Quan niệm giáo dục của khổng tử và một số ảnh hưởng của nó trong sự nghiệp giáo dục ở việt nam hiện nay9 - Pdf 40

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục là một trong những vấn đề quan trọng của các quốc gia trên
thế giới hiện nay. Bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
thời kì công nghệ thông tin, giáo dục càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ
hết.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, dù bất kể trong điều kiện như thế nào
thì nền giáo dục nước ta vẫn được quan tâm, đầu tư. Ngay sau khi cách mạng
tháng 8 – 1945 thành công, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký ngay sắc lệnh thành
lập “ Bình dân học vụ”, kêu gọi tất cả mọi người dân tham gia học tập để xoá
nạn mù chữ. Người xác định trong ba thứ giặc, giặc đói, giặc ngoại xâm thì
giặc dốt là nguy hiểm nhất, nếu không diệt được giặc dốt thì nguy cơ mất
nước ngày càng cao.
Ngày nay đất nước bước vào thời bình, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
ra sức xây dựng Việt Nam thành một quốc gia có nền kinh tế phát triển, chính
trị ổn định, quốc phòng an ninh vững mạnh, đưa đất nước thoát khỏi cảnh
nghèo nàn, lạc hậu và nhanh chóng bước vào hội nhập với nền kinh tế thế
giới. Ở Việt Nam hiện nay, vì thế giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phải đào
tạo ra những con người có tri thức, có trình độ, năng lực, có tài đức, vừa
“hồng”, vừa “chuyên”, đảm đương trách nhiệm, gánh vác công việc của đất
nước trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Muốn xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” [x;y], đó là những con
người có tri thức và tầm hiểu biết cao, có lòng nhiệt huyết, sức sáng tạo lớn.
Do đó, đẩy mạnh công tác giáo dục - đào tạo trong điều kiện đất nước bước
vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế có vị trí vô cùng
quan trọng. Đồng chí Đỗ Mười đã từng nhấn mạnh: “Muốn công nghiệp hoá,
hiện đại hoá thành công cần phát triển giáo dục mạnh, phát huy nguồn lực con
người, yếu tố của phát triển nhanh, bền vững” ” [x;y]. Đây cũng chính là
động lực, mục tiêu, sách lược của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua
và trong những năm sắp tới.

Tồn tại, phát triển hơn 2000 năm, những tư tưởng của Khổng Tử đã ảnh
hưởng mạnh mẽ trong đời sống của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong giáo
dục, thì tư tưởng giáo dục Khổng Tử đã góp phần không nhỏ cho việc hình
thành, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.
Thấy được giá trị của tư tưởng đó, nên em đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Quan niệm giáo dục của Khổng Tử và một số ảnh hưởng của nó trong sự
nghiệp giáo dục ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
2


Do sự hiểu biết còn hạn chế, và có nhiều thiếu sót trong quá trình làm bài,
em kính mong thầy cô góp ý, chỉ bảo để em hoàn thành tốt đề tài. Em xin
chân thành cảm ơn!
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Khổng Tử là một nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà chính trị lớn nên sách
vở bàn về ông rất nhiều, từ xưa đến nay ông luôn là đề tài nghiên cứu, tìm
hiểu của rất nhiều tác giả, vì trong tư tưởng của ông chứa nhiều tư tưởng tiến
bộ, có thể vận dụng tốt trong xã hội ngày nay.
Đó là nguồn tài liệu, kho tàng vô giá của nhân loại. Việc nghiên cứu để giữ
gìn, bảo tồn những giá trị tư tưởng đó là trách nhiệm, nghĩa vụ của chúng ta
ngày nay đối với ông.
Những tác phẩm đã bàn đến Khổng Tử mà em được tiếp cận:
- “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, NXB Văn học tái bản năm 2003;
- “Quan niệm của Nho giáo về giáo dục” của Hồ Trọng Hoài và Nguyễn
Thị Nga, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
- “Khổng Tử” của Lý Tường Hải, NXB văn hoá thông tin, Hà Nội, 2002.
- “Luận Ngữ” của Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn học Hà Nội, 1995.
- “Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện, NXB Thế giới Hà Nội,
1993...
Đã có các luận văn thạc sĩ triết học ở khoa Lý luận Chính trị, trường Đại

4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Chủ yếu qua tác phẩm Luận ngữ.
- Ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Khổng Tử đói với sự nghiệp giáo
dục, đào tạo con người mới ở Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
5.1. Cơ sở lý luận
- Trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về giáo dục.
- Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp chung là phép biện chứng duy vật.
- Các phương pháp cụ thể gồm: phân tích và tổng hơp, lô gíc và lịch sử,
thống nhất giữa lí luận và thực tiễn,..
6. Đóng góp của luận văn.
Luận văn góp phần giáo dục cho thế hệ trẻ ngày nay đạo đức, lối sống
và làm tài liệu tham khảo cho sự nghiệp giáo dục hiện nay ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn:

4


Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Những quan niệm cơ bản về giáo dục của Khổng Tử.
Chương 2: Ảnh hưởng của tư tuởng giáo dục Khổng Tử trong sự
nghiệp giáo dục hiện nay ở Việt Nam.
B. NỘI DUNG
Chương 1:
NHỮNG QUAN NIỆM CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ
1.1. Qúa trình hình thành tư tưởng triết học Khổng Tử.
1.1.1. Tình hình lịch sử Trung Quốc thời Xuân Thu.

thường. Tình trạng lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi ở thời kì
Xuân Thu biểu hiện ra qua các tệ nạn xã hội như “tiến ngôi việt vị”, chư hầu
chiếm dụng lễ nghĩa cuả Thiên Tử, đại phu chiếm dụng lễ nghĩa của chư
hầu... Trong thời kì loạn lạc này, đạo đế Vương đời trước mờ tối, người đời
say đắm về đường công lợi, không ai thiết nghĩ gì đến nhân nghĩa nữa. Cảnh
tôi giết vua, con hại cha, anh em vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy ra, thiên
hạ trở thành “vô đạo”, trật tự lễ nghĩa, cương thường xã hội đảo lộn.
Trước tình cảnh trên, người đời đã than rằng: “khắp thiên hạ đều loạn lạc
như nước đổ cuồn cuộn, làm thế nào cho thiên hạ trị?”(19; 303). Đó là ung
nhọt xã hội mà theo Khổng Tử, nó đã âm ỉ mục ruỗng từ lâu.
Chính điều kiện lịch sử xã hội ấy, đã đặt ra một vấn đề hết sức cơ bản
và cấp bách, buộc kẻ cầm quyền và các nhà tư tưởng phải giải quyết, làm thế
nào để cải biến được xã hội, giáo hoá con người, khiến cho xã hội bình trị. Và
cũng vì thế cục biến loạn, dân tình khổ sở, người trong nước mới lo tìm cách
sửa đổi để cứu vớt thiên hạ, các nhà tư tưởng thời kì này đã đưa ra nhiều
phương pháp “trị nước, an dân” mơ ước xây dựng một xã hội lí tưởng, tốt
đẹp.
Đứng trước bối cảnh xã hội như thế, trên cơ sở thuyết về bản tính thiện của
con người, về đức “trung hoà”, “trung dung”, là đạo lí của trời đất, Khổng Tử
đã san định đạo của Thánh hiền thành một học thuyết có hệ thống, lấy nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín mà dạy người, lấy cương thường mà hạn chế nhân dục, để
giữ trật tự trong xã cho bền vững. Phương pháp mà Khổng Tử dùng để trị
nước là “đức trị” và đề cao việc giáo hoá con người. Hệ thống những tư
tưởng, triết học của Khổng Tử ra đời với mong muốn lập lại trật tự kỉ cương
của đạo đức xã hội.
1.1.2. Vài nét về thân thế sự nghiệp của Khổng Tử.
Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, ông sinh vào mùa đông, tháng
10 năm Canh Tuất là năm thứ 21đời vua Linh Vương nhà Chu, tức là vào
6


có tiếng là nhún nhường. Người ta thường bảo rằng các bậc hiền triết hay xuất
hiện ở các gia đình quý phái tuy rằng không tất nhiên ở địa vị quyền quý. Vậy
mà, Khổng Khâu còn trẻ đã ham khoa sử học. Y sẽ trở nên một nhà hiền triết
sau này. Cho nên ta khuyên các con sau khi ta mất rồi, con nên theo Y mà học
7


tập” (29; 208). Qủa nhiên sau này, cả ba anh em Nam Cung Quát và Hà Kị
đều nhập môn họ Khổng để học lễ.
Cuộc đời Khổng Tử là những bước thăng trầm, vất vả, dù cho ông là
người uyên thâm, tài cao đức rộng, muốn mang đạo của mình ra giúp đời,
nhưng không một ông vua nào nhìn thấy để trọng dụng một con người đầy tài
năng đức độ này cả. Trải qua bao thăng trầm của cuộc sống, Khổng Tử đã
tổng kết lại cuộc đời của mình như sau: “Ta 15 tuổi để chí vào việc học đạo.
30 tuổi biết tự lập tức khắc kỉ phục lễ cứ theo điều lễ mà làm; 40 tuổi không
nghi hoặc nữa, tức có trí đức nên hiểu rõ ba đức: nhân, lễ, nghĩa; năm 50 tuổi
biết mệnh trời, biết được việc nào sức người làm được, việc nào sức người
không làm được; 60 tuổi đã biết theo mệnh trời; 70 tuổi theo lòng muốn của
mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý, không phải suy nghĩ gắng
sức mà hành động tự nhiên hợp đạo lý”(19;39). Đây là câu nói nổi tiếng nhất
trong “Luận ngữ”, là phản tỉnh và tổng kết của Khổng Tử là khắc hoạ chân
thực một đời trải qua bao sương gió vất vả gian truân của cuộc đời Ông, là tự
truyện của Khổng Tử nhưng đã trở thành triết học nhân sinh, kinh điển của
phái Nho gia.
Sau 14 năm lang thang, phiêu bạt qua nhiều nước tìm bậc minh quân
nhưng không thành giống như “con chó lạc mất chủ”(14; 15) - như cách nói
của ông - Khổng Tử lại quay về tiếp tục sự nghiệp “trồng người”. Tuy có mấy
lần ông ra làm quan nhưng dạy học vẫn là sự nghiệp lớn mà Khổng Tử theo
đuổi suốt cuộc đời. Với tấm lòng tâm huyết của người thầy, Khổng Tử lấy
giáo dục làm tối trọng đại. Trọng đại vì nó có mục đích lấp bằng cái hố phân

Việt Nam. Những tư tưởng giáo dục đó góp phần làm cho công tác dạy và học
ở một số nước phương Đông, cũng như quá trình giáo dục nhân cách cho con
người thu được nhiều thành quả quan trọng trong xu thế hội nhập phát triển
và toàn cầu hoá. Đặc biệt, khi mà dưới sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế
thị trường làm mất đi giá trị đạo đức truyền thống, giá trị nhân văn của dân
tộc.
Nội dung tư tưởng giáo dục Khổng Tử được thể hiện tập trung và rõ
nhất qua tác phẩm “Luận ngữ”. Sách “Luận ngữ” là những lời (ngữ) của
Khổng Tử đáp ứng cho đệ tử và người đương thời, và những lời các đệ tử nói
với nhau mà có thưa với Phu tử. Lúc bấy giờ, các đệ tử đều có những lời ghi
được. Khi Phu tử mất đi rồi, môn nhân cùng nhau góp lại mà bàn bạc (luận),
sắp xếp, vì vậy gọi là “Luận ngữ”. Đọc tác phẩm này, chúng ta thấy rõ quan
điểm về giáo dục của Khổng Tử, ông luôn đòi hỏi người học phải tích cực, có
ý thức học tập “ôn cũ biết mới”, “học đi đôi với hành”... Đó là những lời căn
dặn chân thành, đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc. Để có tri thức, không còn
con đường nào khác là học tập, tu dưỡng đạo đức. Luận ngữ còn là sự đối đáp
9


giữa Khổng Tử và học trò, thể hiện tình thầy trò đầm ấm mà gần gũi, tạo
không khí hăng say cho người học.
Ngày nay, Luận ngữ vẫn không mất đi ánh hào quang của nó, vẫn là một
viên ngọc quý trong kho tàng văn hoá Phương Đông. Ở nước ta vẫn tiếp tục
nghiên cứu để tiếp thu những tư tưởng hạt nhân tiến bộ, đặc biệt là tư tưởng
giáo dục Khổng Tử. Đó không chỉ là tài sản quý giá của dân tộc Trung Hoa,
mà còn là tài sản quý của cả nhân loại. Vì như sự đánh giá của Triệu Tấn - Tể
tướng đời Tống đã từng nói: “Chỉ cần nắm được một nửa kiến thức của Luận
ngữ là đã có đủ trình độ để làm quan cai trị thiên hạ”(26; 8).
Qua tác phẩm Luận ngữ, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về những tư tưởng
Khổng Tử, nhất là tư tưởng giáo dục, đó là tác phẩm chứa nhiều tư liệu có giá

Khổng Tử đặt niềm tin vào ý chí của trời, ông khuyên mọi người phục
tùng ý đó và coi việc hiểu biết mệnh trời như một điều kiện để trở thành một
con người hoàn thiện hay nói đúng hơn là người quân tử: “Bất tri mệnh vô dĩ
vi quân tử” – Không biết mệnh trời thì không phải là ngươì quân tử(19; 236).
Ngoài ra, tri mệnh tức là biết vui theo mệnh trời mà sinh hoạt. Muốn
biết được mệnh trời thì phải biết chế ngự được tư dục, không để cho tư dục
làm mờ ám lương tâm để cái tính thiện được tỏ rạng, để cứu lương tri lương
năng hoàn toàn sáng suốt mà suy tính rồi mới đem hết năng lực ra mà làm thì
lúc đó sẽ biết được mệnh trời. Nhưng tri mệnh là việc rất khó, đến Khổng Tử
mà phải đến 50 tuổi mới biết được mệnh trời: “Ngũ thập nhi tri thiên mệnh”
(19; 39), huống chi với người thường thì làm sao biết được, nên nhận thức thế
giới là một vấn đề khó khăn, không phải ai cũng có thể nhận thức được mà
phải là người có trí, đó chính là người quân tử.
Cùng với việc tin có trời, có số mệnh, Khổng Tử cũng tin có quỷ thần,
quỷ thần là cái khí linh thiêng ở trong trời đất, tuy mắt ta không nhìn thấy tai
ta không nghe nhưng vẫn thể được muôn vật, quỷ thần có xung quanh ta.
Chúng ta tế quỷ thần bằng sự thành kính và lòng thành tâm, không phải tế để
lấy cầu phúc cho riêng mình, sống trên đời phải chân thật nhân nghĩa thì sẽ
được quỷ thần chứng giám cho, không nên làm những điều gian ác, điều xấu
mà quỷ thần trừng phạt cho, mỗi người có công việc, nhiệm vụ khác nhau
phải lo cố gắng hoàn thành nghĩa vụ, bổn phận của mình. Đây là quan điểm
tiến bộ mang tính tích cực, khuyên bảo con người luôn làm điều thiện, tránh
xa những điều ác, phải thành tâm khi tế quỷ thần, đó là cái “đạo” của trời đất.
Khi Khổng Tử bị đau nặng, học trò là thầy Tử Lộ xin cầu nguyện thượng hạ
thần kỳ để thầy mình nhanh khỏi, ông nói: “Khâu đảo cửu hỹ” – Ăn ở phải
đạo thì chẳng phải cầu(19; 136). Vì vậy, nếu người nào mà sống bất nhân bất
nghĩa, làm những điều trái đạo thì cầu nguyện quanh năm cũng không ích gì,
11



giảm đi sức sống tiềm tàng của con người, ru ngủ những người dân trong ảo
tưởng số phận. Khổng Tử thể hiện rõ thái độ của mình, trong việc thoả hiệp
với giai cấp chủ nô, khi chế độ chiếm hữu nô lệ đã bước vào thời kì suy tàn.
12


Sống trong thời buổi loạn lạc, luân thường đạo lý đảo lộn nên tư tưởng Ông
cũng hoang mang dao động, có nhiều mâu thuẫn. Một mặt ông vừa đề cao
quyền lực của trời, cuộc đời con người là có số mệnh nhưng cũng có lúc ông
lại nhấn mạnh hoạt động của con người, giữ địa vị cao nhất trong cuộc sống.
Dù thế nào đi nữa thì con người vẫn giữ vị trí trung tâm trong triết học của
Khổng Tử. Do đó, khi nghiên cứu Khổng Tử không bằng tiêu chuẩn của hiện
đại mà phải đặt Khổng Tử trong bối cảnh lịch sử của thời đại thì mới có cái
nhìn đúng đắn chính xác.
1.1.3.2. Nhân sinh quan.
Cuộc đời Khổng Tử là một cuộc hành trình đầy gian nan, nếm trải bao
đắng cay hiểm nguy. Ông rong ruổi khắp nơi, bước chân của ông đã qua
nhiều nước, với hi vọng được đem cái đạo, chủ nghĩa tích cực cứu thế biến
đổi thời cuộc từ thời đại vô đạo thành thời đại hữu đạo. Nhưng hoài bão đó đã
không thành “Thiên hạ loạn từ lâu mà không một ông vua nào chịu theo lời
khuyên của thầy”(11; 13).
14 năm rong ruổi là 14 năm ông đi tìm bậc minh quân, nhưng chính
những chuyến lữ hành ngang dọc đời sống nhiều gian nan ấy, trải qua bao
thăng trầm, đã cho thấy rõ rệt một Khổng Tử đạo đức nhân cách bản lĩnh,
trung dũng và rất bền chí. Đó là phẩm chất cao quý chỉ có ở những người
từng trải, đặc biệt đó là người quân tử. Bản lĩnh của người quân tử được kết
hợp nên từ ba phẩm chất: nhân, lễ, chính danh. Ba phẩm chất này có quan hệ
mật thiết, tác động qua lại tạo nên tính cách của một con người hoàn hảo.
Theo quan niệm Khổng Tử, nhân là một phạm trù đạo đức, phẩm chất
có ý nghĩa bao trùm, đồng thời cũng thể hiện những tính cách cụ thể của con

thận mà không biết lễ thì nhút nhát, dũng cảm mà không biết lễ thì loạn, thẳng
thắn mà không biết lễ thì làm phật ý người khác”(24; 130). Khi nắm được
điều nhân rồi thì phải hiểu lễ, có như vậy với là người có đức nhân.
Chính danh hiểu theo nghĩa rộng là một yếu tố của phạm trù nhân,
đồng thời chính danh trong sự phát triển của học thuyết Nho giáo, nó biểu
hiện như mối liên hệ: nhân là nội dung, lễ là hình thức, chính danh là con
đường để đạt tới điều nhân.
Theo quan điểm của Khổng Tử, mỗi người có một tên gọi nhất định,
nếu tên gọi đó phù hợp với vai trò, vị trí của con người thì được gọi là chính
danh. “Chính danh” có nghĩa là một vật trong thực tại cần phải cho phù hợp
với cái danh nó mang”(34; 53). Còn nếu tên gọi đó không phù hợp thì gọi là
“dị danh”. Như vậy chính danh là yếu tố của người quân tử phải có trong xã
hội, để làm cho xã hội có trật tự kỉ cương. Chính danh là điều căn bản của
việc làm chính trị đưa xã hội “loạn” trở lại “trị’. Khổng Tử cho rằng việc
14


chính trị tốt hay dở là do ở người cầm quyền. Người cầm quyền biết theo điều
ngay chính để sửa đạo nhân thì việc gì cũng thành ra ngay thẳng.
Quý Khang Tử đã hỏi Khổng Tử về chính trị, Khổng Tử trả lời rằng:
“chính trị là chính đích – ngay thẳng, Ông lãnh đạo dân một cách chính đích
thì ai không dám chính đích” (19; 204). Khi một ông vua làm việc ngay thẳng
đúng với Vương đạo danh phận của mình thì dân chúng đều tin theo. Hành
động theo vương đạo thì ông vua mới thật là ông vua, ông vua vừa hợp với
thực vừa hợp với danh. Nếu như ông Vua không hành động theo vương đạo
thì ông vua không phải là ông vua nữa. Vì vậy, như trên đã nói trong xã hội
mỗi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm, bổn phận với danh ấy, danh
phận đã định rõ thì người nào có địa vị chính đáng của người ấy, trên ra trên,
dưới ra dưới trật tự phân minh, vua có phận vua, tôi có phận tôi: “Quân sử
thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung”(19; 65).

tiểu nhân học đạo tắc dị sử dã” – có nghĩa là người quân tử học đạo (lễ nhạc)
thì yêu người, còn tiểu nhân học đạo thì dễ sai khiến(19; 285). Cũng xuất phát
từ lợi ích và địa vị đẳng cấp xã hội, nên Khổng Tử cho rằng đối với dân việc
gì cần thiết thì cứ sai khiến không nên giảng giải, vì dân không có khả năng
hiểu ý nghĩa công việc mình làm “Dân khả sử do chi, bất khả sử tri chi”(19;
143). Như vậy, thực chất giáo dục đối tượng mà Khổng Tủ hướng đến chỉ là
người quân tử, còn người dân lao động và kẻ tiểu nhân thì có dạy cũng không
hiểu biết gì cả.
Khổng Tử còn đặt ra nền giáo dục toàn dân, ông đã bình dân hoá giáo
dục. Trước đây chỉ có con em quan lại quý tộc, vua chúa mới được cắp sách
tới trường. Trường học là của Nhà nước chỉ tính trên đầu ngón tay. Giờ thì
công việc học tập dành cho mọi đẳng cấp trong xã hội,
Khổng Tử đã đưa nền giáo dục từ trình độ dân trí thấp lên trình độ cao,
từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng... Đây là đóng góp to lớn của Không Tử cho
nền giáo dục nhân loại, mà ngày nay chúng ta đang học tập và làm theo.
Bên cạnh đó, Khổng Tử cũng là người đầu tiên, trong lịch sử nhân loại
thời kì cổ đại mở trường tư với quy mô lớn. Trường học của Khổng Tử luôn
mở rộng cửa đón tất cả mọi người vào học. Đối tượng giáo dục rộng lớn bất
kể người nào, chỉ cần có lòng ham muốn học hỏi, tìm hiểu tri thức, học đạo
làm người là ông nhận. Khổng Tử nói: Ai dưng lễ xin học thì từ một bó nem
trở lên ta chưa từng chê là ít không dạy”(19; 123). Học trò của Khổng Tử đến
từ nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội, trong đó có con em quý tộc: Mạnh
Ý Tử, Nam Cung, Kính Thúc, nhưng không ít có những hoàn cảnh khó khăn
như Nhan Hồi, Trọng Cung, Tử Lộ... Khổng Tử không phân biệt đẳng cấp để
giáo hoá, mà ông còn nhận giáo dục cả những kẻ biết hối cải, có ý thức tự
giác vươn lên. Vì vậy ông nghe có tiếng “Người làng Hỗ có tiếng ác nghịch
16


khó giảng điều phải cho họ nghe được, một thanh niên làng đó lại yết kiến để

Còn đứa hạ ngu đã bẩm thụ cái khí rất trọc, dẫu có dạy bảo thế nào cũng
không giỏi nên được, đó là loại khốn cùng mà khốn cùng cộng với không học
17


tập thì “bất di” là thoả đáng. Bậc thánh nhân mới sinh ra là biết thông suốt
mọi lẽ trên đời, còn kẻ hạ ngu thì có dạy bảo cũng không biết gì, nên tốt nhất
là không nên dạy học cho những kẻ đó làm gì. Đây là một hạn chế do lập
trường giai cấp nặng nề và là hạn chế của lịch sử, trong tư tưởng giáo dục của
Khổng Tử.
Khổng Tử chia thiên hạ ra làm nhiều hạng người: “Sinh ra đã biết là
bậc trên, học rồi mới biết là bậc thứ, gặp cảnh khốn nạn rồi mới chịu học, lại
còn thấp hơn nữa, thấp nhất là gặp cảnh khốn nạn rồi vẫn không chịu
học”(19; 277). Với việc chia xã hội ra làm nhiều hạng người như vậy, thể
hiện quan điểm lạc hậu cũng như bảo thủ, hạn chế của Khổng Tử.
Với tư tưởng “hữu giáo vô loài”, hướng tới giáo dục cho tất cả mọi
người, đối tượng dạy bảo là rộng lớn, nhưng có lúc Khổng Tử lại cho rằng:
“Trung nhân dĩ thượng khả dĩ ngữ thượng dã, trung nhân dĩ hạ bất khả dĩ ngữ
thượng dã” - Người ta có tư chất từ bậc trung trở lên thì có thể giảng đạo lí
cao xa, tư chất từ bậc trung trở xuống không thể giảng đạo lí cao xa cho
được”(19; 144). Đặc biệt, trong đối tượng giáo dục của ông, Khổng Tử còn
xem thường không có thiện cảm đối với sự giáo dục, dạy học cho người phụ
nữ: “Chỉ có hạng tì thiếp và tôi tớ là khó cư xử với họ, thân cận với họ thì
nhờn, xa cách với họ thì họ oán” – Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã.
Cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán(19; 297). Đây là, cái đáng trách của
Khổng Tử, thể hiện tư tưởng trọng nam khinh nữ, đó là cơ sở để giai cấp
phong kiến rất coi thường phụ nữ.
Qua đây, có thể thấy rõ những mâu thuẫn trong tư tưởng giáo dục của
Khổng Tử, dù thế nào đi chăng nữa ông vẫn bị ảnh hưởng bởi lập trường giai
cấp, vẫn phải bảo vệ cho chế độ mà ông đang sống. Khổng Tử chưa bao giờ

biết của mình ra giúp dân cứu nước, nhưng chí nguyện không thành, ông đành
quay về dạy học truyền bá tư tưởng thông qua học trò của mình, với hi vọng
học trò lĩnh hội và thực hiện được phần nào tư tưởng của ông.
Mục đích giáo dục của Khổng Tử chủ yếu là cải tạo nhân tính, hoàn
thành nhân cách, giáo dục chú trọng vào việc dưỡng thành nhân cách để mà
ứng dụng với đời, giáo dục là tu sửa cái đạo làm người. Cho nên Khổng Tử
cho rằng giáo dục có ý nghĩa trọng yếu phi thường, dù là người tài giỏi thông
minh đến đâu thì cũng phải được giáo dục “Nên bất cứ một cá nhân có thiên
tài lỗi lạc như thế nào nếu không để cho giáo dục uốn nắn thì cũng không thể
thành một nhân hoàn toàn được”(29; 257).
Mục đích giáo dục của Khổng Tử, ngoài hoàn thiện nhân cách, bồi
dưỡng đạo đức, dạy cho học trò giữ cái tâm cho trung chính, việc làm cho
thành thực thì Khổng Tử mong muốn việc học còn là để giúp đời phục vụ cho
19


cuộc sống “cổ chi học giả vị kỉ, kim chi học giả vị nhân” - Đời xưa vì mình
mà học, còn đời nay vì người mà học(19; 242).
Người xưa vì mình mà học là để được thăng quan tiến chức, để được
hưởng bổng lộc của nhà vua, chỉ nghĩ về cái lợi trước mắt cho bản thân mình,
còn đời nay vì người mà học, học để ứng dụng cho có ích với đời, với quốc
gia xã hội. Đó là quan niệm “Học dĩ ứng dụng”, học phải có mục đích rõ ràng
ích dụng trong cuộc sống. Vậy nên Khổng Tử mới dạy “Đọc ba trăm thiên
Kinh Thi, giao cho việc chính trị mà làm không nên, sai đi sứ bốn phương mà
khônh biết ứng đối như vậy học nhiều để làm gì?”(19; 214). Do đó, khát khao
mong muốn lớn nhất của Khổng Tử là được mang cái đạo của mình ra dạy
người với mục đích: người học hiểu được đạo, hiểu đời để: “Tu thân - tề gia trị quốc – bình thiên hạ” và đây cũng chính là con đường đi của người quân
tử.
Người quân tử muốn trở thành người có ích cho xã hội, xây dựng một
xã hội tốt đẹp hoà đồng, thì trước hết phải tu thân. Ở đời tu thân là quan trọng

4) Nói năng phải trung thực.
5) Tướng mạo phải trang nghiêm.
6) Làm việc trọng sự kính nể.
7) Điều gì còn nghi hoặc thì phải xem xét, phải hỏi han cho rõ ngọn
nguồn của sự việc hay vấn đề.
8) Khi tức giận phải nhớ đến hậu hoạ.
9) Khi thấy lợi phải nghĩ đến điều nghĩa.
Đó là mục đích giáo dục của Khổng Tử, mong muốn của ông là đào tạo
được nên những con người có phẩm chất tốt đẹp như vậy, để xây dựng một xã
hội lý tưởng từ “vô đạo” thành “hữu đạo”, đó là một xã hội được xây dựng
trên nền tảng ‘đức trị” nặng đức mà nhẹ hình.
Quan điểm giáo dục của Khổng Tử dựa trên cơ sở học thuyết về đạo
nhân, nên ông chủ trương giáo dục với mục đích là “Tiên học lễ, hậu học
văn”. Lễ rất cần cho tu thân, trước khi đi học con người phải tu thân rèn luyện
nhân cách, tu dưỡng đạo đức giữ cái tâm cho chính, cái ý cho thành, tâm đã
chính, ý đã thành làm cho cái minh đức mình thành ra mẫn nhuệ, sau khi rèn
luyện song đạo đức, thì mới bắt đầu học tập về văn hoá. Nói tóm lại “Tiên học
lễ, hậu học văn” là trước hết phải giáo dục ý thức, sao đó mới giáo dục tri
thức, nên ông thưòng khuyên học trò “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn
nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực tắc tắc dĩ học văn” –
Con em ở trong nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài kính nhường bậc
huynh trưởng, thận trọng lời nói mà thành thực, yêu khắp mọi người mà gần
21


gũi người nhân đức, làm được như vậy rồi mà còn dư sức sẽ học văn hoá tức
học Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch...”(19; 28).
Với Khổng Tử, người quân tử học đạo thánh hiền để sửa mình cho
thành người có phẩm giá tôn quý, dẫu bần cùng cũng không làm điều trái đạo.
Nên mục tiêu xây dựng người quân tử của ông là phải có tri thức. Người quân

Tóm lại mục đích giáo dục của Khổng Tử là nhằm đào tạo ra cho xã
hội con người có đủ đức đủ tài, đem tài trí và sức lực của mình ra giúp đời,
dám xả thân vì nghĩa lớn. Con người mà tài đức song toàn Khổng Tử hướng
đến là bậc quân tử có nhân cách cao thượng, tâm địa rất thánh hiền sống vì
điều nghĩa. Đó là người mà cụ Phan Bội Châu cho là rất tốt “Bởi vì người ấy
đạo đức đã cao, tài năng cũng giỏi, nhân cách lại rất hoàn toàn, nếu đem ra
gánh vác việc xã hội thời đáng làm một người chủ nên có chữ quân, quân có
nghĩa là ông chủ. Nếu đem ra gánh vác việc loài người thời càng cung cấp
được việc cho loài người, cũng như con thờ cha, nên có chữ “tử” – “tử” nghĩa
là con. Góp cả hai ý nghĩa như trên mới đặt tên bằng quân tử”(3; 28). Với các
mục đích giáo dục trên, có thể nói đó là một nền triết học giáo dục hoàn bị và
đó cũng là mong ước của Khổng Tử. Tuy còn có chỗ hạn chế nhưng đó thực
sự là những giá trị lịch sử có ý nghĩa đối với việc giáo dục hiện nay của nhân
loại.
1.2.1.3. Nội dung giáo dục
Khổng Tử là một nhà tư tưởng lớn, nhà triết học uyên thâm nên nội
dung giáo dục của ông rất phong phú và đa dạng, mục đích giáo dục lớn nhất
của ông là nhằm đào tạo ra “Một mẫu người lý tưởng, có đủ tài và đức, trí và
lực, văn và chất, một lòng trung thành phụng sự chế độ, là riường cột của chế
độ xã hội”(2; 39). Nên nội dung giáo dục chủ yếu của Khổng Tử là dạy về
đạo lý làm người “Để chí vào học, giữ gìn đức hạnh, nương theo điều nhân,
vui với lục nghệ tức là lễ, nhạc, xạ, ngự, thư - viết chữ, số - toán pháp”(19;
123).
Giáo trình cơ bản Khổng Tử dùng để khai sáng dạy học cho học trò, về
kiến thức là Tứ Thư, Ngũ Kinh. Tứ Thư là bốn bộ sách gồm: Luận ngữ, Đại
học, Trung dung, Mạnh tử. Do nhu cầu dạy học, Khổng Tử chỉnh đốn các
sách Thi, Thư, Lễ, Nhạc và viết cuốn Xuân Thu sau tập hợp lại thành cuốn
Ngũ Kinh, được coi là kinh điển của Nho giáo gồm Dịch, Thi, Thư, Lễ, Xuân
Thu.
Kinh Dịch: là một cẩm nang về sự tiên đoán có từ thời nhà Chu, nhá sách

công tác giáo dục, không chỉ đơn thuần là truyền thụ tri thức cho học trò, mà
còn xem việc giáo dục là phương tiện trọng yếu để thực hiện rộng rãi đạo trị
quốc. Khi có người hỏi vì sao không ra làm quan, Khổng Tử trả lời rằng: “có
hiếu với cha mẹ, hoà thuận với anh em, đưa phong khí đó vào trong chính trị,
ấy cũng là tham gia chính trị rồi, tại sao cứ phải ra làm quan?”(19; 50).
Những kiến thức mà ông dạy học trò đều rất thiết thực, gắn liền với cuộc sống
hằng ngày, Thi để dạy về Chí, Thư để dạy về việc, Lễ để dạy về đức hạnh,
Nhạc để dạy về hoà, Dịch để dạy về âm dương, Xuân Thu để dạy về danh
24


phận. Trước Khổng Tử nền giáo dục về lục nghệ chỉ được thi hành cho một
nhóm người quý tộc, đến Khổng Tử là người có công đầu tiên đã dùng lục
nghệ để dạy cho đại chúng.
Bên cạnh việc dùng Tứ Thư, Ngũ Kinh để dạy kiến thức cho học trò thì
Khổng Tử cũng đặc biệt quan tâm đến giáo dục, dạy đạo đức cho học trò. Có
thể khẳng định nội dung đạo đức là nội dung quan trọng nhất trong tư tưởng
giáo dục của Khổng Tử. Vì con đường và phương pháp trị nước của ông là
bằng “đức trị”. Nên khi giảng dạy ông đã giáo huấn, dạy cho đệ tử của mình
những phẩm chất quan trọng nhất của con người, về Tam Cương gồm quân
thần, phụ tử, phu thê là mối quan hệ giữa vua – tôi, cha – con, vợ - chồng.
Đối với quan hệ Vua – Tôi, là vua thì phải biết lo cho cuộc sống của
dân, bảo đảm cho dân được sống ấm no, xây dựng lực lượng hùng hậu và phải
lấy được niềm tin nơi dân. Dân thì đối với vua xem như là cha mẹ mình, là bề
tôi luôn phải trung thành với vua, làm việc hết mình để phục vụ cho Vua, suốt
đời tôn kính và tôn thờ Vua đó là nghĩa vụ và trách nhiệm của bề tôi “Quân
sử thần, thần sự quân, như chi hà? Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung”
– Vua khiến bề tôi, bề tôi phải thờ vua như thế nào? Vua khiến bề tôi phải giữ
lễ, bề tôi thờ vua phải trung hết lòng”(19; 65).
Trong qua hệ cha – con, ông đánh giá cao chữ “hiếu” của người con đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status