1
Học Thuyết nhân lễ chính danh của khổng tử
và sự ảnh hởng trong xây dựng gia đình văn hoá
ở nớc ta hiện nay.
Mở đầu
Khổng tử sinh năm 551, mất 479 trớc công nguyên, tên là khổng Khâu,
tự là Trọng Ni; ông là ngời nớc Lỗ- nơi bảo tồn đợc nhiều di sản văn hoá cũ
của nhà Chu. Thời đại của ông là thời đại vơng đạo suy vi, bá đạo trị vì, lễ
nhạc của nhà Chu bị đảo lộn. Với hoài bão chính trị của mình, ông đã xây
dựng học thuyết Nhân lễ chính danh nhằm góp phần lập lại kỷ cơng,
lễ nhạc của nhà Chu, giải quyết những vấn đề xã hội những vấn đề cấp
bách đặt ra trong thời đại ông đang sống. Do sự chi phối mang tính quyết định
của điều kiện xã hội lịch sử, sự hạn chế của bản thân Khổng Tử, nên bên cạnh
những cống hiến to lớn còn tồn tại một số hạn chế nhất định của học thuyết
này, những hạn chế ấy đã bộc lộ ngay cả khi đợc áp dụng vào trong xã hội của
thời đại Khổng Tử, cũng nh trong thời đại mới thời đại quá độ lên chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Bởi vậy, chúng ta cần biết bóc tách, kế
thừa và lọc bỏ những gì trong học thuyết này để nghiên cứu, vận dụng vào xây
dựng gia đình văn hoá mới ở nớc ta hiện nay.
1. Những t tởng cơ bản về Nhân lễ chính danh trong triết
học chính trị xã hội của Khổng Tử.
Nhà triết gia nổi tiếng - Khổng Tử của Trung Quốc thời kỳ cổ đại đã có
những đóng góp đáng kể trong những quan niệm của ông về thế giới, ông đã
nêu lên những t tởng về trời, đạo trời, mệnh trời, nhiều khi ông đã coi trời là
giới tự nhiên, nh quy luật vận hành của tự nhiên, muôn vật luôn tự vận động
không ngừng Thiên hà ngôn tại? Tứ thời hành yên, bách vật sinh yên, nghĩa
là trời có nói gì đâu, bốn mùa vẫn thay đổi, trăm vật vẫn sinh ra). Nhng có lẽ
cống hiến lớn hơn cả của Khổng Tử là ở t tởng triết học chính trị xã hội của
ông, mà trong đó tiêu biểu nhất, trung tâm nhất là học thuyết về Nhân lễ
chính danh.
dòng họ.v.v. Có lẽ vì thế mà ngay từ xa xa Khổng Tử đã nhận thức đợc mối
quan hệ giữa gia đình và xã hội, nên ông đã cho rằng ái nhân là phải biết lấy
hiếu đễ làm gốc, muốn có quan hệ xã hội tốt thì phải có các quan hệ huyết
thống tốt. Trong luận ngữ học nhi ông đã viết Quân tử tử tế với ngời thân, tất
dân hứng khởi làm điều nhân nghĩa là cẩn thận nhớ tới ngời thân xa dời, thì
dân đức đầy đặn. T tởng ái nhân của Khổng Tử đợc xuất phát từ nguyện vọng
điều chỉnh có tinh phổ biến của quan hệ giữa con ngời với con ngời, của quan
hệ đạo đức có tính chất giai tầng. Từ đó dẫn tới t tởng Vi chính dĩ đức, tức là
làm chính sự phải lấy đạo đức làm nền tảng, phải biết Sát thân thành nhân
(bỏ thân bé nhỏ để đạt đợc nhân lớn. Để có ái nhân tốt thì không đợc phân biệt
đẳng cấp, sang hèn mà phải luôn yêu thơng lẫn nhau ái hữu sai đẳng, phải
có ôn, cung, nhợng, khoan, tín, mẫn, huệ nghĩa là phải ôn hoà, cung kính,
nhờng nhịn, khoan dung, tín cẩn, cần cù và ra ơnNhng, trong t tởng về nhân
3
của Khổng Tử lại chứa đựng sự phân biệt giai cấp, điều này vừa làm hạn chế t
tởng ái nhân, vừa làm bó hẹp phạm vi phát triển của nhân, ông cho rằng chỉ
có ngời quân tử (tức giai cấp thống trị) mới có thể đạt đợc đức nhân, còn kẻ
tiểu nhân (tức nhân dân lao động) không thể có đức nhân, ông nói, Quân tử
nhi bất nhân giả hữu hỹ, vị hữu tiểu nhân nhi nhân giả dã (đạo nhân chỉ là
đạo của ngời quân tử, của giai cấp thống trị, bậc tiểu nhân không có đạo
nhân).
Nhân trong triết học của Khổng Tử còn đợc thể hiện ở t tởng thợng
hiền (tôn trọng ngời hiền tài), đã là ngời hiền tài thì ta phải kính trọng, phải
nhờng nhịn, nếu không nhờng tức là ăn cắp địa vị, ông cho rằng học tập lễ
nhạc trớc, rồi mới làm quan, chính là những kẻ dã nhân (tức dân thờng), làm
quan trớc rồi mới học lễ nhạc chính là ngời quân tử (con cháu quý tộc); nếu
dùng ngời thì ta chọn những ngời học tập lễ nhạc trớc.
lấy ngời khác.
Nhân trong t tởng của nhà triết học Khổng Tử không phải chỉ là yêu thơng ngời khác, mà còn phải biết yêu thơng, quý trọng chính bản thân mình,
phải biết làm cho mọi ngời yêu quý mình, tôn trọng mình. Song, đây không
phải là t tởng đề cao cá nhân, không phải là cá nhân chủ nghĩa, mà thực chất
đây là một đức tính đáng quý, một yêu cầu rất cao để có thể đạt đợc nhân.
Ngày nay, t tởng ấy đợc chúng ta hiểu tôn trọng hay yêu thơng ngời khác
chính là tôn trọng hay yêu thơng bản thân mình, tôn trọng bản thân mình cũng
chính là đã tôn trọng ngời khác. Việc làm cho ngời khác yêu thơng, quý trọng
mình là một yêu cầu đòi hỏi rất cao, mỗi ngời phải bằng chính phẩm chất,
năng lực của bản thân, bằng chính ngôn khẩu(lời nói) và động(việc làm)
để tạo ra uy tín, thu phục ngời khác chứ không phải là dùng thủ đoạn mà tạo
uy tín, vì đó chỉ là thứ uy tín giả của một số kẻ t lợi, tiểu nhân. Do vậy,
Khổng Tử cho rằng Phẩm chất chất phác, tình cảm chân thực là điều kiện cần
thiết để trau dồi đức nhân (mộc cột cận nhân), những ngời thích trau truốt,
hình thức, khéo nói là ít đức nhân (xảo ngôn lệnh sắc, tiểu hỹ nhân) [6, 28].
T tởng này của Khổng Tử nh một thang giá trị trong quá trình xây dựng, thực
hiện các chuẩn mực đạo đức xã hội, nó cần đợc nhân rộng và phát huy vai trò
hơn nữa trong xã hội ta hiện nay.
Theo kết quả nghiên cứu của giáo s Phan Đại Doãn, chữ nhân đợc xuất
hiện 109 lần trong Luận ngữ, trong đó khái quát và yêu cầu cơ bản là khắc
kỷ và ái nhân. Khắc kỷ đợc hiểu là sự ràng buộc bản thân vào lễ, mọi hành
vi đều tuân thủ theo lễ, phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ
vật động (không nhìn điều trái lễ, không nghe điều trái lẽ, không nói điều trái
lễ, không làm điều trái lễ), có nh vậy mới có thể đạt đợc đức nhân, nói cách
khác nếu gọi là nhân mà không gắn với lễ thì không thể là nhân, đã là nhân thì
bao giờ cũng phải quyện chặt với lễ. Do đó, để đạt đợc đức nhân toàn vẹn theo
đạo làm ngời thì phải khắc kỷ phục lễ nhân (phải kìm chế ham lợi của bản
5
chứng này lễ bao giờ cũng đợc coi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của
nhân, còn nhân luôn là nội dung sâu sắc, phong phú ẩn chứa trong lễ. Nh vậy,
nếu cho rằng có nhân mà phi lễ thì cha đợc coi là có nhân, cha phải là con ngời toàn thiện và đã là có nhân thì không thể không có lễ. Bởi điều này nên theo
6
Khổng Tử để là ngời thực sự có đức nhân là một đòi hỏi rất cao, mẫu ngời lý tởng của Nho gia là đức nhân, đại nhân, con ngời phải thực sự đạt đến chuẩn
mực nhân, vì thế mà ngay cả đến vua Nghiêu, vua Thuấn, thậm chí cả bản
thân ông cũng chỉ có từng lúc mới đạt đợc nhân. Mối quan hệ này vừa là kết
quả, vừa là cơ sở để tạo nên các quy định, các quan hệ khác nhau trong xã hội
Trung Quốc thời Khổng Tử nh: Tam cơng (Quân Thần, Phụ Tử, Phu
Phụ), ngũ thờng (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), ngũ luân (Quân Thần, Phụ Tử,
Phu Phụ, Huynh - Đệ, Bằng Hữu)
T tởng về lễ của Khổng Tử còn đợc phát triển, mở rộng bởi những nội
dung mới; quá trình áp dụng t tởng về lễ trong xã hội thời nhà Chu đã đợc ông
phát triển từ lễ thuần tuý là hình thức thể hiện của hành vi và ý thức tôn giáo
có tính chất tín điều lên thành lễ với t cách là một phạm trù có ý nghĩa xã hội
và nhân văn sâu sắc. Ông khẳng định, lễ là một nội dung thuộc về phạm trù
văn hoá, lễ phải là cái có sau bản tính tự nhiên của con ngời (ở đây ông cha
thấy đợc sự ảnh hởng to lớn của điều kiện kinh tế-xã hội đến lễ), ông ví lễ nh
bức tranh vẽ trên nền trắng(Hội sự hậu tố Luận ngữ, Bát dật). Bản tính tự
nhiên của con ngời, theo ông phải là hiếu đễ, tức là con cái phải hiếu thảo
với cha mẹ, kính thuận với anh em và ngời lớn tuổi. T tởng này của ông đợc
học trò Hữu Nhợc làm rõ hơn: Những ngời có lòng hiếu thảo với cha mẹ, kính
yêu hoà thuận với anh em và ngời lớn tuổi, ít ai có t tởng phạm thợng, mà đã
không có t tởng phạm thợng thì không thể có t tởng phản loạn-tức giữ đợc lễ.
Xuất phát từ luận điểm này Khổng Tử cho rằng hiếu đễ là cái gốc của điều
nhân, ông luôn yêu cầu các học trò của mình trớc hết phải có lòng hiếu thảo
với cha mẹ, kính thuận với anh em và ngời lớn tuổi, cẩn trọng trong mọi việc
Ngày nay những cống hiến trong t tởng về lễ của Khổng Tử vẫn còn có
nhiều giá trị to lớn trong xây dựng xã hội mới, con ngời mới cũng nh gia đình
văn hoá mới ở nớc ta. Nếu cách đây hàng ngàn năm ông đã nói đến quan hệ
hiếu đễ trong gia đình, thì nay t tởng ấy vẫn đang là một vấn đề cấp thiết, nổi
cộm trong xã hội ta, khi một số luân lý xã hội bị đảo lộn, đạo đức xã hội bị
xuống cấp, quan hệ trong nội gia đình đang đợc đặt lên bàn cân của vật chất
(tiền của)Nếu chúng ta biết vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, chúng ta sẽ
có thể xây dựng đợc một xã hội tốt đẹp, xây dựng đợc những con ngời giàu
lòng nhân ái, vị tha, những gia đình văn hoá mang đậm màu sắc của dân tộc
Việt Nam.
Trong học thuyết chính trị xã hội của mình, Khổng Tử không chỉ bàn
đến nhân và lễ, mặc dù đó là những biểu hiện không thể thiếu của mỗi một
con ngời, mà ông còn nêu lên t tởng chính danh. Theo ông, chính danh là phải
làm mọi việc cho ngay thẳng, trong xã hội mỗi ngời đều có địa vị, bổn phận
(danh) nhất định, nên ngời có chính danh phải là ngời luôn làm tròn bổn phận,
nghĩa vụ, công việc của mình; từ trên xuống dới, từ vua đến tôi, từ cha đến
con, từ chồng đến vợphải phân minh rõ ràng, mỗi ngời sống làm sao phải
cho xứng với từng cơng vị ấy, Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử nghĩa là
vua phải xứng cho đạo làm vua, cha phải xứng là ngời làm cha, con phải xứng
8
đúng đạo làm con, nếu không làm đợc nh vậy thì cũng không thể đạt đợc đức
nhân. Chúng ta đều thấy điều quan trọng trong cuộc sống không phải là hữu
danh vô thực, mà phải là từ cái thực ấy làm nổi lên cái danh, đó mới là cái
đáng quý, đó mới là ngời sống đúng chính danh. Trong xã hội ta hiện nay
đang không ít kẻ hữu danh vô thực, có ngời dựa vào chỗ này, chỗ kia để cố tạo
ra cái danh cho mình, còn thực chất trình độ, năng lực và phẩm chất rất yếu
kém. Những con ngời đó chúng ta cần phải lên án, đấu tranh để cho những ngời có tài, có đức thực sự đợc đứng vào vị trí ấy, hàng ngũ ấy để họ cống hiến
biết mình phải làm gì để cho chính danh. Dũng là đức bên trong nói lên tinh
thần hăng hái, gan dạ, giám hy sinh, quyết tâm khắc phục khó khăn, dũng
biểu hiện sức mạnh và ý chí thực hiện mục đích của mỗi con ngời. Dũng sẽ trở
thành động cơ bên trong thúc đẩy con ngời giám nghĩ, giám làm, giám vợt qua
mọi khó khăn nguy hiểm, mọi thử thách chông gai không sợ ảnh hởng đến
tính mạng cũng là để đạt đợc chính danh, đạt đợc đức nhân. Do đó, nhân lễ
chính danh luôn hoà quyện vào nhau, chúng là một thể thống nhất không
tách rời trong mỗi một con ngời, nếu ta tách chúng ra khỏi nhau thì sẽ không
còn là nhân, lễ hay chính danh một cách trọn vẹn, và nh vậy cũng sẽ không
thể có con ngời toàn thiện đợc.
Nhân lễ chính danh là các phạm trù cơ bản trong học thuyết triết
học về chính trị xã hội của Khổng Tử, mỗi phạm trù chứa đựng những nội
dung nhất định, chúng vừa nằm trong nhau, vừa là của riêng nhau nhng không
tách rời nhau, sự linh hoạt, mềm dẻo của ba phạm trù ấy đã nói lên một mẫu
ngời lý tởng theo quan điểm của Nho gia nói chung, quan niệm của Khổng Tử
nói riêng. Sự biến hoá đến khôn lờng của các phạm trù này sẽ giúp chúng ta
nghiên cứu, vận dụng rộng rãi, phù hợp vào quá trình cải tạo và xây dựng xã
hội. Bởi suy cho cùng, mục đích của học thuyết này là nhằm xây dựng một xã
hội theo hớng thiện, luôn đề cao tình hữu ái, một xã hội bình yên, mọi ngời tự
giác làm theo bổn phận của mình. Đây cũng chính là những gì mà Khổng Tử
và phái Nho gia đã cố gắng làm trong những năm trớc của thời kỳ cổ đại
Trung Quốc.
Nhìn chung, t tởng của Khổng Tử về nhân lễ chính danh có nhiều
điểm hợp lý, có nhiều đóng góp cho t tởng triết học về chính trị xã hội của
nhân loại, nhiều nội dung mang giá trị nhân văn, vĩnh hẵng nh:T tởng ái
nhân, nhân, lễ, nghĩa, trí, tínTrong thời đại ngày nay, khi cách mạng khoa
học kỹ thuật và công nghệ đang ngày càng đi sâu vào từng ngõ ngách, vào
mọi lĩnh vực của cuộc sống, thúc đẩy xã hội phát triển mạnh về mọi mặt, thì
nó cũng đang làm cho tình ngời khô khan hơn; một số tập đoàn t bản tận dụng
thành tựu đó để sản xuất hàng loạt vũ khí giết ngời hiện đại, nhiều tổ chức
pháp đồng bộ cùng giải quyết.
2. Một số ảnh hởng của học thuyết nhân lễ chính danh đến quá trình
xây dựng gia đình văn hoá ở nớc ta hiện nay.
Gia đình là tế bào của xã hội, chăm lo xây dựng gia đình văn hoá tốt là
cơ sở, nền tảng xây dựng nền văn hoá tiến bộ cho toàn xã hội. Đảng ta đã xác
định trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001 -2010 là làm
cho văn hoá thấm sâu vào từng khu dân c, từng gia đình, từng ngời, hoàn thiện
11
hệ giá trị mới của con ngời Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thống của dân
tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá của loài ngời, tăng sức đề kháng chống văn
hoá đồi trụy, độc hại. Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế,
chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân [4, 213], khuyến khích các tổ
chức, cá nhân, hộ gia đình, đoàn thể tham gia hoạt động văn hoá [5, 214].
Quá trình xây dựng gia đình văn hoá ở nớc ta hiện nay vừa tuân thủ theo định
hớng của nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, vừa chịu ảnh hởng sâu
sắc của điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nớc ta, trong đó có ảnh
hởng không nhỏ của t tởng Nho giáo, đặc biệt là t tởng về nhân lễ chính
danh của Khổng Tử.
Khái niệm gia đình văn hoá do Bộ văn hoá kết hợp với Trung ơng Hội
liên hiệp phụ nữ Việt Nam nêu ra ngày 12-5-1975, đợc hiểu nh là một mục
tiêu để phấn đấu xây dựng gia đình ở nớc ta. Gia đình văn hoá cũng đợc coi là
một kiểu gia đình mới khác với kiểu gia đình truyền thống, khác với kiểu gia
đình cũ trong các chế độ xã hội phong kiến, thực dân; bởi vì trong gia đình
hiện nay ngoài những yếu tố truyền thống đã đợc chọn lọc, kế thừa và phát
huy còn có những yếu tố mới của thời đại mới, nhất là những yếu tố mới nảy
sinh từ trong công cuộc đổi mới của chúng ta hiện nay.Trong một gia đình
ngày càng sâu đậm của t tởng Nho giáo nói chung, t tởng về nhân lễ
chính danh của Khổng Tử nói riêng, tín ngỡng thờ cúng tổ tiên vốn đã là nét
truyền thống lâu đời của dân tộc, của các gia đình ngời Việt, đến nay đợc Nho
hoá càng trở thành mối dây tinh thần liên kết, gắn bó mọi ngời trong gia đình
với nhau, tục lệ này đợc rải đều ra cả năm, nhất là những ngày giỗ mọi thành
viên dù có đi làm ở xa nhng cũng nhớ về hội tụ để bày tỏ lòng thành kính,
không quên cội nguồn, gốc rễ của mình. Ngày nay trong mọi gia đình ngời
Việt vẫn duy trì đều phong tục thờ cúng tổ tiên, mỗi gia đình thờng có một nơi
thờ tự đợc bố trí ở chỗ trang nghiêm nhất, sạch đẹp nhất. Ngày cúng giỗ tổ
tiên thực sự là ngày lễ (ngày hội tụ) của gia đình và họ hàng gần xa. Những
nghi thức lễ bái càng làm tăng thêm tinh thần tông tộc, thắt chặt thêm mối dây
huyết thống vừa có ý nghĩa tởng niệm ngời xa, vừa có ý nghĩa giáo dục đạo
hiếu uống nớc nhớ nguồn trong mỗi gia đình. Những năm gần đây, tình hình
kinh tế ổn định và phát triển, thu nhập của đại đa số nhân dân đợc nâng lên,
đời sống ngày một khá hơn, nên không ít các gia đình đã và đang thể hiện
lòng thành tín, nhớ tới cội nguồn bằng việc tu sửa nhà thờ, xây cất mồ mả.v.v.
Nếu lọc bỏ những hạn chế (lãng phí, ganh đuacủa các gia đình) trong lĩnh
vực này chúng ta sẽ thấy giá trị văn hoá của đời sống gia đình ở trong đó.
Hiếu vốn là nội dung của đạo đức gia đình truyền thống, đợc hình thành
từ rất xa xa và gắn liền với phong tục, tín ngỡng, thờ cúng tổ tiên, từ khi có
ảnh hởng t tởng nhân lễ chính danh của Khổng Tử đã phát triển lên với
nhiều nét mới đặc sắc, thậm chí nó còn phát triển vợt ra ngoài phạm vi gia
đình trở thành luân lý xã hội. Việc kính trọng ngời cao tuổi, kính trọng ông
13
bà, cha mẹ, anh em, những ngời có công sinh thành và dỡng dục là nét đẹp của
đạo hiếu dân tộc ta. Do đó, quá trình xây dựng gia đình văn hoá mới ở nớc ta
hiện nay cần phát huy, phát triển nội dung này. T tởng hiếu đễ của Khổng Tử
14
yêu thơng ấy còn sâu nặng hơn bội phần, không có cái gì đo đợc, sánh đợc.
Trong gia đình tất cả các thành viên quan hệ với nhau hoàn toàn trên cơ sở
tình cảm, tình yêu thơng lẫn nhau, họ coi nhẹ vật chất trong các mối quan hệ
ấy, họ thờng sống quen với câu ca ngời làm ra của chứ của không làm ra ngời, trong quan hệ làng xóm là bà con vì tình vì
nghĩa chứ không phải vì đĩa xôi đầy. Thực tế cho thấy, nhiều gia đình còn rất
nghèo khó, nhng nhờ có tình yêu thơng ấy mà họ đã vợt qua tất cả, họ đã vơn
lên và thành đạt trong cuộc sống. Nhng cũng cần phải lên án khi ở trong xã hội
ta hiện nay còn một số gia đình quá coi nặng về vật chất, làm phai nhạt, thậm
chí đánh mất đi tình cảm yêu thơng đó, mọi ngời trong gia đình đòi phân chia
tài sản, khi bố mẹ về già cần sự chăm sóc của các con thì con cái cũng lại
chia ra phần trách nhiệm, hoặc gia đình nào bố mẹ có nguồn thu cao thì lại
tranh giành nhau chăm sóc để lấy của hồi môn.v.v. Những hành vi đó đã
và đang làm kìm hãm phong trào xây dựng gia đình văn hoá của nớc ta hiện
nay.
T tởng nhân lễ chính danh của Khổng Tử còn toát lên đức tính cần
cù, siêng năng, chịu khó của con ngời; đức tính này không chỉ cần cho xã hội,
mà còn rất cần cho mỗi gia đình, sự kết hợp tốt đức tính này với các phẩm
chất khác của mỗi ngời sẽ làm tăng thêm của cải vật chất cho gia đình và xã
hội. Ngời phụ nữ nhất thiết phải thực hiện đợc công, dung, ngôn, hạnh, phải
luôn biết lấy chữ công làm đầu. Đấng nam nhi phải làm đợc và giám làm
những công việc nặng nhọc, khó khăn. Vợ chồng, con cái hoà thuận cùng tích
cực làm ăn, cùng nhau chăm lo xây dựng, phát triển kinh tế gia đình, tích cực
tham gia vào phong trào xoá đói giảm nghèo, xây dựng gia đình có ông bà,
cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo. Đặc biệt, những gia đình có thu nhập
thấp, đời sống còn nhiều khó khăn, nếu ngại việc, lời biếng, sợ khó, ngại khổ,
thích ăn ngon, mặc đẹp, thích nhà cao cửa rộng mà không chịu tìm việc làm
Hiện nay các tệ nạn xã hội đang có chiều hớng gia tăng, làm ảnh hởng
không nhỏ đến thuần phong mỹ tục, đến lối sống của mỗi ngời, mỗi gia đình
cũng nh toàn xã hội, làm đảo lộn sự bình yên, hạnh phúc của nhiều gia đình.
Thậm chí trong số đó có không ít gia đình khá giả, quan chức, hoặc gia đình
có địa vị, có uy tín trong xã hội. Kiểu mang mặc, trang điểmđang bị Tây
hóa, ngoại lai; cách c xử với ngời xung quanh, lối sống đua đòi, trụy lạc,
thực dụng, mất nhân tínhđang có xu hớng làm mất dần những nét đẹp truyền
thống của dân tộc bốn ngàn năm văn hiến. Cảnh chia ly của những ngời thân,
cảnh tù tội của những thành viên trong gia đình do không giữ đợc đức nhân, vi
phạm vào lễ nhạc, không thực hiện đợc chính danh, mà phạm vào nhiều tội lỗi
nh tham nhũng, đánh, giết nhau, đua xe trái phép.v.v. Những thực trạng đó
đang kìm hãm chặng đờng xây dựng gia đình văn hoá ở nớc ta. Theo nhận
định của phó giáo s Nguyễn Tài Th; Chỉ từ mấy thập kỷ nay, ở Việt Nam mới
xuất hiện danh từ bụi đời. Nhng bụi đời vốn là từ bụi nhà mà ra. Do đó,
việc giải quyết bụi đời cần phải đồng thời, nếu không muốn nói là bắt đầu từ
16
việc giải quyết bụi nhà. Vả lại, giải quyết bụi nhà khó, phức tạp và dai
dẳng hơn nhiều.[7, 42]. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần tăng cờng hơn nữa
công tác giáo dục, tuyên truyền vận động thực hiện nếp sống văn hoá, lối sống
có văn hoá tới mọi ngời, mọi tổ chức, mọi cơ quan, đơn vị, tạo ra môi trờng
văn hoá lành mạnh ở mọi lúc, mọi nơi.
Nh vậy, nghiên cứu t tởng về nhân lễ chính danh của Khổng Tử
chúng ta không chỉ thấy rõ giá trị của nó trong xã hội Trung Quốc cổ đại trớc
đây, mà còn thấy rõ vai trò không nhỏ của nó trong quá trình xây dựng xã hội
mới, xây dựng gia đình văn hoá ở nớc ta hiện nay. Nếu biết vận dụng linh
hoạt, sáng tạo t tởng ấy vào quá trình xây dựng gia đình văn hoá, thì sẽ thành
công và góp phần không nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn
X, Nxb CTQG, H.2006.
5. Đảng cộng sản Việt Nam,Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X, Nxb CTQG, H.2006.
6. Nguyễn Hữu Vui, lịch sử triết học , Nxb CTQG, H. 1995.
7. Nguyễn Tài Th, ảnh hởng của các hệ t tởng tôn giáo đối với con ngời
Việt Nam hiện nay, Nxb CTQG, H.1997.