KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các giảng viên khoa Tâm lý- Giáo dục, trường Đại học Sư Phạm
TP.HCM đã tận tình giảng dạy chúng tôi. Đặc biệt, tôi muốn cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ HUỲNH Văn

PHAN TRỊNH HOÀNG DẠ THY

Sơn- Người hướng dẫn khoa học, đã hướng dẫn, nhận xét, góp ý, hỗ trợ và động viên tôi trong suốt quá
trình thực hiện nghiên cứu.

KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP NHẬN THỨC CỦA

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các giảng viên, các thư ký khoa, các sinh viên trường Đại học
Hoa Sen cũng như nhân viên các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp
thông tin và giúp tôi hoàn thành bảng khảo sát.

SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN
Phan Trịnh Hoàng Dạ Thy

Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 603180

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HUỲNH VĂN SƠN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2010

1.2.3.3. Cấu trúc của KN GQVĐ .......................................................................................................... 35

T
7

T
7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ...................................................................................... 6
T
7

T
7

1.2.3.2. Các giai đoạn của quá trình giải quyết vấn đề .......................................................................... 33

T
7

T
7

1.2.4. Thực tập ......................................................................................................................................... 36

T
7

T
7

7

3.Đối tượng và khách thể nghiên cứu ............................................................................................................. 8

T
7

3.1. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................................................................... 8

T
7

1.2.5.2. Mục đích của thực tập nhận thức của sinh viên trường Đại học Hoa Sen .................................. 39

T
7

T
7

T
7

1.2.5.3. Nhiệm vụ của sinh viên trường Đại học Hoa Sen trong kỳ thực tập nhận thức.......................... 39

3.2. Khách thể nghiên cứu .......................................................................................................................... 8
T
7

T

7

T
7

T
7

1.2.6. Kỹ năng giải quyết vấn đề trong quá trình thực tập nhận thức của sinh viên trường Đại học Hoa Sen
................................................................................................................................................................ 40

3.3.Giả thuyết nghiên cứu .......................................................................................................................... 9
T
7

T
7

T
7

4.Giới hạn phạm vi nghiên cứu ...................................................................................................................... 9
T
7

T
7

1.2.6.1. Khái niệm kỹ năng giải quyết vấn đề trong quá trình thực tập nhận thức của sinh viên trường
Đại học Hoa Sen .................................................................................................................................. 40


T
7

T
7

6.Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................................................. 9
T
7

1.2.6.3. Biểu hiện của kỹ năng GQVĐ trong quá trình thực tập nhận thức của sinh viên ....................... 41

T
7

T
7

6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận ......................................................................................................... 9
T
7

T
7

6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn .............................................................................................. 10
T
7


7.2. Về mặt thực tiễn ................................................................................................................................ 11
T
7

T
7

T
7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ..................................................................................................................... 12
T
7

T
7

1.2.7.3. Thang điểm đánh giá mức độ của kỹ năng GQVĐ của sinh viên trường Đại học Hoa Sen........ 45

T
7

1.1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ .............................................................................. 12
T
7

T
7

1.1.1. Những nghiên cứu kỹ năng GQVĐ trên thế giới ............................................................................. 12


T
7

1.1.2. Những nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề tại Việt Nam ........................................................ 16
T
7

2.1. Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng ........................................................................................... 47
T
7

1.1.3. Những nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên........................................................ 18
T
7

T
7

T
7

1.2.1. “Vấn đề” ........................................................................................................................................ 21

T
7

1.2.1.2. Những thuộc tính của “vấn đề” ................................................................................................ 23
1.2.1.3. Cấu trúc tâm lý của vấn đề ....................................................................................................... 23
T


T
7

2.2.2. Những vấn đề của sinh viên trường Đại học Hoa Sen trong quá trình thực tập nhận thức ................ 50
T
7

T
7

2.2.3. Thực trạng kỹ năng GQVĐ của sinh viên trường Đại học Hoa Sen trong quá trình thực tập nhận thức
................................................................................................................................................................ 54
T
7

T
7

2.2.3.1. Nhận thức của sinh viên về kỹ năng GQVĐ ............................................................................. 54
T
7

1.2.2.4. Sự hình thành KN .................................................................................................................... 29
T
7

T
7


7

T
7

2.1.2.2. Phương pháp phỏng vấn .......................................................................................................... 49

T
7

1.2.1.1. Khái niệm vấn đề ..................................................................................................................... 21
T
7

T
7

2.1.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi ........................................................................................ 47

T
7

T
7

T
7

2.1.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................................ 47


7

T
7

2.2.3.3. Mức độ giải quyết các vấn đề trong các tình huống .................................................................. 71
T
7

T
7


2.2.2.3. Kỹ năng GQVĐ của sinh viên trường Đại học Hoa Sen trong quá trình thực tập nhận thức ...... 81
T
7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

T
7

2.2.4. Nguyên nhân của thực trạng kỹ năng GQVĐ ở sinh viên trường Đại học Hoa Sen trong quá trình
thực tập nhận thức .................................................................................................................................... 84
T
7

T
7



:

Kỹ năng

2.2. Đối với trường Đại học Hoa Sen: ...................................................................................................... 94

GQVĐ

:

Giải quyết vấn đề

2.3. Đối với các công trình nghiên cứu sau: .............................................................................................. 94

CNTT

:

Công nghệ thông tin

QTKD

:

Quản trị kinh doanh

T
7


T
7

T
7

T
7

T
7

TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................................ 96
T
7

T
7

PHỤ LỤC ...................................................................................................................................................... 100
T
7

T
7

:

Quản trị Du lịch, Khách sạn- Nhà hàng


7

PHỤ LỤC 4: CÁC BẢNG PHỎNG VẤN .................................................................................................. 140
T
7

T
7

PHỤ LỤC 5- MỘT SỐ BẢNG THỐNG KÊ ............................................................................................. 146
T
7

T
7

PHỤ LỤC 6- MÔ HÌNH KỸ NĂNG SỐNG 4- H (Steve McKinley) ......................................................... 148
T
7

QT DL, KS- NH

T
7

T
7


MỞ ĐẦU

yêu cầu phải hoàn thành đợt thực tập trước khi hoàn thành chương trình học ở trường. Điều khác biệt
là, tại Đại học Hoa Sen, khoảng thời gian thực tập của sinh viên có thể kéo dài từ 2- 6 tháng và được
chia làm hai đợt là là thực tập nhận thức (the first internship) trong năm thứ hai hoặc thứ ba và thực tập
tốt nghiệp (the final internship) trong năm cuối của chương trình đào tạo. Nổi bật là tại kỳ thực tập
nhận thức cũng là kỳ thực tập đầu tiên của sinh viên tại doanh nghiệp, sinh viên phải trải qua quãng
thời gian để thực tập những kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp qua đó có nhận thức đúng
về nghề nghiệp tương lai của mình. Thực tế, trong quá trình thâm nhập thực tế này, sinh viên gặp rất
nhiều vấn đề. Kỹ năng giải quyết vấn đề sẽ giúp sinh viên xử trí tốt những tình huống xảy ra trong quá
trình thực tập tại môi trường mới và mang lại kết quả cao trong đợt thực tập cũng như tạo dựng được sự
tự tin trong công việc cho mỗi sinh viên.
Như vậy, có thể khẳng định kỹ năng giải quyết vấn đề trong quá trình thực tập thực sự rất quan
trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những nghiên cứu khác nhau về kỹ năng sống thì những nghiên cứu về kỹ
năng GQVĐ chưa thực sự đa dạng. Đặc biệt, chưa có một tác giả trong nước cũng như ngoài nước
nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề trong quá trình thực tập của sinh viên nói chung và sinh viên
trường Đại học Hoa Sen nói riêng. Từ đó, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Kỹ năng giải quyết
vấn đề trong quá trình thực tập nhận thức của sinh viên trường Đại học Hoa Sen TP.HCM”.
2.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng kỹ năng giải quyết vấn đề trong quá trình thực tập nhận thức của sinh viên
trường Đại học Hoa Sen và những nguyên nhân của thực trạng này.
3.Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng giải quyết vấn đề trong quá trình thực tập nhận thức của sinh viên trường Đại học Hoa
Sen
3.2. Khách thể nghiên cứu
-

Nhóm khách thể nghiên cứu chính của đề tài là sinh viên trường Đại học Hoa Sen đã hoàn
thành đợt thực tập nhận thức.



4.2. Phạm vi về khách thể nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu trên 300 sinh viên năm thứ 3, hệ đại học ở các chuyên ngành: Công nghệ

thập được thông qua bảng câu hỏi mở giành cho các 50 SV và 5 GV trường Đại học Hoa Sen. Từ
đó, chúng tôi xây dựng ba bảng hỏi khác nhau giành cho ba nhóm khách thể nghiên cứu bao gồm
SV, GV và NV các doanh nghiệp.
- Bảng 1: được khảo sát trên khách thể SV, 31 câu chia làm 6 nhóm câu hỏi: những vấn đề của
SV khi thực tập nhận thức, những khó khăn của SV khi giải quyết vấn đề, nguyên nhân những khó
khăn khi giải quyết vấn đề, tự đánh giá của SV về kỹ năng giải quyết vấn đề của bản thân, nhận
thức của SV về kỹ năng giải quyết vấn đề, một tình huống với 10 câu hỏi mở đánh giá mức độ thực
hiện thao tác giải quyết vấn đề, 10 tình huống đánh giá kết quả giải quyết vấn đề của SV và những
đề xuất của SV để cải thiện kỹ năng giải quyết vấn đề của bản thân.
- Bảng 2: được khảo sát trên khách thể GV, gồm 5 câu hỏi với 5 nhóm câu hỏi như sau: những
vấn đề của SV khi thực tập nhận thức, những khó khăn của SV khi giải quyết vấn đề, nguyên nhân
những khó khăn khi giải quyết vấn đề, đánh giá của GV về kỹ năng giải quyết vấn đề của SV và
những đề xuất của GV để cải thiện kỹ năng giải quyết vấn đề của SV.
- Bảng 3: được khảo sát trên khách thể NV, gồm 5 câu hỏi với 5 nhóm câu hỏi như sau: những

thông tin, Quản trị kinh doanh, Quản trị du lịch, khách sạn và nhà hàng của trường Đại học Hoa Sen

vấn đề của SV khi thực tập nhận thức, những khó khăn của SV khi giải quyết vấn đề, nguyên nhân

và 51 giảng viên trường Đại học Hoa Sen, 34 nhân viên các doanh nghiệp khác nhau.

những khó khăn khi giải quyết vấn đề, đánh giá của NV về kỹ năng giải quyết vấn đề của SV và

5.Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa một số lý luận về kỹ năng, kỹ sống, kỹ năng giải quyết vấn đề.
5.2. Khảo sát thực trạng kỹ năng giải quyết vấn đề trong quá trình thực tập nhận thức của sinh viên
trường Đại học Hoa Sen.

thống hoá và xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu.


các thầy/cô về kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên và đề xuất để cải thiện kỹ năng GQVĐ của

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

sinh viên. [Phụ lục 4.2, tr.158]
- Đối với nhân viên các doanh nghiệp: Đánh giá của nhân viên về kiến thức chuyên môn, kỹ
năng giao tiếp và thái độ của sinh viên trong đợt thực tập; Nhận xét của nhân viên về sự hỗ trợ của
công ty đối với sinh viên thực tập, Đánh giá của nhân viên về kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh
viên và những góp ý để cải thiện kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên. [Phụ lục 4.3, tr.160]
c. Phương pháp toán thống kê
Từ những số liệu thu thập được qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, chúng tôi sử dung
phần mềm thống kê toán học SPSS 16.5 để xác định các chỉ số về tần số, tỉ lệ %, điểm trung bình,
tương quan (Chi- Square, Anova…),…

1.1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Những nghiên cứu kỹ năng GQVĐ trên thế giới
Trên thế giới, các nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau đã có nhiều công trình nghiên cứu
KN GQVĐ trên bình diện lý luận và thực tiễn. Mỗi nhà nghiên cứu tiếp cận KN GQVĐ dưới một
góc độ khác nhau nhưng đa phần các tác giả đều thống nhất KN GQVĐ được thể hiện thông qua
việc chủ thể giải quyết những vấn đề nảy sinh trong các tình huống khác nhau của đời sống (được
gọi là THCVĐ). Và quá trình GQVĐ là một quá trình đòi hỏi chủ thể phải tích cực tư duy để tìm

7.Những đóng góp của đề tài

giải pháp và thực hiện giải pháp. Từ đó, các tác giả tập trung nghiên cứu về THCVĐ, các bước, các

7.1. Về mặt lý luận

những tri thức, phương hướng hành động nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của mình [33]. V.
Okon (1976) cũng cho rằng đặc trưng cơ bản của THCVĐ là trạng thái lúng túng về lý thuyết và
thực hành trong quá trình nhận thức, sự mâu thuẫn của kinh nghiệm đã có của chủ thể với những tri
thức mới. Nhờ đó người học phải huy động năng lực của mình để giải quyết mâu thuẫn [17].
Đặc biệt, I. Ia. Lecne (1977) phân tích sâu hơn về THCVĐ và ông đã trình bày thêm về “trạng
thái tâm lý” hay “trạng thái lúng túng” mà A.M. Machiuskin và V. Okon đã nói đến chính là “thái


độ của chủ thể đối với trở ngại nảy ra trong lĩnh vực hoạt động thực hành hay trí óc. Nhưng đó là

Cụ thể, năm 1982, hai tác giả Jeffrey R. Bedoll và Shelley S. Lennox đã xác định KN GQVĐ là

thái độ mà trong đó chủ thể chưa biết cách khắc phục trở ngại và phải tìm tòi khắc phục. Nếu

một KN quan trọng. Hai tác giả đã xếp KN GQVĐ là KN xã hội (Social skill) thứ 7 trong 10 KN xã

không ý thức được khó khăn thì không nảy ra nhu cầu tìm tòi, và không có nhu cầu tìm tòi thì không

hội không thể thiếu trong cuộc sống. Từ đó, Bedoll và Lennox đã nghiên cứu và đưa ra 7 bước để

có tư duy sáng tạo…” [17].

giải quyết vấn đề (Nhận thức về vấn đề, Định nghĩa vấn đề, Liên hệ những cách phương án, Đánh

Có thể nói, theo quan niệm của Lecne cũng như các tác giả trên thì thì chỉ khi nào chủ thể nhận

giá những giải pháp, Ra quyết định, Thực hiện giải pháp, Kiểm tra hiệu quả của phương án) [55].

thức được vấn đề thì THCVĐ mới là tác nhân để khởi nguồn cho sự tìm tòi, tư duy và sáng tạo để


Như vậy, theo quan điểm của các nhà Tâm lý học Xô Viết thì đặc trưng cơ bản của THCVĐ là

và Marcelle Crain (2002) (Đại học quốc tế Alliant- San Diego) khẳng định KN GQVĐ đề bao gồm

sự mâu thuẫn giữa kinh nghiệm đã có của chủ thể và tri thức mới. Từ đó, chủ thể nảy sinh nhu cầu

trong đó nhiều kỹ năng như: nhận dạng THCVĐ, phát hiện THCVĐ, xác định bản chất của vấn đề,

giải quyết THCVĐ, kích thích tư duy và đi đến GQVĐ.

tập trung các ý tưởng để giải quyết vấn đề, đánh giá các ý tưởng và chọn ra ý tưởng tối ưu, lập kế

Từ những nghiên cứu lý luận đã nêu trên, các tác giả đã ứng dụng rất thành công kỹ năng

hoạch và thực hiện ý tưởng đó bằng hành vi cụ thể. [52].

GQVĐ vào dạy học với một phương pháp dạy học gọi là dạy học GQVĐ hay còn gọi là dạy học

Như vậy, các nhà nghiên cứu ở Mỹ trong phần trình bày trên đã góp phần đưa ra lời giải cho câu

nêu vấn đề. Trong các nghiên cứu của mình, các tác giả cho rằng “THCVĐ là mấu chốt của dạy học

hỏi KN GQVĐ gồm các bước nào? Và các nguyên tắc cơ bản trong quá trình GQVĐ. Bên cạnh đó,

giải quyết vấn đề. Dạy học giải quyết vấn đề là sự tổ chức dạy học bao gồm việc tạo ra THCVĐ

đã có rất nhiều tác giả khác chú trọng nghiên cứu về những yếu tố tâm lý tác động đến quá trình

trong giờ học, kích thích nhu cầu giải quyết vấn đề nảy sinh, lôi cuốn học sinh vào hoạt động nhận


giải quyết các THCVĐ thì tại Mỹ, các nhà nghiên cứu quan tâm đến việc nghiên cứu KN GQVĐ

năng trí tuệ, khả năng sáng tạo và chịu ảnh hưởng của trí nhớ làm việc (Working memory). [46].

như là một kỹ năng xã hội quan trọng. Đặc biệt, đa phần các tác giả đều đi tìm lời giải cho bài toán

Ngoài ra, hai tác giả Todd I.Lubart và Christophe Mouchiroud (2005) có đề cập đến sự sáng tạo và

về cấu trúc của KN GQVĐ cũng như các bước của KN GQVĐ và những yếu tố tâm lý tác động đến

cho rằng đây là một trong những khả năng ảnh hưởng theo chiều hướng tích cực đến việc giải quyết

quá trình GQVĐ.

vấn đề. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, sự sáng tạo lại có thể trở thành một sự cản trở đối với


quá trình giải quyết vấn đề [53]. Cùng có những lập luận như Lubart và Mouchiroud là Shozo

giản các nhiệm vụ, xác định nguyên nhân của vấn đề cũng như sự giúp đỡ từ bên ngoài để tìm ra

Hibino và Gerald Nadler (2009) khi hai tác giả này khẳng định nếu biết vận dụng tư duy sáng tạo

cách giải quyết, xác định cách giải quyết tốt nhất. [56].

vào GQVĐ thì các vấn đề không chỉ được giải quyết mà còn được giải quyết một cách tốt nhất. Từ
đó, hai ông đã đưa ra 7 nguyên tắc vàng để giải quyết vấn đề một cách sáng tạo và tối ưu. [38]
Đặc biệt Shannon White (2005) khi nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng GQVĐ
đã cho thấy khả năng biểu đạt vấn đề là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kỹ năng
GQVĐ.[61]. Do vậy, muốn giải quyết tốt vấn đề, mỗi người phải biểu đạt vấn đề thật rõ ràng và đầy

tự 6 bước.[51]. Ngày nay, kết quả nghiên cứu của Howard Senter được các nhà quản lý, các doanh
T
7

nghiệp ứng dụng để nâng cao KN GQVĐ cho các nhân viên của mình.
Như vậy, có thể thấy, trên thế giới KN GQVĐ đã được nghiên cứu từ rất lâu trên nhiều khách
thể khác nhau và mang những giá trị ứng dụng cao. Song vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào
đánh giá về mức độ của KN GQVĐ ở các nhóm khách thể nêu trên cũng như nhóm khách thể là SV
Đại học.
1.1.2. Những nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề tại Việt Nam
Cũng như các nhà khoa học trên thế giới, tại Việt nam, khi nghiên cứu lý luận về KN GQVĐ,
các tác giả cũng quan tâm nghiên cứu về THCVĐ như Triệu Xuân Quýnh, (1993); Nguyễn Quang
Uẩn (1995); Bùi Văn Huệ (1996); Phạm Minh Hạc (1998), Trần Trọng Thuỷ (1998),….đều có cùng
quan điểm khi cho rằng: tư duy được kích thích bởi tình huống (hoàn cảnh) có vấn đề [30]. [34].
THCVĐ được cá nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ của cá nhân, tức được cá
nhân xác định được là cái gì đã biết, và cái gì còn chưa biết phải tìm, đồng thời cũng phải có nhu
cầu (động cơ) tìm kiếm nó. [34]. Nguyễn Văn Tư (1995) cũng có nêu: Tri thức hoặc cách thức hành
động mà chủ thể chưa biết, phải tìm, phải đạt được- đó là mặt khách quan. Còn mặt chủ quan của
THCVĐ thể hiện ở chỗ chủ thể phải nhận thức được cái phải tìm đó, có nhu cầu giải quyết và có
khả năng giải quyết (bằng những tri thức, kỹ năng, kỷ xảo, kinh nghiệm đã có). [31] Các tác giả
khác như Nguyễn Đình chỉnh (1995), Nguyễn Ngọc Bảo (1995) cũng có quan điểm như trên về tính
khách quan và chủ quan trong THCVĐ khi nghiên cứu về kiểu dạy học nêu vấn đề. [ 36 ]
Bên cạnh những nghiên cứu về động cơ thúc đẩy quá trình giải quyết THCVĐ như trên, Nguyễn
Ngọc Quang (1994) đã phân chia thành các loại tình huống khác nhau cũng là tình huống chứa
đựng vấn đề trong cuộc sống như tình huống nghịch lý, tình huống bế tắc, tình huống lựa chọn, tình
huống “tại sao” hay “nhân- quả”. [23]. Bên cạnh đó, Nguyễn Đình Chỉnh (1995) phân loại thêm
tình huống đột biến, tình huống bất ngờ, tình huống không phù hợp, tình huống xung đột, tình
huống lựa chọn, tình huống giả thuyết. [25]
Trên cơ sở những nghiên cứu lý thuyết, các tác giả cũng đã có những nghiên cứu thực tiễn trên
nhiều lĩnh vực của đời sống. Và cũng như các nhà nghiên cứu của Liên Xô, những nhà nghiên cứu

nghiên cứu luận án tiến sĩ với đề tài: “Nâng cao chất lượng dạy học phần “cảm ứng điện từ và

-

dòng điện xoay chiều” ở các trường Trung học cơ sở dân tộc nội trí thông qua việc bồi dưỡng năng

Vấn đề là một tình trạng mà con người chưa biết làm cách nào để đạt được mục đích mình
mong đợi.

lực giải quyết vấn đề cho học sinh” (2003) [27]. Tác giả Cao Đình Trung Hậu nghiên cứu đề tài

-

Mọi vấn đề đều chứa đựng THCVĐ.

thạc sĩ “Hình thành năng lực giải quyết vấn đề qua dạy học phần cơ học lớp 10” (2003). [2].

-

THCVĐ chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, đòi hỏi con người phải suy

Thông qua những nghiên cứu này, các tác giả đều cho thấy giáo viên hoàn toàn có thể nâng cao
năng lực GQVĐ cho học sinh thông qua việc giảng dạy các môn học trong giờ học tại lớp. Tuy

nghĩ để tìm ra cái chưa biết để đạt được mục đích của mình.
-

Do vậy, từ vấn đề, rồi đến THCVĐ là nguồn kích thích tư duy và hoạt động nhận thức.

nhiên, các đề tài trên chưa đo lường được chính xác mức độ kỹ năng GQVĐ của học sinh cũng như

1.1.3. Những nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên
Bên cạnh những nghiên cứu về KN GQVĐ được trình bày ở những mục trên, các nhà nghiên
cứu đã tập trung tìm hiểu về những vấn đề của sinh viên cũng như KN của họ khi giải quyết những
vấn đề này. Đặc biệt, tại một số nước như Mỹ, Hàn Quốc, Malaysia, KN GQVĐ của sinh viên được
quan tâm nghiên cứu từ rất sớm với đa dạng các khía cạnh từ kỹ năng giải quyết vấn đề trong học
tập đến những kỹ năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống. Trong khi đó, tại Việt Nam, KN GQVĐ
chỉ mới được nghiên cứu trong thời gian gần đây và chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu kỹ năng
giải quyết những tình huống sư phạm.
Dưới đây, chúng tôi điểm qua một số nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên của
các tác giả trong và ngoài nước.
Tại Mỹ, năm 1957, Polya đã có những nghiên cứu có giá trị về kỹ năng GQVĐ của sinh viên.
Từ đó, mô hình Polya (Polya Model) về những kỹ năng bộ phận cũng như các cấp độ của kỹ năng
giải quyết vấn đề được giới thiệu đến mọi người. [ 39 ]


Tại Hàn Quốc, năm 2007, tác giả Han, Ki- Soon nghiên cứu đề tài “Các ưu điểm và hạn chế

Bảng 1.1: Các cấp độ của kỹ năng GQVĐ theo quan niệm của Polya
Cấp độ

trong giáo dục năng khiếu ở Hàn Quốc- Góc nhìn từ trung tâm khoa học giáo dục năng khiếu

Các bước

Các kỹ năng bộ phận

Cấp độ 1

Hiểu vấn đề


luận, SV tại trung tâm ISEP chưa được dạy một cách bài bản về kỹ năng giải quyết vấn đề và sinh
viên có kỹ năng GQVĐ ở mức độ tương đối thấp. [49]
Tại Malaysia, năm 2009, Kamariah Md Kamaruddin và Hazni Qamar Nuru, Đại học Teknologi

cần.

T
0
1

T
0
1

Kolej Tun Hussein Onn thực hiện nghiên cứu “Thực trạng kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên

Hilarie Bryce Davis, Ed.D, (1969), đã nghiên cứu đề tài “Kỹ năng giải quyết những vấn đề

tại Kuittho, Malaysia”.. Trong nghiên cứu này, 75,5% sinh viên trả lời giảng viên của họ có ứng

trong học tập của sinh viên khối ngành công nghệ tại Mỹ”. Nghiên cứu của Hilarie cho thấy, không

dụng phương pháp dạy học truyền thống; 66,8% sinh viên cho biết họ đã được biết về dạy học giải

hoàn thành những đồ án thực tiễn trong mỗi môn học chuyên ngành chính là vấn đề của đa số sinh

quyết vấn đề trong quá trình học tại trường hoặc ngoài trường; và kỹ năng GQVĐ của sinh viên đạt

viên ngành công nghệ gặp phải. Hai nguyên nhân vấn đề này của sinh viên chính là: Thứ nhất, sinh


hiện phương án. ”[62]

cứu khác nhau về kỹ năng giải quyết vấn đề. Trong đó, 1.283.000 nghiên cứu về kỹ năng giải quyết

Năm 2008, nhóm 3 tác giả Gierl, Mark J.; Wang, Changjiang; Zhou, Jiawen nghiên cứu đề tài
T
5

T
7

5
T
7

T
7

T
7

T
7

T
7

“Sử dụng phương pháp phân nhóm thuộc tính để đánh giá kỹ năng giải quyết vấn đề trong bài toán
Đại số học của các thí sinh trong cuộc thi SAT”. Trong nghiên cứu này, 3 tác giả đã thực hiện trên
T

Nam ngoài việc nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực dạy học thì ở các lĩnh vực khác thì hoàn toàn

Ducker (1945)- một nhà tâm lý học phương Tây đã viết: “Một vấn đề tồn tại khi con người có

không có. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu nước ngoài đã chỉ ra, sinh viên là đối tượng thường

một mục đích nhưng không biết làm thế nào để đạt được mục đích đó” (95). Và cũng trong tâm lý

xuyên phải đối mặt với nhiều vấn đề khác nhau. Đặc biệt, nếu họ không có kỹ năng để giải quyết

học phương Tây, vấn đề được định nghĩa là một mục đích chưa đạt được ngay. [56 ]

những vấn đề này thì sẽ xảy ra rất nhiều nguy cơ khác nhau ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống
của mỗi cá nhân.

V. Okon (1976) đã đưa ra khái niệm về “vấn đề” như sau: “Vấn đề được nảy sinh từ THCVĐ.
Những khó khăn về lý luận hoặc thực tiễn là cơ sở tạo ra THCVĐ và cũng là điểm xuất phát để đặt
vấn đề”. Và tác giả cũng cho rằng: “Vấn đề bao giờ cũng đảm bảo hai điều kiện (cái đã biết và cái

Tiểu kết

chưa biết) trong đó cái đã biết là điều kiện để đi đến cái cần tìm”. [17]

Như vậy, việc nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề đã thu hút nhiều sự quan tâm của các

Tác giả Howard Senter trong cuốn “Giải quyết vấn đề- Công cụ và giải pháp thiết yếu cho nhà

nhà tâm lý học ngoài nước (đặc biệt là các nhà tâm lý học phương Tây) và trong nước. Trước

quản lý” mô tả “Vấn đề là một trong những từ chúng ta dùng một cách rộng rãi để mô tả những


-

một nhiệm vụ khó thực thi”

năng GQVĐ của sinh viên thì tại Việt Nam, khía cạnh này vẫn còn chưa được nhiều nhà khoa

Từ đó, Howard Senter định nghĩa: Vấn đề là “một cái gì đó khó xử lý hoặc khó giải quyết”.

học nghiên cứu. Đặc biệt, nghiên cứu về kỹ năng GQVĐ trong quá trình thực tập của sinh viên
còn rất ít.

Các nhà nghiên cứu tại Việt Nam cũng đưa ra những ý kiến riêng về khái niệm “vấn đề”. Tác
giả Hồ Ngọc Đại (2000) có viết:“Một tình huống không tự nó bao hàm trong đó tính có vấn đề hay
không có vấn đề. Tình huống ở một trạng thái trừu tượng đối với mọi chủ thể, chỉ là một tình huống

1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2.1. “Vấn đề”
1.2.1.1. Khái niệm vấn đề
Trong từ điển tiếng Việt, vấn đề được hiểu là “những điều cần phải được nghiên cứu để giải
quyết” [8]
Trong Tiếng Anh, “vấn đề” được dịch thành “problem”. Từ điển Oxford đưa ra khái niệm về
“problem” như sau: [45]

nói chung” [30]. Tác giả Nguyễn Huy Tú (1996) đưa ra khái niệm khá cụ thể về “vấn đề” như sau:
“Vấn đề là một nhiệm vụ (bài toán) mà người giải không thể huy động được các giải pháp giải
quyết sẵn có trong trí nhớ của mình để đặt mục đích đặt ra”.[30].
Tóm lại, theo các nhà Tâm lý học thì “vấn đề” là sự phản ánh mâu thuẫn trong quá trình nhận
thức khách thể bởi chủ thể. Đây là mâu thuẫn giữa “cái đã biết” và “cái chưa biết”. “Cái chưa biết”
đó chỉ trở thành vấn đề đối với nhận thức của con người khi con người có nhu cầu và có khả năng


huống cụ thể”

Các đặc điểm của vấn đề

Các đặc điểm cá nhân

1.2.1.2. Những thuộc tính của “vấn đề”
“Vấn đề” có hai thuộc tính cơ bản là phạm vi vấn đề và tính phức hợp của vấn đề. [30]

Phạm vi

Tính phức hợp của

Sự hiểu biết các

Sự hiểu biết thao

vấn đề

vấn đề

sự kiện

tác

- Phạm vi của vấn đề: Một vấn đề có thể diễn ra trong một tình huống nhỏ xảy ra hàng ngày
trong đời sống gia đình, quan hệ bạn bè, học tập, công tác và chỉ liên quan đến một cá nhân nào đó.

Số


Sự phân
nhánh

thế nào để GQVĐ.

Khả năng
sử dụng

Khả năng
sử dụng

- Tính phức hợp của vấn đề:

Sơ đồ 1.2: Quan niệm khung về khái niệm “Độ khó của
vấn đề” [30 ]

o Số lượng các biến số:
Tính phức hợp của vấn đề thể hiện đầu tiên ở số lượng các biến số hay cũng chính là những
thông tin chưa biết cần tìm hiểu khi GQVĐ. Thông thường, một vấn đề thường bao gồm trong đó

Như vậy, mức độ khó của VĐ phụ thuộc vào các đặc điểm của VĐ (phạm vi, tính phức tạp,…)

rất nhiều những biến số khác nhau đòi hỏi người GQVĐ phải nhận dạng được các biến số này để

và các đặc điểm cá nhân của chủ thể (tri thức, KN, kinh nghiệm). Chính cái chưa biết với mức độ

làm cho vấn đề được rõ ràng hơn. Số lượng biến số càng ít thì vấn đề càng dễ giải quyết, số lượng

khó của vấn đề sẽ kích thích chủ thể sáng tạo cách thức giải quyết.



1.2.2.1. Khái niệm kỹ năng
Theo Việt Nam Tự điển thì “kỹ” có nghĩa là “nghề” trong từ “kỹ nghệ”, có nghĩa là “khéo, đến
nơi đến chốn, mất nhiều công phu” trong từ “kỹ càng, kỹ lưỡng”; “năng” có nghĩa là “tài giỏi”
trong từ “năng thần: bề tôi tài giỏi”, có nghĩa là “có thể làm được” trong từ “năng lực” [8]
Theo từ điển tiếng Việt, kỹ năng là “thói quen áp dụng vào thực tiễn những kiến thức đã học
hoặc là những kết quả của quá trình luyện tập” [8]
Trong tiếng Anh, kỹ năng được dịch thành “skill”. Từ điển Oxford định nghĩa “skill” là khả
năng tìm ra giải pháp cho một vấn đề nào đó và có được nhờ rèn luyện. [45 ]
Theo từ điển Giáo dục học, kỹ năng là “khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù
hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể
hay hành động trí tuệ” [5]

[7]. Các tác giả cũng viết: kỹ năng cũng có những đặc điểm khác nữa là “hành động chưa được
khái quát, do thao tác chưa chính xác nên vai trò kiểm soát của thị giác là quan trọng”
Thế nhưng, cách hiểu kỹ năng như trên có hai vấn đề cần xem xét. Thứ nhất, đây là sự mô tả
chính xác chỉ đối với những kỹ năng đơn giản mà thao tác có thể quan sát được. Riêng các kỹ năng
phức tạp như kỹ năng GQVĐ trong những tình huống mới và đa dạng thì luôn đòi hỏi phải có sự nổ
lực trí tuệ căng thẳng và khó có thể tự động hóa được. Thứ hai, nếu quan niệm kỹ năng chỉ là các kỹ
năng đơn giản thì khi giải quyết mối quan hệ giữa kỹ năng và năng lực sẽ đưa đến sự không lý giải
được vấn đề cấu trúc năng lực và sự hình thành năng lực. Rõ ràng, kỹ năng đơn giản chưa thể được
xem là năng lực, khi đó kỹ năng chỉ là một điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ của năng
lực.
-

Quan niệm thứ hai xem KN là một biểu hiện của năng lực con người.

Theo từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng biên soạn, kỹ năng là “năng lực vận dụng có kết


những điểm chung và những điểm khác biệt trong từng khái niệm nhằm đi đến một cách hiểu nhất

dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những

quán về kỹ năng được sử dụng trong đề tài này.

nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định, được gọi là kỹ năng” .

Trong Tâm lý học, có 2 quan điểm khác nhau về kỹ năng:
-

Quan niệm thứ nhất coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động, hoạt động.

Từ điển Tâm lý học của Mỹ do tác giả J.P. Chaplin chủ biên (1968) định nghĩa KN là “thực hiện
một trật tự cao cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn” [3].
Tác giả Trần Trọng Thủy (1978] trong “Tâm lý học lao động” cũng cho rằng KN là mặt kỹ thuật
của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật của hành động, có KN [30].
Các tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh cho rằng: “Kỹ năng là

Tác giả V.A.Crutexki (1974) viết: “KN là phương thức thực hiện hành động đã được con người
nắm vững từ trước”, “Kỹ năng là sự thực hiện thành công một hay nhiều hoạt động phức tạp nào
đó với sự sử dụng những thủ thuật, những phương thức đúng đắn” [33].
Từ điển Tâm lý học của Liên Xô cũ (1983) cũng định nghĩa: “KN là giai đoạn giữa của việc
nắm vững một phương thức hành động mới- cái dựa thêm một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá
trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ
kỹ xảo” [30].

những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở của ttri thức mà có, chúng đòi hỏi sự

Như vậy, theo những quan điểm trên, kỹ năng đã được nhìn nhận ở cả những kỹ năng mang tính

-

Mức độ 1: KN ban đầu:

Người học đã có kiến thức về nội dung một dạng KN nào đó, và trong những tình huống cụ thể
khi cần thiết, người học sẽ có thể tái hiện được những thao tác, hành động nhất định nào đó. Tuy
nhiên, ở mức độ KN ban đầu này thì người học thường chỉ thực hiện được yêu cầu của KN này
dưới sự hướng dẫn của người dạy.
-

Mức độ 2: KN mức thấp:

Khác với mức độ 1, ở mức độ KN mức thấp, người học đã có thể tự thực hiện được những thao
tác, hành động cần thiết theo một trình tự đã biết. Song, ở mức độ KN này, người học chỉ thực hiện

thức, kinh nghiệm về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những hành vi

được những thao tác, hành động trong những tình huống quen thuộc và chưa di chuyển được sang

tương ứng một cách hiệu quả.

những tình huống mới.
-

1.2.2.2. Đặc điểm của KN
Khi nhắc đến KN, người ta thường hay đề cập đến một khái niệm “họ hàng” của nó là “kỹ xảo”.
Nhưng nếu như kỹ xảo có mức độ tham gia của ý thức ít, thậm chí trong nhiều trường hợp có khi
không cảm thấy có sự tham gia của ý thức và đôi khi có thể kiểm tra bằng cảm giác vận động, tầm
tri giác được mở rộng thì KN có những đặc điểm riêng biệt sau đây:[43]
- Trong KN, ý thức đóng vai trò tích cực và thường trực. Trong quá trình thực hiện một hành

Bảng1.3: Bảng phân chia các mức độ KN theo quan điểm của
K.K. Platonov và G.G. Golubev
TT

Các mức độ

Miêu tả

1

Mức độ 1

Có KN sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai,
dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm.

2

Mức độ 2

Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ

3

Mức độ 3

Có những KN chung nhưng còn mang tính chất rời rạc, riêng lẻ.

4

Mức độ 4

tỏ những thông tin chứa đựng trong các tình huống, các nhiệm vụ và đối chiếu chúng với những
hành động cụ thể” [61].
Trong khi đó, Jacqueline P. Leighton (Đại học Alberta- Canada) quan niệm đối với những kỹ
năng phức tạp thì sự hình thành kỹ năng bắt đầu từ những hành động đơn giản, làm thử và luyện tập
[47]. Bên cạnh đó, nhiều tác giả có cùng nhận định với A.J.Naples (2005) sự hình thành kỹ năng
phải bắt đầu từ giai đoạnn hình thành nhận thức cho chủ thể về kỹ năng đó.[47]
Đặc biệt, tác giả Peter A.Frensh (2005) (Đại học Humboldt, Berlin, Đức) cho rằng muốn hình
thành KN, chúng ta cần thực hiện được các yêu cầu cơ bản sau đây:[57]
- Giúp chủ thể biết cách tìm tòi và từ đó nhận biết những thông tin đã biết, chưa biết cần phải
thu thập cũng như mối quan hệ giữa chúng.

hưởng đến sự hình thành kỹ năng. Trong đề tài này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả Vũ Thị
Nho, sự hình thành KN chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố sau đây: [30 ]
-

Nội dung của nhiệm vụ:

Nội dung nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hoá sẵn hay bị che phủ bị những yếu tố phụ nào đó
và làm lệch hướng tư duy và ảnh hưởng đến sự hình thành KN.
-

Tâm thế và thói quen của chủ thể:

Một ví dụ rõ nhất về sự ảnh hưởng của tâm thế đến sự hình thành KN đó là những học sinh đã
sẵn sàng tham gia vào việc học Toán thì sẽ dễ dàng hình thành ở học sinh đó những KN liên quan
đến môn học này. Vì thế, tạo ra một tâm thế thuận lợi, tích cực sẽ giúp chủ thể hình thành KN một
cách dễ dàng hơn.
Ngoài ra, yếu tố thói quen đôi khi là một yếu tố thuận lợi, nhưng cũng có thể là một yếu tố bất
lợi trong một số trường hợp. Do vậy, khi hình thành KN, chúng ta chú ý việc phát huy những thói
quen sẽ hỗ trợ cho việc hình thành KN và tiến hành làm thay đổi một thói quen nào đó nếu nó là

GQVĐ thuộc nhóm thứ ba. Cụ thể như sau:
-

Nhóm một - nhóm KN về cuộc sống cá nhân bao gồm: KN sinh hoạt cá nhân, KN rèn luyện

giữ sức khỏe, KN tự nhận thức bản thân, KN tự ý thức và có trách nhiệm với bản thân, KN tự xác
định mục đích, kế hoạch cuộc sống…
-

Nhóm hai - nhóm KN quan hệ với người khác, với cộng đồng, xã hội bao gồm: KN giao tiếp,

ứng xử, KN thiết lập và duy trì các mối quan hệ liên nhân cách, KN thực hiện các hành vi văn hóa
xã hội, KN thích ứng xã hội…
-

Nhóm ba - nhóm KN công việc bao gồm: KN xác định mục tiêu công việc, KN lựa chọn và

trách nhiệm về cảm xúc của mình, KN tự giám sát, tự điều khiển, điều chỉnh cảm xúc của bản

xác định các giá trị, KN hoạch định công việc, KN giải quyết các vấn đề nảy sinh trong công việc,

thân.

KN tổ chức thực hiện công việc có kết quả, KN đánh giá công việc và rút kinh nghiệm về công

-

Nhóm ba - nhóm KN xã hội, bao gồm các KN như: KN hợp tác, KN gây thiện cảm, KN giao

tiếp – truyền thông, KN thích ứng với cảm xúc của người khác.


và đánh giá bản thân, KN xây dựng mục tiêu cuộc đời, KN bảo vệ bản thân…
-

Nhóm hai - nhóm KN tự nhận thức và sống với người khác bao gồm các KN như: KN thiết

lập quan hệ, KN hợp tác, KN làm việc nhóm…
-

Nhóm ba - nhóm KN ra quyết định và làm việc hiệu quả bao gồm một số KN như: phân tích

vấn đề, nhận thức thực tế, ra quyết định, ứng xử, giải quyết vấn đề…

- Learning to Learn: trau dồi tri thức
Như vậy, tất cả các tổ chức cũng như các nhà nghiên cứu mà chúng tôi kể trên đều có một sự
thống nhất kỹ năng GQVĐ là một kỹ năng sống. Tuy nhiên, quan niệm, cách phân loại kỹ năng
sống có phần khác nhau nên quan niệm của từng tác giả về kỹ năng GQVĐ cũng không giống nhau.
Song, về cơ bản, kỹ năng GQVĐ có thể hiểu là khả năng chủ thể vận dụng nền tảng kiến thức có
sẵn để giải quyết những vấn đề xảy ra.
Từ việc tham khảo những quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu về kỹ năng và kỹ năng giải quyết
vấn đề, chúng tôi đưa ra khái niệm kỹ năng GQVĐ như sau: “Kỹ năng giải quyết vấn đề là sự giải
quyết có kết quả những vấn đề nảy sinh trong hoạt động hàng ngày của con người bằng cách tiến
hành đúng đắn các thao tác, hành động trên cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm của chủ
thể”


1.2.3.2. Các giai đoạn của quá trình giải quyết vấn đề
Để có thể giải quyết một vấn đề, theo tác giả Howard Senter, có 6 giai đoạn của quá trình giải
quyết vấn đề [51]
- Giai đoạn 1: Nhận ra vấn đề

việc này không được thực hiện…”. Những câu hỏi này sẽ thực sự cần thiết để tránh trường hợp

Với mỗi vấn đề, chỉ có một giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, do đó, chủ

tưởng tượng quá xa hiện thực và làm cho những chuyện đơn giản bị nhầm tưởng là vấn đề, hay thấy

thể phải dựa trên những thông tin thu thập được và những mâu thuẫn của vấn đề đã được xác định

vấn đề tồn tại khắp mọi nơi.

để liệt kê các phương án khác nhau. Mỗi giải pháp sẽ có những ưu điểm và khuyết điểm khác nhau

Hoặc có trường hợp, có những vấn đề đôi khi không cần phải giải quyết hay đưa ra giải pháp

nên nếu càng nhiều phương án được đưa ra thì chủ thể càng có thêm cơ hội để lựa chọn ra giải pháp

nào thì chúng cũng sẽ được “qua đi”. Nhưng ngược lại, có một số trường hợp, nếu chủ thể không

tốt nhất. Vì vậy, ở giai đoạn này, chủ thể có thể liệt kê tất cả những phương án được hình dung để

giải quyết thì nó sẽ không bao giờ mất đi, thậm chí vấn đề sẽ trở nên trầm trọng hơn.

sau đó xác định một phương án tối ưu.

- Giai đoạn 2: Xác định chủ vấn đề

- Giai đoạn 5: Chọn giải pháp tốt nhất

Chủ thể phải nhận biết được vấn đề nào ảnh hưởng đến chủ thể và vấn đề nào không phải quan


o phải dốc sức lực vào giải quyết vấn đề này;

- Giai đoạn 6: Thực thi giải pháp

o bảo đảm rằng những ai có liên quan biết rằng chính chủ thể là người chịu trách nhiệm giải
quyết.
- Giai đoạn 3: Hiểu vấn đề

Có thể nói đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình GQVĐ bởi vì nếu chủ thể không
thực hiện tốt ở giai đoạn này thì toàn bộ quá trình GQVĐ sẽ thất bại.
Thực thi giải pháp là biến những ý tưởng của giải pháp tối ưu được lựa chọn bằng việc lên một
kế hoạch thực hiện với sự cân nhắc nhiều yếu tố như thời gian, bối cảnh, địa điểm, các phương tiện


cũng như các cá nhân hỗ trợ. Từ đó, chủ thể tiến hành những hành động cụ thể để thực thi giải pháp

- Kỹ năng kiểm tra, đánh giá: là khả năng xác định các tiêu chí cần đánh giá dựa trên mục tiêu

tối ưu đã lựa chọn. Đặc biệt, công cụ chính thực thi giải pháp là ứng dụng kỹ năng giao tiếp hiệu

ban đầu được đặt ra và đi đến kết luận về mức độ thành công của phương án cũng như của quá trình

quả để GQVĐ.

GQVĐ.
Cụ thể, cấu trúc kỹ năng GQVĐ được minh hoạ như bảng dưới

- Giai đoạn 7: Theo dõi và đánh giá giải pháp

Bảng 1.4- Cấu trúc kỹ năng GQVĐ


Kỹ năng bộ phận
1. Kỹ năng nhận dạng vấn đề
2. Kỹ năng xác định mục tiêu cần đạt khi GQVĐ
3. Kỹ năng xác định nguồn thông tin cần thu thập
Kỹ năng xác định rõ vấn đề và biểu 4. Kỹ năng phân tích các mâu thuẫn chứa đựng trong
vấn đề
đạt vấn đề
5. Kỹ năng phân tích các nguyên nhân của vấn đề
6. Kỹ năng biểu đạt vấn đề cần giải quyết
Kỹ năng đề ra phương án giải quyết 7. Kỹ năng đề ra phương án giải quyết vấn đề
8. Kỹ năng lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết
Kỹ năng lựa chọn phương án tối ưu vấn đề
9. Kỹ năng xác định những công việc cụ thể cần làm
Kỹ năng tổ chức thực hiện
10. Kỹ năng lựa chọn thời điểm thích hợp
11. Kỹ năng xác định các tiêu chí để kiểm tra đánh
Kỹ năng kiểm tra đánh giá
giá việc thực hiện phương án GQVĐ

Kỹ năng GQVĐ là một kỹ năng phức hợp với nhiều kỹ năng thành phần. Từ việc phân tích các
giai đoạn của quá trình GQVĐ, chúng tôi xác định cấu trúc kỹ năng GQVĐ gồm những kỹ năng

1.2.4. Thực tập

như sau:

1.2.4.1. Khái niệm thực tập

- Kỹ năng nhận thức vấn đề: đó là kỹ năng nhận dạng vấn đề cần giải quyết và xác định được

Mỗi quốc gia khác nhau có một hình thức thực tập khác nhau. Trên cơ sở thu thập và nghiên cứu
các hình thức thực tập của các nước trên thế giới, chúng tôi khái quát và phân loại thành các hình
thức thực tập sau đây:[47]
a) Theo mục đích của kỳ thực tập: có hai hình thức thực tập là thực tập học hỏi kinh nghiệm
và thực tập nghiên cứu.
- Thực tập học hỏi nghề nghiệp (Work experience internship):
Được áp dụng với sinh viên năm thứ hai hay thứ ba của chương trình đại học (4 năm). Thời gian
thực tập ít nhất 2 tháng, một số trường cho phép sinh viên thời gian thực tập hơn 2 tháng. Trong đợt
thực tập này, sinh viên được khuyến khích ứng dụng những kiến thức và kỹ năng đã được học tại
trường vào công việc thực tế tại doanh nghiệp. Như vậy, bằng cách này, sinh viên học được nhiều
kinh nghiệm trong công việc liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai. Bên cạnh đó, những kinh
nghiệm này sẽ hữu ích cho sinh viên trong việc hoàn thành những thời gian trong năm cuối học tại
trường sau khi quay về trường sau đợt thực tập.
- Thực tập nghiên cứu (Research internship) hay thực tập làm luận văn (dissertation

Thời gian kéo dài từ 1đến 3 tháng với mục đích giúp sinh viên làm quen với môi trường tại các
cơ quan thực tập và định hướng được công việc gắn với chuyên ngành được học sau khi tốt nghiệp.
Đồng thời, với thời gian ngắn hạn này, sinh viên được thực tập trong nước.
-

Thực tập dài hạn:

Thời gian kéo dài từ 4 đến12 tháng, sinh viên được học những kinh nghiệm thực tế khi được thử
nghiệm làm việc tại các công ty như một nhân viên thực thụ. Bên cạnh đó, một số trường hợp, sinh
viên có khoảng thời gian khá dài này để hoàn thành một nghiên cứu như một điều kiện để hoàn
thành chương trình cử nhân. Một số trường Đại học cũng cho phép sinh viên ra nước ngoài để thực
tập với khoảng thời gian từ 6 đến 12 tháng.
c) Theo thứ tự các đợt thực tập: [47]
-


hoặc sinh viên cũng có thể tự lựa chọn một đề tài nào đó liên quan đến công ty để nghiên cứu. Sinh
viên sẽ hoàn thành nghiên cứu này sau khi kết thúc đợt thực tập, viết báo cáo và tiến hành thuyết
trình sau khi quay về trường.
b) Theo thời gian thực tập:[44]
-

Thực tập ngắn hạn:

Thực tập nhận thức (được nhà trường dịch từ từ gốc tiếng Anh là “The first internship”): áp

dụng cho sinh viên năm thứ 2, thời gian thực tập là 2 tháng.
-

Thực tập tốt nghiệp (được nhà trường dịch từ từ gốc tiếng Anh là “The final internship”): áp

dụng cho sinh viên năm thứ 4, thời gian thực tập là 3 tháng (đối với sinh viên thực tập trong nước)
và thời gian thực tập là 6- 12 tháng (đối với sinh viên thực tập ngoài nước).
Tuy tên gọi có khác nhau, nhưng thực tế, thực tập nhận thức (The first internship) tại trường Đại
học Hoa Sen chính là thực tập học tập kinh nghiệm và thực tập tốt nghiệp (The final intership)
chính là thực tập nghiên cứu theo như phần trình bày mục trên về các dạng thực tập.


Từ đó, theo chúng tôi, thực tập nhận thức là kỳ thực tập đầu tiên của sinh viên trong chương

-

trình đào tạo được áp dụng cho sinh viên đã hoàn thành chương trình học đại cương với khoảng

-



Báo cáo kết quả thực tập trước hội đồng nhà trường.

Ứng dụng những kiến thức và kỹ năng đã học vào công việc thực tế tại các công ty, doanh

nghiệp.
Học hỏi kinh nghiệm thực tế từ các công ty, doanh nghiệp.

Trong hai mục đích này, mục đích học hỏi kinh nghiệm thực tế từ các công ty và doanh nghiệp
được chú trọng hơn. Sau đợt thực tập này, sinh viên sẽ có nhận thức đầy đủ về chuyên ngành mình
đang học và những công việc cũng như nghề nghiệp tương lai. Từ đó, sinh viên tự đánh giá bản
thân có yêu thích những công việc này hay những đặc điểm về tính cách, thể chất, xu hướng của
bản thân có phù hợp với công việc này hay không. Lúc này, sẽ có hai trường hợp xảy ra:
- Trường hợp thứ nhất: Sinh viên cảm thấy yêu thích và phù hợp với nghề nghiệp này, sinh viên
sẽ tiếp tục chuyên ngành đang học và có những định hướng rõ hơn cho vấn đề công việc ở tương
lai.
- Trường hợp thứ hai: Sinh viên không cảm thấy yêu thích và không phù hợp với nghề nghiệp
này, sau khi hoàn thành đợt thực tập nhận thức, sinh viên sẽ được cố vấn học tập trao đổi về những
vấn đề liên quan đến việc tiếp tục chuyên ngành đang theo học hay không. Nếu sinh viên không
muốn học tiếp chuyên ngành này, sinh viên phải đảm bảo một vài điều kiện về tín chỉ và điểm số
cần thiết để chuyển sang một ngành phù hợp.
1.2.5.3. Nhiệm vụ của sinh viên trường Đại học Hoa Sen trong kỳ thực tập nhận thức

1.2.6. Kỹ năng giải quyết vấn đề trong quá trình thực tập nhận thức của sinh viên trường
Đại học Hoa Sen
1.2.6.1. Khái niệm kỹ năng giải quyết vấn đề trong quá trình thực tập nhận thức của sinh viên
trường Đại học Hoa Sen
Trong những mục được trình bày ở trên, mỗi tác giả đã có những quan điểm khác nhau về kỹ
năng và kỹ năng GQVĐ. Tuy nhiên, các tác giả đều thống nhất kỹ năng GQVĐ là một kỹ năng
sống và được biểu hiện bằng kết quả quá trình giải quyết những vấn đề trên cơ sở vận dụng tri thức


Lên kế hoạch làm việc tuần.

• Thao tác xác định mục tiêu khi GQVĐ (bao gồm thao tác xác định mục tiêu trước mắt và
mục tiêu lâu dài)
-

Kỹ năng xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề


• Thao tác xác định nguồn thông tin cần thu thập

-

-

• Thao tác xác định nguyên nhân

-

• Thao tác biểu đạt vấn đề

-

Kỹ năng đề ra các phương án giải quyết: thao tác đưa ra các phương án khác nhau có thể sử

dụng để GQVĐ.
-

Xác định được những thông tin chưa biết cần phải thu thập.

Kỹ năng kiểm tra đánh giá: thao tác xác định các yếu tố để đánh giá tính hiệu quả của quá

-

Lựa chọn được một phương án tối ưu để GQVĐ.

-

Biết xác định được các công việc cụ thể cần làm.

-

Biết lựa chọn bối cảnh thích hợp để GQVĐ như thời điểm, không gian,…

-

Theo dõi và đánh giá được tính hiệu quả của quá trình GQVĐ đã thực hiện.

trình GQVĐ.
Tóm lại, kỹ năng GQVĐ trong quá trình thực tập nhận thức của sinh viên bao gồm nhiều kỹ
năng với các thao tác có quan hệ mật thiết với nhau và quy định lẫn nhau.
1.2.6.3. Biểu hiện của kỹ năng GQVĐ trong quá trình thực tập nhận thức của sinh viên
Dựa trên việc nghiên cứu những nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn của các tác giả trong và ngoài
nước về kỹ năng, kỹ năng GQVĐ, chúng tôi đưa ra những biểu hiện của kỹ năng GQVĐ trong quá
trình thực tập nhận thức của sinh viên trường Đại học Hoa Sen như sau:
-

Nhận thức đúng về:
• Tầm quan trọng của kỹ năng GQVĐ.
• Khái niệm kỹ năng GQVĐ.

Kết quả giải quyết các vấn đề trong các tình huống cụ thể.

-

Biết kiểm soát cảm xúc khi vấn đề xảy ra.

Do đó, chúng tôi đánh giá kỹ năng GQVĐ của SV trường Đại học Hoa Sen dựa vào ba tiêu chí

-

Dám đối mặt với vấn đề để giải quyết vấn đề, không lẩn tránh vấn đề.

-

Có thái độ tích cực khi GQVĐ.

-

Thứ nhất: Mức độ nhận thức của SV về kỹ năng GQVĐ

-

Xác định được ai có trách nhiệm giải quyết vấn đề.

-

Thứ hai: Mức độ thực hiện các thao tác trong quá trình GQVĐ thông qua tình huống mô

-



điểm

điểm

điểm

điểm

Nhận thức về những 13

0- 2.6 2.61-

5.21-

7.81-

10.4-

hành động trong quá

điểm

5.2

7.8

10.4

13

-

Rất thấp (0- 8 điểm): SV chưa nhận thức về kỹ năng GQVĐ

-

Nhận thức về khái niệm kỹ năng GQVĐ.

-

Thấp (8.1- 16 điểm): SV nhận thức rất hạn chế về kỹ năng GQVĐ, câu trả lời sai chiếm ưu

-

Nhận thức về các bước của quá trình GQVĐ.

-

Nhận thức về những yêu cầu khi GQVĐ.

-

Nhận thức về những thao tác của quá trình GQVĐ.

-

Những thức về những hành động cụ thể trong quá trình GQVĐ.

thế
-


điểm

1.6

2.4

3.2

4

tác kỹ thuật này thông qua các câu trả lời cho những câu hỏi mở.

Nhận thức

về tầm 4

Nhận thức về khái 4
kỹ

năng

Nhận thức về các bước 4
của kỹ năng GQVĐ

Nhận thức về yêu cầu 4
của kỹ năng GQVĐ

Nhận thức về những 11



điểm

1.6

2.4

3.2

4

dựa trên hai tiêu chí:

điểm

điểm

điểm

điểm

-

Tính đúng đắn

0- 0.8 0.81-

1.61-

2.41-

Các yếu tố được

quan trọng của kỹ

2

Trung bình (16.1- 24 điểm): SV nhận thức tương đối đúng và đầy đủ về kỹ năng GQVĐ, câu
trả lời sai còn đáng kể

1.6

2.4

3.2

4

Và các thao tác kỹ thuật trong quá trình GQVĐ của SV được đánh giá theo các mức độ như sau:

điểm

điểm

điểm

điểm

- Rất thấp: 0- 8 điểm: SV không thực hiện được các thao tác trong quá trình GQVĐ.

0- 0.8 0.81-


6.61-

8.81-

- Thấp: 8.1- 16 điểm: SV có thực hiện được các thao tác trong quá trình GQVĐ nhưng rất ít và
đa số các thao tác sai.
- Trung bình: 16.1- 24 điểm: SV thực hiện tương đối đầy đủ các thao tác trong quá trình
GQVĐ, nhưng thao tác sai còn đáng kể.


- Cao: 24.1- 32 điểm: SV thực hiện tương đối đầy đủ các thao tác trong quá trình GQVĐ, thao

1

tác sai không đáng kể.

Rất

Chưa nhận thức về kỹ năng GQVĐ; Không thực hiện được các thao tác

0- 24

trong quá trình GQVĐ; Không giải quyết được vấn đề, tất cả các đáp án

thấp

- Rất cao: 32.1- 40 điểm: SV thực hiện đúng và đầy đủ các thao tác trong quá trình GQVĐ.
1.7.2.3. Tiêu chí 3: Mức độ giải quyết các vấn đề của SV trường Đại học Hoa Sen trong quá
trình thực tập nhận thức thông qua tình huống giả định

Trung

48.1-

Nhận thức tương đối đúng và đầy đủ về kỹ năng GQVĐ, câu trả lời sai

bình

72

còn đáng kể; Thực hiện tương đối đầy đủ các thao tác trong quá trình
GQVĐ, nhưng thao tác sai còn đáng kể; Có giải quyết được vấn đề

- Rất thấp: 0- 8 điểm: Sinh viên không giải quyết được vấn đề, tất cả các đáp án sai.
- Thấp: 8.1- 16 điểm: Sinh viên có giải quyết được vấn đề nhưng đa số các đáp án sai.
- Trung bình: 16.1- 24 điểm: Sinh viên có giải quyết được vấn đề nhưng đáp án sai còn đáng kể.

nhưng đáp án sai còn đáng kể.
4

Cao

- Cao: 24.1- 32 điểm: Sinh viên giải quyết vấn đề tương đối tốt, đáp án sai không đáng kể.

72.1-

Nhận thức khá đúng và đầy đủ về kỹ năng GQVĐ, câu trả lời sai không

96



Tiểu kết
Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về KN GQVĐ trên cả phương diện lý luận lẫn

tình huống giả định.

Biểu hiện

thực tiễn. Tuy nhiên, ở Việt Nam số lượng công trình nghiên cứu ở lĩnh vực này còn khá khiêm tốn
và chưa có tác giả nào nghiên cứu về KN GQVĐ trong quá trình thực tập của SV.
Kỹ năng GQVĐ là khả năng thực hiện đúng các yêu cầu trong từng thao tác của quá trình
GQVĐ để giải quyết có kết quả và hợp lý những vấn đề trong quá trình thực tập nhận thức dựa trên
nền tảng kiến thức của mỗi sinh viên. Kỹ năng GQVĐ là một hệ thống cấu trúc gồm nhiều kỹ năng
với những thao tác cụ thể.
Kỹ năng GQVĐ của sinh viên trường Đại học Hoa Sen được đánh giá trên 3 tiêu chí: nhận thức
của sinh viên về kỹ năng GQVĐ, mức độ thực hiện các thao tác và mức độ giải quyết các vấn đề
trong đợt thực tập nhận thức.


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GQVĐ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
HOA SEN

- Phần 2: Các câu hỏi thực trạng những vấn đề của sinh viên trong quá trình GQVĐ (câu 6),
những khó khăn của sinh viên khi GQVĐ (câu 8) và nguyên nhân những khó khăn của sinh viên khi
GQVĐ (câu 9) và tự đánh giá của sinh viên về kỹ năng GQVĐ của bản thân (câu 7)
- Phần 3: Các câu hỏi về nhận thức của sinh viên về kỹ năng GQVĐ gồm:

2.1. Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng
2.1.1. Mục đích, yêu cầu



- Phần 5: Các câu hỏi về kết quả thực hiện giải quyết vấn đề trong các tình huống cụ thể (câu 11
đến câu 20)
- Phần 6: Câu hỏi mở về đề xuất của sinh viên để cải thiện kỹ năng GQVĐ của bản thân (câu

Dựa trên những cơ sở lý luận của đề tài, tiến hành thiết kế bảng hỏi mở gồm 6 câu hỏi về những
nhiên ở các chuyên ngành CNTT, QTKD và QT DL, KS- NH để thu thập những thông tin cần thiết

Câu hỏi nhận thức của sinh viên về các yêu cầu của quá trình GQVĐ: câu 4.



- Phần 4: Các câu hỏi về thực hiện các thao tác GQVĐ của sinh viên (câu 10).

Có ba bảng hỏi dành cho ba nhóm khách thể sinh viên, giảng viên và nhân viên. Bảng hỏi này
a. Giai đoạn 1:



1.15.

2.1.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
được thực hiện qua ba giai đoạn như sau:

Các câu hỏi về nhận thức của sinh viên về tâm quan trọng của kỹ năng GQVĐ: câu 1.1

đến 1.4.

21)
Bảng hỏi thứ hai, dành cho khách thể nghiên cứu bổ trợ của đề tài là các giảng viên đã từng


từng chuyên ngành mà tỉ lệ nam- nữ trong từng chuyên ngành có sự khác nhau, tuy nhiên, xét trên
toàn mẫu nghiên cứu thì không có sự chênh lệch đáng kể về số lượng SV nam và nữ.
-

2.1.2.3. Phương pháp toán thống kê
Sử dụng phần mềm thống kê SPSS để tính tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình, độ lệch

Xét theo giới tính, nam có 150 SV, chiếm 49% và nữ có 153%, chiếm 51%. Do đặc thù của

Xét theo quê quán, trong mẫu nghiên cứu có 167 sinh viên có quê quán ở các tỉnh (chiếm

54.6%) và 139 sinh viên ở tại TP.HCM cũng như các thành phố lớn (chiếm 45.5%).
-

chuẩn và tiến hành kiểm nghiệm ANOVA, Chi- Square với mức ý nghĩa 95% để làm rõ sự khác

Xét theo kết quả học tập, có 6.7% SV loại giỏi, 19.7% loại khá, 58.2% loại trung bình,

10.5% loại yếu, 5.4% loại kém.

biệt về một số biểu hiện của kỹ năng GQVĐ giữa các biến số khác nhau. [Phụ lục 4, tr.156]

Như vậy, sự phân bố khách thể nghiên cứu theo chuyên ngành và giới tính, quê quán không có
sự chênh lệch đáng kể, đảm bảo cho tính tin cậy của mẫu nghiên cứu.

2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng

Ngoài ra, mẫu nghiên cứu còn có 51 giảng viên trường đại học Hoa Sen và 34 nhân viên của 21


TT Chuyên ngành

Tỉ lệ (%)

Nam
Số
lượng
Công
nghệ 80
thông tin và
Mạng máy tính

Nữ
Tỉ
lệ Số
(%)
lượng
76.9
25

Quản trị du lịch, 23
khách sạn và
nhà hàng

25.3

3

Quản trị kinh 47
doanh

(%)
lượng
23.1
108

Tỉ lệ
(%)

100
80

74.7

77.8
65.1

60.8

54.6

VĐ 2

VĐ 3 VĐ 4

60

62.1

61.1


Khi sinh viên thực tập tại các doanh nghiệp, sinh viên sẽ được các nhân viên giao một số công
việc để hiểu thêm về công việc gắn với một chuyên ngành sinh viên theo học đồng thời học hỏi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status