lỗ đi tìm một vị minh quân biết dùng người song suốt hơn 13
năm ông không tìm được một vị vua sáng, một nơi cho ông hành đạo của
mình, cuối cùng về lại quê nhà viết sách và dạy học. Ông đã được UNESCO
công nhận là “danh nhân văn hoá thế giới”.
- Nội dung của thuyết đức trị
Với triết lý “nhân tri sơ tính bản thiện” tức là con người sinh ra đều có
bản chất thiện, nhưng khác nhau về năng lực, hoàn cảnh sống và sự phấn
đấu nên đã hình thành những nhân cách không giống nhau. Bằng sự học tập,
tu dưỡng không ngừng, con người dần hoàn thiện “bản chất người” của
mình. Những người hiền này có sứ mệnh giáo hoá xã hội, làm cho xã hội trở
nên có nhân nghĩa và thịnh trị. Thuyết Đức trị của Khổng Tử hướng tới việc
xây dựng một xã hội nhân bản, phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con
người, lãnh đạo – cai trị họ theo nguyên tắc: người trên noi gương, kẻ dưới
tự giác noi theo.
Dựa trên triết lý trên, Thuyết Đức trị của Khổng tử đề cập tới một số
nội dung chính như sau:
+. Quan niệm về nhà quản lý: (nhà quản lý là ai?)Vua, quan có trách
nhiệm cai trị, giáo hoá điều nhân cho dân chúng, phải làm cho nhân dân tin
tưởng và phục tùng. Muốn vậy, nhà quản lý phải có “nhân”, nhân là yêu
người. Để đạt tới “nhân” nhà quản lý cần năm đức tính: Cung, khoan, tín,
mẫn, huệ. Cung kính thì không bị khinh nhờn, nhân hậu thì được lòng người,
thành tín thì được người ta tín nhiệm, cần mẫn thì thành công, từ huệ thì sử
dụng được người. Có hai con đường trở thành quan. Một là con cái của tầng
lớp quí tộc có được chức vụ do tục "truyền tử", làm quan rồi mới học lễ
cung tự cấp, thu nhập bình quân đầu người thấp, kinh tế trì trệ, chuyên môn
hoá lao động kém. Nền sản xuất đại công nghiệp ra đời dưới tác động của
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ 2 đòi hỏi phải áp dụng những
thành tựu đó vào thực tiễn đời sống xã hội. Nhưng việc áp dụng không dễ do
mâu thuẫn đối kháng giữa giới chủ và người lao động, có nguyên nhân từ
phương pháp quản lí mà giới chủ thường dùng trong thời kì đầu của cách
mạng công nghiệp là dùng bạo lực cưỡng bức công nhân. Các cuộc đấu
tranh của công nhân có nguy cơ huỷ hoại sức sản xuất của xã hội và hiệu
quả sản xuất của các tổ chức. Giới chủ đứng trước thách thức là phương
pháp quản lý cũ không còn phù hợp. Vì vậy, khoa học quản lý được đặc biệt
quan tâm, trong đó trường phái quản lý theo khoa học xuất hiện từ cuối thế
kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX với sự đóng góp của nhiều tác giả như Robert
Owen, Henry Lawrence Grantt, Frank Bunker Gilbreth, Charles
Babbage….Trong đó, đại diện tiêu biểu nhất là Frederick Winslow Taylor.
- Tiểu sử tác giả
Frederick Winslow Taylor (1856-1915) sinh ra trong một gia đình luật
sư giàu có ở Mỹ. Năm 18 tuổi, ông thi đỗ vào khoa Luật trường Đại học
Harward nhưng do thị lực giảm nên ông đã nghỉ học. Năm 1874, ông bắt đầu
học nghề chế tạo máy và làm công nhân tại xí nghiệp Hydraulie Works.
Năm 1878, ông làm việc tại nhà máy thép Midvale, ở đây ông đã có những
phát kiến quan trọng, nhận được bằng phát minh về mâm cặp, máy nghiền tự
động, máy rèn, máy tiếp dụng cụ, máy khoan, máy tiện.... Sau đó, ông được
chỉ định làm trưởng kíp, quản đốc, kĩ sư trợ lí và kĩ sư trưởng của nhà máy.
Trong thời gian này ông theo học lớp tại chức toán lý buổi tối tại trường đại
6
học Harward và đến năm 1883 ông giành được học vị tiến sĩ kỹ thuật chế tạo
máy của Viện kỹ thuật Steven. Năm 1885, ông trở thành thành viên của Hội
các kỹ sư cơ khí và sau đó làm Chủ tịch Hội. Ông là các giả của nhiều bài
rõ ràng, thiếu hợp lí trong công việc. Theo đó, phải phân chia công việc
thành những công đoạn chính, giao nhiệm vụ rõ ràng và định mức lao động
hợp lý, tạo điều kiện cho công nhân tăng thêm thu nhập.
+ Chuyên môn hoá lao động: Tách biệt chức năng quản lý và chức
năng tác nghiệp. Nhà quản lý phải lên kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức công việc
và kiểm soát các thủ tục chi tiết liên quan tới quá trình thực hiện kế hoạch
7
sản xuất; Đối với công nhân, phải đào tạo cho họ có chuyên môn để trở
thành lao động chuyên nghiệp, phải lựa chọn những người thợ hạng nhất cho
mỗi công việc .
+ Tiêu chuẩn hoá công cụ lao động: Theo Taylor, ngay cả người công
nhân giỏi nhất cũng cần có công cụ lao động thích hợp với vóc dáng và tính
chất công việc để nâng cao năng suất lao động, và đó là một nghiệp vụ quan
trọng của nhà quản lý. Trên cơ sở nghiên cứu tỉ mỉ các công cụ lao động về
hình dáng, kích thước, trọng lượng... tiêu chuẩn hoá các công cụ lao động
này.
+ Cải tạo môi trường làm việc: Môi trường lao động trong tổ chức,
trước hết là môi trường xã hội bên trong tổ chức cần thiết phải duy trì sự hợp
tác, cùng làm lợi cho nhau, cùng có chung nhiệm vụ phát triển sản xuất giữa
chủ và thợ. Để cải thiện môi trường lao động cần bố trí nơi làm việc một
cách hợp lý, cải tiến công cụ, đặt định mức đúng, khuyến khích công nhân
kiếm tiền, trước hết là xây dựng một quan hệ quản lý hợp tác, thân thiện
giữa chủ và thợ.
+. Chế độ lương, thưởng: Đây là chế độ trả lương chênh lệch theo số
lượng sản phẩm. Nghĩa là căn cứ vào việc công nhân có hoàn thành định
mức hay không để tính các mức tiền lương khác nhau. Nếu không hoàn
thành định mức chỉ được tính tương đương 80% mức lương bình thường;
Nếu hoàn thành vượt mức được tính tương đương 125% mức lương bình
Tóm lại, lập kế hoạch là một quá trình nhằm xác định mục tiêu tương
lai, các phương thức thích hợp để đạt mục tiêu đó trong một khoảng thời
gian xác định.
Lập kế hoạch là cần thiết. Thứ nhất, do sự bất định của tương lai cho
nên việc lập kế hoạch trở thành tất yếu, tương lai càng xa thì việc ra các
quyết định càng kém chắc chắn. Thứ hai, ngay cả khi tương lai có độ chắc
chắn cao thì việc lập kế hoạch vẫn là cần thiết vì nhà quản lý cần phải tìm
cách tốt nhất để đạt mục tiêu. Thứ ba, nhà quản lý cần phải đưa ra các kế
hoạch để mọi bộ phận, các thành viên trong tổ chức biết để tiến hành công
việc như thế nào.
Quá trình lập kế hoạch là quá trình xác định các thành phần chủ yếu
như: mục tiêu, biện pháp, nguồn lực và sự thực hiện.
- Các mục tiêu: xác định những kết quả tương lai mà nhà quản lý
mong muốn (kỳ vọng) đạt được. Các mục tiêu này có thể được thiết lập trên
cơ sở các kết quả đã đạt được trong quá khứ, có thể là những mong muốn
của nhà quản lý; cũng có thể là những sức ép từ phía xã hội hoặc những biến
động của môi trường đạt ra những thách thức đối với nhà quản lý.
- Phương hướng và các biện pháp: Phương hướng xác định định
hướng những hành động chủ yếu trong tương lai. Biện pháp xác định những
hoạt động cụ thể được dự kiến để đạt những mục tiêu đã đặt ra.
- Nguồn lực: bao gồm nguồn lực hiện có và nguồn lực tiềm năng.
Nguồn lực hiện có là những nguồn lực đã có sẵn, chỉ cần đưa chúng vào sử
dụng. Nguồn lực tiềm năng là những nguồn lực mà tổ chức có thể có trong
tương lai - đây là loại nguồn lực chưa chắc chắn, nên để có nó nhà quản lý
cần phải có những biện pháp để huy động và tính đến tính không chắc chắn
của nó. Khi xem xét nguồn lực chúng ta có thể phân thành hai loại: nguồn
lực vật thể và nguồn nhân lực. Theo cách nhìn nhận hiện đại, thì nguồn lực
9
Các kế hoạch sẽ góp phần vào tối thiểu hoá chi phí về nguồn lực vì nó
chú trọng vào hiệu quả của hoạt động và sự phù hợp. Khi lập kế hoạch, nhà
quản lý đã xây dựng các phương án và lựa chọn phương án tối ưu để đạt
mục tiêu. Mặt khác các kế hoạch có thể biến các hoạt động không được phối
hợp thành những nỗ lực có định hướng chung, đảm bảo cho các hoạt động
diễn ra đều đặn, nhịp nhàng, cân đối; khắc phục tình trạng không ăn khớp,
chồng chéo, bất hợp lý gây tốn kém, lãng phí nguồn lực của cơ quan, xã hội.
10
- Các kế hoạch là cơ sở để thực hiện chức năng kiểm soát.
Lập kế hoạch xác định các mục tiêu, các kết quả cần đạt được, và
chính các mục tiêu này lại là tiêu chuẩn để kiểm tra, đánh giá hoạt động của
từng bộ phận, từng cá nhân. Trên cơ sở các kế hoạch, nhà quản lý tiến hành
các hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra hay thực hiện chức năng kiểm
soát.
Vấn đề 5: Quyết định quản lý. Đặc điểm, vai trò của Quyết định
quản lý
Quyết định là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong cuộc sống
hàng ngày cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trong cuộc
sống của mỗi một cá nhân luôn luôn có những vấn đề đặt ra cần phải ra
quyết định giải quyết nhằm tận dụng các cơ hội, thoã mãn nhu cầu cá nhân
của mình. Do đó có thể hiểu quyết định là một sự lựa chọn những giải pháp
hoặc phương án giải quyết vấn đề và việc thực hiện giải pháp hoặc phương
án đã lựa chọn.
Trong tổ chức, nhà quản lý làm nhiều việc trong đó có việc ra quyết
định quản lý, và đây là một trong những nhiệm vụ chính của nhà quản lý.
Bởi vì nhà quản lý thường xuyên phải lựa chọn mục tiêu cần đạt được, cần
làm gì để đạt mục tiêu đó, ai làm, khi nào làm, làm ở đâu, và đôi khi phải
làm như thế nào để giải quyết những vấn đề đặt ra trong quản lý tổ chức.
luôn là tiến trình ra quyết định”.
- Cuối cùng, quyết định quản lý phản ánh chất lượng của hoạt động
quản lý, và phản ánh năng lực của nhà quản lý. Bởi vì, quyết định quản lý là
sản phẩm trí tuệ của các nhà quản lý.
Tóm lại, các quyết định quản lý đặt ra các quy phạm và điều khiển
hành vi của bản thân tổ chức.
Một quyết định đúng đắn và kịp thời sẽ mang lại hiệu quả, niềm tin,
sự ổn định và phát triển; ngược lại quyết định sai hoặc không đúng lúc sẽ
gây ra những thiệt hại lớn, mất lòng tin và kìm hãm sự phát triển.
Những quyết định thiếu suy nghĩ là kết quả của thái độ thiếu trách
nhiệm, của bệnh quan liêu; những quyết định sai là do trình độ hạn chế hoặc
do thiếu đạo đức công vụ. Vì vậy, cần phải có những yêu cầu đặc biệt đối
với người ra các quyết định và phải xây dựng các nguyên tắc và phương
pháp luận chung cho việc thông qua các quyết định quản lý.
Vấn đề 6: Thông tin quản lý. Yêu cầu đối với thông tin quản lý
Thuật ngữ thông tin ra đời cùng với sự xuất hiện của các hoạt động
giao tiếp của con người. Khi con người muốn truyền cho nhau những kiến
thức, những kinh nghiệm nhất định.
Thông tin đóng vai trò quan trọng trong bất kỳ hoạt động nào của con
người. Đối với hoạt động quản lý, thông tin là đối tượng lao động của nhà, là
công cụ của quản lý, nó trực tiếp tác động đến các khâu của quá trình quản
lý.
Rất khó có thể đưa ra một định nghĩa chung về thông tin nói chung và
thông tin trong quản lý nói riêng. Chỉ có thể đưa ra một cách tiếp cận theo
quan điểm thông tin phục vụ quản lý để hiểu thuật ngữ thông tin theo nghĩa
hẹp.
12
Thông tin quản lý là tập hợp tất cả những dữ liệu đã được xử lý, mã
do đó có thể không giúp nhà quản lý giải quyết vấn đề. Thông tin phải rõ
ràng, đủ chi tiết, được sắp xếp trình bày khoa học hệ thống và lôgíc (kết hợp
từ ngữ, hình ảnh, bảng biểu, số liệu...) và nằm trên vật mang tin phù hợp với
nhu cầu sử dụng.
13
II. Môn Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
Vấn đề 1: Mô hình bộ máy quan liêu thư lại theo Max Weber
Giới thiệu qua về Max Weber (1864 – 1920) là một học giả nổi tiếng
người Đức chuyên nghiên cứu các vấn đề xã hội học, chính trị học, kinh tế
học, lịch sử và tôn giáo. Trong cuốn sách “lý luận về tổ chức kinh tế và xã
hội” xuất bản năm 1921, ông đã đưa ra mô hình bộ máy quản lý hành chính
theo nguyên tắc bộ máy thư lại.
Theo đó, một bộ máy thư lại được tổ chức theo các nguyên tắc sau:
- Thứ nhất: Sắp xếp các cơ quan, bộ phận theo một hệ thống thứ bậc
chặt chẽ. Mỗi cơ quan cấp dưới phải chịu sự kiểm soát của cơ quan cấp cao
hơn.
- Thứ hai, Tổ chức có sự phân công lao động hợp lý và có hệ thống.
Mỗi cơ quan hay chức vụ có phạm vi thẩm quyền xác định cụ thể được thể
hiện thành các nhiệm vụ và chức năng, trách nhiệm và quyền hạn được quy
định thành văn bản chính thức.
- Thứ ba, tính văn bản hóa: Tất cả các quy định đều được quy định
dưới hình thức văn bản chính thức theo một thể thức nhất quán. Mọi việc xử
lý và truyền đạt công việc, triển khai công việc,… đều phải dưới hình thức
văn bản hóa. Có như vậy mới bảo đảm tính chuẩn xác trong xử lý công việc,
tạo điều kiện cho việc xử lý một cách chính xác, khách quan và trách nhiệm
cao. Hạn chế được sự tùy tiện, vô trách nhiệm trong thực thi.
- Thứ năm, tính chuyên nghiệp: tất cả các chức vụ và vị trí làm việc
Cơ cấu tổ chức của Chính phủ:
* Về nhân sự: TTg, các phó TTg, BT và thủ trưởng cơ quan ngang Bộ (gọi chung
là BT).
- TTg do QH bầu theo đề nghị của CTN. Là người đứng đầu CP, chịu trách nhiệm
trước Qh và báo cáo công tác trước QH, UBTVQH.
Nhiệm vụ, quyền hạn của TTg:
+ lãnh đạo công tác CP, các thành viên CP, cơ quan thuộc CP, CT UBND cấp
tỉnh;
+ triệu tập, chủ tọa ccs phiên họp của CP;
+ Đề nghị QH thành lập, sáp nhập, giải thể các Bộ, cơ quan ngang bộ; trình QH
phê chuẩn danh sách thành viên CP;…
- Các phó TTg là người giúp việc và làm việc theo sự phân công của TTg. Khi
TTg vắng mặt, 1 phó TTg thay mặt TTg lãnh đạo CP. Phó TTg chịu trách nhiệm trước
TTg, QH về nhiệm vụ được giao.
- BT là người đứng đầu và lãnh đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ và là thành viên CP.
BT chịu trách nhiệm trước TTg, QH về ngành, lĩnh vực mình phụ trách.
+ BT được quyền ban hành QĐ, CT, TT để thực hiện nhiệm vụ của mình.
* Về Bộ máy:
- Các Bộ và cơ quan ngang Bộ. Hiện nay gồm 18 Bộ và 8 cơ quan ngang Bộ.
Bộ, cơ quan ngang Bộ (gọi chung là Bộ) là cơ quan của CP thực hiện chức năng
quản lý NN đối với ngành, lĩnh vực công tác trong cả nước. Quản lý NN các dịch vụ công
thuộc ngành, lĩnh vực.
15
- Cơ cấu tổ chức của các Bộ gồm: Các tổ chức giúp BT thực hiện quản lý NN:
Cục, vụ, thanh tra; văn phòng, các tổ chức sự nghiệp của Bộ.
Vấn đề 3: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức
của UBND.
* Cơ cấu tổ chức:
- Về nhân sự: Chủ tịch, phó chủ tịch và các Ủy viên.
UBND cấp xã: 3 – 5 thành viên.
UBND cấp huyện: 7 – 9 thành viên.
UBND cấp tỉnh: 9- 11 thành viên. Riêng HN và TP.HCM không quá 13 thành
viên.
CT UBND nhất thiết là đại biểu HĐND. Các thành viên khác không nhất thiết là
đại biểu HĐND. Các thành viên UBND do HĐND cũng cấp bầu ra và được CT UBND
cấp trên trực tiếp phê chuẩn. Thành viên UBND cấp tỉnh do TTg phê chuẩn.
- Về bộ máy: UBND có các cơ quan chuyên môn.
UBND cấp tỉnh có 17 đến 20 cơ quan chuyên môn. Cơ quan chuyên môn thuộc
UBND cấp tỉnh gọi là Sở và cơ quan tương đương. Nghị định 24/2014/NĐ-CP.
16
UBND cấp huyện có 12 cơ quan chuyên môn. (10 cơ quan và 02 cơ quan được tổ
chức đặc thù với từng loại đơn vị quận, thị xã và huyện) ngoài ra còn có thể có phòng
Dân tộc được thành lập theo quy định của pháp luật đối với địa phương đặc thù (nghị
định 37/2014/NĐ-CP.
UBND cấp xã: không có cơ quan chuyên môn mà do các cá nhân phụ trách (7
chức danh công chức xã).
Các cơ quan chuyên môn hoạt động theo nguyên tắc xong trùng trực thuộc.
+ Quan hệ theo chiều ngang với UBND về mặt tổ chức, biên chế, kinh phí.
+ Quan hệ theo chiều dọc với cơ quan chuyên môn cấp trên về chuyên môn
nghiệp vụ.
Vấn đề 4: Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy hành
chính nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nguyên tắc 1: Nguyên tắc Đảng lãnh đạo
Trước hết, cần phải khẳng định đây là nguyên tắc Hiến định. Trải qua
Vấn đề đặt ra hiện nay trong công tác lãnh đạo của Đảng là phải làm
rõ vai trò lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước. Đảng lãnh
đạo nền hành chính Nhà nước nhưng không làm thay, bao biện công việc
của hành chính Nhà nước. Bên cạnh đó, là yêu cầu đổi mới và nâng cao
năng lực lãnh đạo của Đảng để thực hiện thành công mục tiêu xây dựng nền
hành chính quốc gia trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, chính quy, hiện
đại,…
Nguyên tắc 2: Mở rộng sự tham gia của nhân dân (hay còn gọi là
nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội:
Đây cũng là một nguyên tắc Hiến định, được quy định tại Điều 5,
Hiến pháp 1992 (sđ, bs): “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và
xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến
nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân
ý”.
Nguyên tắc này một mặt khẳng định bản chất của nền hành chính Nhà
nước của dân, do dân và vì dân; mặt khác huy động nguồn lực của nhân dân
và toàn xã hội phục vụ cho sự phát triển của đất nước, gắn trách nhiệm của
nhân dân đối với Nhà nước.
Nhân dân tham gia giám sát và quản lý hoạt động của cơ quan hành
chính Nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Nhân dân trực tiếp bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cơ
quan đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân. Quốc hội và Hội đồng nhân
dân các cấp bầu, thành lập ra các cơ quan hành chính Nhà nước để thực thi
nguyện vọng và ý chí của nhân dân. Khi các đại biểu không còn sự tín nhiệm
của nhân dân, nhân dân có quyền bãi nhiễm đại biểu đó.
Khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, nhân dân có quyền tham gia
đóng góp ý kiến vào những vấn đề hệ trọng của đất nước. Công dân có
quyền tham gia đóng góp ý kiến, phản biện các dự án, dự thảo luật, pháp
lệnh,…
Khi quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc phát hiện cơ
vi quản lý của mình.
Tuy nhiên dân chủ phải đi liền với tập trung để tránh căn bệnh dân
chủ hình thức, tình trạng vô chính phủ, dân chủ quá chớn. Có tập trung để
nâng cao tính trách nhiệm trong các quyết định quản lý của các cơ quan
hành chính Nhà nước. Dân chủ đi với tập trung bảo đảm việc ra các quyết
định quản lý được nhanh chóng, kịp thời ứng phó các nhu cầu của xã hội.
Nhưng tập trung không có nghĩa là chuyên quyền, độc đoán, sa vào quan
liêu, chủ nghĩa duy ý chí. Vì vậy dân chủ luôn đi liền với tập trung. Nguyên
tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc bắt buộc của hoạt động quản lý hành
chính Nhà nước.
Nguyên tắc tập trung dân chủ đòi hỏi thiểu số phải phục tùng đa số, cá
nhân phục tùng tổ chức, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng
trung ương.
19
Tập trung trên cơ sở dân chủ cao độ. Chỉ có tập trung đúng đắn mới
có thể bảo đảm thực hiện dân chủ. Tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ
thực sự dưới sự chỉ đạo của tập trung là hai mặt của một vấn đề có tính
nguyên tắc trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước.
Ưu điểm của nguyên tắc tập trung dân chủ là quyết sách quản lý tiếp
thu được nhiều ý kiến đóng góp, đại diện lợi ích của nhiều bên, dễ được các
bên chấp nhận. Do đó, có thể khắc phục những nhược điểm do chế độ thủ
trưởng quyết định. Việc tập trung dân chủ ở mức độ lớn ngăn ngừa được lạm
quyền. Nhưng khi thực hiện chế độ dân chủ tập trung, nhất là chế độ ủy ban
cần đề phòng vấn đề đưa ra quyết sách chậm, ỉ lại. Do đó, khi bàn bạc cần
dân chủ, khi thực hiện cần tập trung, theo chế độ thủ trưởng.
Nguyên tắc này được thể hiện trên ba phương diện: tổ chức, hoạt động
và kiểm tra, giám sát.
Về tổ chức: Nhân dân bầu trực tiếp, phổ thông và bỏ phiếu kín để bầu
dụng quyền lực sai mục đích, không đúng đối tượng quản lý.
Nội dung của nguyên tắc này quy định:
- Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Pháp luật không có sự
thiên vị giữa công dân với Chính phủ, giữa công dân với cán bộ, công chức
Nhà nước.
- Mọi hành vi của cơ quan hành chính Nhà nước phải tuân theo pháp
luật. Các cơ quan hành chính Nhà nước chỉ được phép làm những gì mà
pháp luật cho phép. Cơ quan hành chính Nhà nước không được vi phạm
hoặc vượt quá giới hạn luật cho phép.
- Cơ quan hành chính Nhà nước, cán bộ, công chức nếu có hành vi vi
phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
pháp nhân và các tổ chức khác thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
- Hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước của cán bộ,
công chức không những bảo đảm yêu cầu tính hợp pháp mà còn phải hợp lý.
Xây dựng nền hành chính pháp quyền, quản lý xã hội bằng pháp trị là
mục tiêu hướng đến của các quốc gia để đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của
xã hội và công dân.
Nguyên tắc 5: kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ.
Đây là một nguyên tắc rất quan trọng, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế.
Các hoạt động quản lý theo ngành của cơ quan Nhà nước nhằm đề ra các
chủ trương, chính sách phát triển toàn ngành, tạo môi trường thuận lợi cho
các đơn vị kinh tế phát huy tính chủ động, nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất – kinh doanh. Còn nội dung quản lý theo lãnh thổ nhằm tổ chức sự điều
hòa phối hợp các hoạt động của ngành, các thành phần kinh tế và các tổ
chức kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng,… trên phạm vi cả nước
cũng như trên từng đơn vị hành chính lãnh thổ với mục tiêu bảo đảm pháp
chế xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, ổn định và cải
thiện đời sống nhân dân về mọi mặt.
Nguyên tắc 6: Phân biệt và kết hợp quản lý nhà nước về kinh tế với
hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế do NN chủ sở hữu