PHẠM TRÙ HÌNH THÁI KINH TẾ- XÃ HỘI TRONG LỜI TỰA
“GÓP PHẦN PHÊ PHÁN KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ” CỦA MÁC. Ý
NGHĨA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC CỦA ĐẢNG TA
HIỆN NAY
1. Khái quát chung về tác phẩm
1.1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Lời tựa tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” được Mác
viết từ tháng 8 năm 1858 đến tháng 02 năm1859, được xuất bản và phát hành
thánh 6 năm 1859. Tuy chỉ có 5 trang song là một văn kiện cực kỳ quan trọng trong
quá trình hình thành, phát triển triết học Mác. Trong đó Mác đã trình bày khái quát
nhưng rất rõ ràng quan niệm về chủ nghĩa duy vật lịch sử - một sự khái quát thiên
tài mà toàn bộ triết học trước đó chưa đạt tới được. Các quan niệm đó được Mác coi
là kim chỉ nam cho mọi sự nghiên cứu sau này của mình. Ông viết: “Kết quả chung
mà tôi đã đạt được và đã trở thành kim chỉ nam cho mọi sự nghiên cứu sau này của
tôi”1. ở đó chủ nghĩa duy vật đã được áp dụng một cách triệt để vào lĩnh vực xã hội,
làm cho triết học Mác trở nên cách mạng, khoa học, triệt để và hoàn bị nhất trong
lịch sử tư tưởng triết học.
Mặt khác, những năm 50 của thế kỷ XIX, phong trào công nhân phát triển
rất cao, chuyển dần từ tự phát sang tự giác. Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản
để giành dân chủ có xu hướng chuyển thành đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội và
đã xuất hiện các tổ chức cộng sản. Trong lúc đó, giai cấp tư sản đặc biệt là những
nhà kinh tế học tư sản đưa ra những luận điểm sai lầm về kinh tế, họ đang tìm
mọi cách biện hộ cho địa vị của giai cấp tư sản và bảo vệ sự tồn tại vĩnh viễn cho
chế độ tư hữu. Họ cho rằng: tư hữu là thuộc tính vốn có của con người, sự tồn tại
1
C.M¸c vµ Ph. ¡ngghen, Toµn tËp, tËp 13, Nxb CTQG, H.1993, tr.14
của những người vô sản (những người không có của) là hợp lý, là lẽ tự nhiên.
Trước tình hình đó, đòi hỏi phải có một thế giới quan khoa học soi đường cho
của mình, trong đó trình bày kết quả nghiên cứu, chủ yếu là những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Phần kết luận: Mác khẳng định kết quả nghiên cứu là khách quan, nghiêm
túc, trung thực. Đúng như Mác đã khẳng định trong tác phẩm của mình: “Các quan
điểm của tôi, dù có bị người ta xét đoán như thế nào chăng nữa và dù chúng có ít nhất
trí như thế nào chăng nữa với những thiên kiến tự tư tự lợi của các giai cấp thống trị thì chúng vẫn là kết quả của những sự nghiên cứu trung thực trong nhiều năm”2.
Lời tựa tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” được in
trong: C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà Nội 1993 (từ
trang 13 đến trang 18).
2. Nội dung triết học trong tác phẩm:
Nội dung cơ bản trong lời tựa “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính
trị” đó là học thuyết về hình thái kinh tế- xã hội.
2.1. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu xã hội của Mác
Để hiểu và thấy được giá trị của tác phẩm chúng ta xem phương pháp
tiếp cận nghiên cứu xã hội của Mác. Đó là, Mác nghiên cứu xã hội từ sản xuất
vật chất và phương thức sản xuất. Trước đó trong tác phẩm “Hệ tư tưởng
Đức” Mác đã khẳng định vai trò quyết định của sản xuất vật chất với các lĩnh
vực khác của đời sống xã hội, vai trò của phương thức sản xuất với sự tồn tại,
phát triển của lịch sử xã hội. Mác viết: “Hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản
xuất trong những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản
thân đời sống vật chất” và “Phải xuất phát từ chính ngay sự sản xuất vật chất
2
C.M¸c vµ Ph. ¡ngghen, Toµn tËp, tËp 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 18.
3
ra đời sống trực tiếp để xem xét quá trình hiện thực của sản xuất và hiểu hình
thức giao tiếp gắn liền với phương thức sản xuất ấy sản sinh ra- tức là xã hội
4
sinh hoạt vật chất xã hội, chứ không phải xuất phát từ hiện tượng tinh thần. Từ
phương pháp luận trên, Mác nghiên cứu và giải phẫu “xã hội công dân” theo
cách gọi của Hêghen (tức xã hội tư bản chủ nghĩa) và đi đến khái quát lý luận
khoa học về hình thái kinh tế - xã hội. Ông viết: “Phải giải thích ý thức ấy bằng
những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực
lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội” 6. Như vậy, với quan
điểm tiếp cận “giải phẫu” xã hội bằng chính đời sống vật chất, bằng lực lượng
sản xuất xã hội, Mác là người đầu tiên trong lịch sử tư tưởng triết học đề cập tới,
ông đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn chủ nghĩa duy vật biện chứng vào
nghiên cứu xã hội, làm cho triết học Mác trở nên cách mạng, khoa học và hoàn
bị.
Giải thích vấn đề này Ăngghen đã cho rằng: phải lựa chọn phương pháp
nào để nghiên cứu hoặc là phương pháp của Hêghen hoặc phương pháp siêu
hình. Theo ông phương pháp siêu hình của Cantơ bị Hêghen đập tan rồi, nhưng
chính phương pháp của Hêghen lại không dùng được. Vậy, mà chưa ai dám đảm
đương nhiệm vụ lớn lao là phê phán phương pháp Hêghen một cách triệt để. Ông
nhận xét: Mác là người duy nhất có khả năng đảm đương công việc ấy, phê phán
Hêghen một cách toàn diện và triệt để, tìm ra “hạt nhân hợp lý” để khôi phục lại
phép biện chứng, giải thoát nó ra khỏi cái vỏ duy tâm thần bí.
2.2. Phạm trù hình thái kinh tế- xã hội
Trong lời tựa tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, mặc
dù chưa đưa ra một định nghĩa đầy đủ về hình thái kinh tế- xã hội, về lực lượng
sản xuất, về quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng... nhưng Mác
đã chỉ ra cho chúng ta thấy được những nội dung cơ bản, cốt lõi nhất, chỉ ra được
nội hàm của các vấn đề được đặt ra như: thế nào là hình thái kinh tế- xã hội, kết
cấu của hình thái kinh tế- xã hội, mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố cấu
6
rng, ton b nhng quan h sn xut ú hp thnh mt c cu kinh t ca xó
7
C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 14- tr 15.
6
hội, tức là cơ sở hiện thực (cơ sở hạ tầng) và trên cơ sở hiện thực đó sẽ được tạo
dựng nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với cơ sở hiện thực đó.
Trong tác phẩm: “Những “người bạn dân” là như thế nào và họ đấu tranh
chống những người dân chủ xã hội ra sao?” Lênin chỉ rõ phương pháp khoa học
và cách mạng của Mác trong xây dựng phạm trù hình thái kinh tế- xã hội: “Trong
các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, ông đã làm nổi bật riêng lĩnh vực kinh
tế, bằng cách là trong tất cả mọi quan hệ xã hội ông đã làm nổi bật riêng quan hệ
sản xuất. Coi đó là những quan hệ cơ bản ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ
khác”8. Ông khẳng định: “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan
hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng
sản xuất thì người ta mới có cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của các
hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên. Và dĩ nhiên không có
một quan điểm như thế thì không thể có một khoa học xã hội được”9.
Như vậy, Mác đã xem quan hệ sản xuất là “cái sườn” của toàn bộ cơ thể
xã hội, nó phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nhất định
của mỗi hình thái kinh tế- xã hội và có một kiến trúc thượng tầng được thiết lập
tương ứng với những quan hệ sản xuất ấy. Khi bàn về vấn đề này Lênin đã viết:
“Nhưng điều chủ yếu là ở chỗ Mác không thoả mãn với cái sườn đó, không chỉ
dừng lại ở cái “lý luận kinh tế” hiểu theo nghĩa thông thường của danh từ mà
thôi: là ở chỗ tuy rằng Mác chỉ dùng độc có những quan hệ sản xuất để giải thích
cơ cấu và sự phát triển của một hình thái xã hội nhất định, song ở mọi nơi và mọi
tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội
cũ”13. Theo Mác, xã hội loài người luôn luôn vận động phát triển không ngừng,
trong sự vận động phát triển đó sẽ diễn ra sự thay thế nhau của các hình thái kinh
tế xã hội. Một hình thái kinh tế xã hội lỗi thời, lạc hậu sẽ bị diệt vong và được
thay thế bằng một hình thái kinh tế xã hội mới tiến bộ hơn. Nhưng hình thái kinh
tế xã hội cũ chỉ bị diệt vong khi lực lượng sản xuất trong xã hội đó đã phát triển,
tạo điều kiện chín muồi cho sự ra đời của những quan hệ sản xuất mới cao hơn.
Sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội là khách quan, không phụ thuộc
C.M¸c vµ Ph. ¡ngghen, Toµn tËp, tËp 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 15.
TriÕt häc M¸c- Lªnin, TËp 3, Nxb Q§ND, Hµ Néi 1995, tr 54.
13
C.M¸c vµ Ph. ¡ngghen, Toµn tËp, tËp 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 15- tr 16.
11
12
8
vào ý muốn chủ quan của con người, mà nó phụ thuộc vào sự phát triển của lực
lượng sản xuất, do lực lượng sản xuất quyết định.
Theo Mác xã hội cũ chưa mất đi khi tiền đề vật chất của nó chưa mất đi,
xã hội mới chưa ra đời khi tiền đề vật chất của nó chưa xuất hiện. Mác viết: “Từ
chỗ là hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở
thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một
cuộc cách mạng xã hội”14. Ông viết tiếp: “Không một hình thái xã hội nào diệt
vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa
bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới,
cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất
của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ”15.
xuất trong lòng xã hội tư sản sẽ tạo điều kiện vật chất để xoá bỏ quan hệ sản
xuất, thiết lập quan hệ sản xuất mới- quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Nói
cách khác, Mác đã dự báo rằng hình thái kinh tế- xã hội tư bản chủ nghĩa nhất
định sẽ bị diệt vong do chính sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất
ở ngay trong lòng xã hội đó và sự diệt vong là không thể tránh khỏi. Mặt khác
chính giai cấp tư sản đã tạo ra những cơ sở vật chất để tự thủ tiêu mình. Đây là
sự phát hiện thiên tài của Mác. Sự phát hiện đó là cơ sở khoa học quan trọng để
học thuyết hình thái kinh tế- xã hội của Mác ra đời và tiếp tục có những bước
phát triển hoàn thiện hơn.
Trên đây là những luận chứng ban đầu để sau này Mác khẳng định sự phát
triển của những hình thái kinh tế- xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên. Mác
viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là một quá trình
lịch sử tự nhiên”18.
2.3. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất
Đây là một quy luật cơ bản chi phối sự vận động, phát triển của các hình
thái kinh tế- xã hội được Mác khái quát trong lời tựa. Mác khẳng định sự phụ
thuộc của quan hệ sản xuất vào lực lượng sản xuất, mối quan hệ phụ thuộc đó
không thể đảo lộn. Nội dung khái quát đó của Mác cho đến nay vẫn chưa thể
thay thế. Mác viết: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực
lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện
có, hay- đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất đó- mâu thuẫn
với những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn
18
C.M¸c vµ Ph. ¡ngghen, Toµn tËp, tËp 23, Nxb CTQG, H.1993, tr 21.
10
11
lc hu hn hoc tiờn tin hn cng s kỡm hóm s phỏt trin ca lc lng sn
xut. Khi mõu thun gia lc lng sn xut v quan h sn xut ó bc l gay
gt, ũi hi phi gii quyt nhng con ngi khụng phỏt hin c, cng nh khi
mõu thun ó c phỏt hin m khụng c gii quyt hoc gii quyt mt cỏch
sai lm, ch quan duy ý chớ...thì tác động kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở
thành nhân tố phá hoại đối với lực lợng sản xuất.
Nh vy, trong li ta Gúp phn phờ phỏn khoa kinh t chớnh tr, Mỏc
ó khỏi quỏt tng i y ni dung quy lut v s phự hp ca quan h sn
xut vi trỡnh phỏt trin ca lc lng sn xut.
2.4. Mi quan h bin chng gia c s h tng v kin trỳc thng
tng
Ni dung khỏi quỏt lý lun v hỡnh thỏi kinh t xó hi Mỏc khụng ch lm
rừ quy lut quan h sn xut phự hp vi trỡnh phỏt trin ca lc lng sn xut
m cũn lm rừ quy lut c s h tng quyt nh kin trỳc thng tng - mt trong
hai quy lut c bn chi phi s vn ng phỏt trin ca xó hi.
Mỏc vit: Ton b nhng quan h sn xut y hp thnh c cu kinh t
ca xó hi, tc l cỏi c s hin thc trờn ú dng lờn mt kin trỳc thng tng
phỏp lý, chớnh tr v nhng hỡnh thỏi ý thc xó hi nht nh tng ng vi c s
hin thc ú20.
Mc dự Mỏc cha gi l c s h tng m ụng gi l c s hin thc, c
s hin thc y v thc cht nú ó bao hm ni dung rt c bn sau ny ch
ngha duy vt lch s khỏi quỏt thnh c s h tng. Mỏc ó tru tng hoỏ
tỏch quan h xó hi thnh hai loi quan h ú l: quan h v vt cht v quan h
khỏc (nh quan h v chớnh tr, t tng, nh nc, phỏp lut, tụn giỏo...). Trc
ú cha cú nh trit hc no tỏch ra thnh hai quan h ú. Khng T cng bn
20
21
22
Giáo trình Triết học Mác- Lênin, Nxb CTQG, Hà Nội 1999, tr 448- tr 449.
V.I.Lênin,Toàn tập, tập 1, Nxb TB, M.1974, tr.219
13
được thể hiện ở chỗ: nếu cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn sự thay đổi
kiến trúc thượng tầng cũng sẽ diễn ra. Quá trình đó thực hiện không chỉ trong
giai đoạn chuyển tiếp có tính chất cách mạng- từ xã hội này sang xã hội khácmà còn được thực hiện ngay trong bản thân mỗi hình thái xã hội. Mác chỉ rõ:
“Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo
lộn ít nhiều nhanh chóng”23. Theo Mác khi cơ sở kinh tế thay đổi thì kiến trúc
thượng tầng đồ sộ ấy cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng, nó không thể thay
đổi tức thì mà có bộ phận thay đổi ngay (như nhà nước, pháp luật, hệ tư tưởng
thống trị...), có bộ phận còn tồn tại dai dẳng (như tâm lý, phong tục tập quán...).
Mặt khác, Mác đã phê phán quan điểm sai lầm phản khoa học của chủ
nghĩa duy tâm- xem xét sự vận động biến đổi của cơ sở kinh tế trên cơ sở và chịu
sự quyết định của sự biến đổi từ ý thức tư tưởng. Quan niệm duy tâm giải thích
sự vận động của đời sống kinh tế- xã hội bằng những nguyên nhân thuộc về vai
trò của nhà nước và pháp quyền. Ngược lại, Mác đã chỉ ra vai trò quyết định của
cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng. Mác viết: “Không chỉ lấy bản thân
những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy cái gọi
là sự phát triển chung của tinh thần của con người, để giải thích những quan hệ
và hình thái đó, mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình thái đó bắt
nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất”24.
Mác còn cho rằng đấu tranh giải quyết mâu thuẫn nội tại của “xã hội công
dân” không thể bằng các yếu tố tinh thần tư tưởng mà bằng chính các yếu tố vật
chất. Mác chỉ rõ: “Khi xét những cuộc đảo lộn ấy, bao giờ cũng cần phân biệt
một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại ấy. Trái lại, phải giải
thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột
hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội” 27.
Luận điểm này của Mác đã bác bỏ quan niệm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm
muốn đi tìm nguồn gốc của ý thức tư tưởng trong chính bản thân của ý thức tư
tưởng, coi tinh thần tư tưởng là nguồn gốc của mọi hiện tượng xã hội, quyết định
sự vận động phát triển của xã hội và cho rằng các hình thái ý thức xã hội tách rời
C.M¸c vµ Ph. ¡ngghen, Toµn tËp, tËp 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 15.
C.M¸c vµ Ph. ¡ngghen, Toµn tËp, tËp 3, Nxb CTQG, H.1995, tr 66- tr 67.
27
C.M¸c vµ Ph. ¡ngghen, Toµn tËp, tËp 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 15.
25
26
15
cơ sở kinh tế- xã hội hiện thực. Theo Mác muốn tìm hiểu hay giải thích các hiện
tượng ý thức tư tưởng phải đi từ đời sống hiện thực, từ cơ sở kinh tế, từ các quan
hệ vật chất trong xã hội. Bởi vì, ý thức của con người nói riêng, ý thức xã hội nói
chung có quan hệ chặt chẽ với tồn tại xã hội, ý thức xã hội chỉ là sự phản ánh tồn
tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định. Chính vì vậy, Mác đã khẳng định:
“Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã
hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết
định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”28.
Theo Mác quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, đây là
hai phạm trù rất cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ hai mặt có
quan hệ chặt chẽ với nhau- đời sống vật chất và đời sống tinh thần xã hội, được
Mác khái quát và làm rõ trên tinh thần biện chứng duy vật. Mác cho rằng: tồn tại
xã hội là toàn bộ những điều kiện sinh hoạt vật chất xã hội. Trong quan hệ với ý
kiện vật chất cần thiết để giải quyết nhiệm vụ ấy đã có rồi hoặc chí ít cũng đang
trong quá trình hình thành.
Trên cơ sở đó Mác chỉ rõ: sự phát triển của xã hội loài người đã và đang
trải qua các hình thái kinh tế- xã hội: cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ,
phong kiến và tư bản chủ nghĩa. Mác viết: “Về đại thể, có thể coi các phương
thức sản xuất Châu á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến
triển dần dần của hình thái kinh tế xã hội” 30. Đồng thời Mác cũng khẳng định với
quan hệ sản xuất tư sản - hình thức đối kháng cuối cùng của quá trình sản xuất
xã hội và những lực lượng sản xuất phát triển trong lòng xã hội tư bản cũng tạo
ra điều kiện vật chất giải quyết đối kháng đó. Điều đó khẳng định tính tất yếu
diệt vong của xã hội tư bản chủ nghĩa và sự ra đời của xã hội cộng sản chủ nghĩa
cũng là một tất yếu lịch sử. Mác viết: “Với hình thái xã hội tư sản, thời kỳ tiền sử
của xã hội loài người đang kết thúc”31.
C.M¸c vµ Ph. ¡ngghen, Toµn tËp, tËp 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 15- tr 16.
C.M¸c vµ Ph. ¡ngghen, Toµn tËp, tËp 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 16.
31
C.M¸c vµ Ph. ¡ngghen, Toµn tËp, tËp 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 16.
29
30
17
Tóm lại, những quan niệm về chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác trong lời
tựa “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, đây là một thành quả vĩ đại của
tư tưởng khoa học mà chỉ đứng trên lập trường của giai cấp vô sản mới có thể đạt
tới được, bởi vì nó đưa tới kết luận có tính chất cách mạng về sự sụp đổ tất yếu của
chủ nghĩa tư bản và thắng lợi tất yếu của giai cấp vô sản.
3. ý nghĩa của tác phẩm
Như vậy, mặc dù mới chỉ là sự khái quát những kết quả nghiên cứu ban
Kt qu nghiờn cu ca Mỏc th hin s thiờn ti ca ụng d oỏn v xó hi
tng lai- xó hi cng sn ch ngha- tớnh cht nghiờm tỳc trong khoa hc, nhng
lun chng cú c s khoa hc ó ch ra quan h sn xut t bn ch ngha nht nh
s tr thnh xing xớch i vi lc lng sn xut v cỏch mng xó hi sm hay
mun nht nh s n ra. ỳng nh Mỏc ó khng nh trong li ta Gúp phn phờ
phỏn khoa kinh t chớnh trca mỡnh: Cỏc quan im ca tụi, dự cú b ngi ta xột
oỏn nh th no chng na v dự chỳng cú ớt nht trớ nh th no chng na vi
nhng thiờn kin t t t li ca cỏc giai cp thng tr - thỡ chỳng vn l kt qu ca
nhng s nghiờn cu trung thc trong nhiu nm32.
Nhng t tng trong li ta Gúp phn phờ phỏn khoa kinh t chớnh tr
ca Mỏc, c bit l hc thuyt v hỡnh thỏi kinh t- xó hi l c s ng ta a ra
ng li i vi s nghip i mi t nc.
Chỳng ta khng nh rng: hc thuyt hỡnh thỏi kinh t- xó hi l c s khoa hc
ng ta a ra ng li i mi ton din t nc v gii quyt thnh cụng nhng vn
t ra trong quỏ trỡnh xõy dng ch ngha xó hi. Biu hin trờn cỏc ni dung c bn sau
õy:
32
C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 18.
19
Mt l, hc thuyt hỡnh thỏi kinh t- xó hi l c s khoa hc nhn thc c
trng i lờn ch ngha xó hi nc ta.
Nc ta i lờn ch ngha xó hi b qua vic xỏc lp quan h sn xut thng tr
v kin trỳc thng tng chớnh tr t bn ch ngha. Ch chớnh tr ca chỳng ta l
ch chớnh tr xó hi ch ngha, chỳng ta ch b qua ch t bn ch ngha, cũn
thnh qu c s vt cht k thut, khoa hc cụng ngh, trỡnh qun lý, iu hnh sn
vọng, quyết tâm và ý chí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đây là sự lựa chọn
chính trị tự nguyện của toàn Đảng toàn dân và toàn quân ta, không có sự lựa chọn nào
khác, không có con đường nào khác- đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa. Những cơ sở kinh tế kỹ thuật và tài nguyên quốc gia cũng như thành quả to lớn
của sự nghiệp cách mạng là những tiền đề kinh tế kỹ thuật để chúng ta đi lên chủ nghĩa
xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước hơn hai mươi năm
qua đã khẳng định tính đúng đắn của việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn
Quốc của Đảng lần thứ X đã khẳng định những thành tựu trong công cuộc đổi mới đất
nước sau hai mươi năm đó là: “Công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to
lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội, có sự thay
đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh.
Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn
dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị- xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh
được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh
tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục
đi lên với triển vọng tốt đẹp. Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của
Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Nhận thức về chủ
21
ngha xó hi v con ng i lờn ch ngha xó hi ngy cng sỏng t hn; h thng
nhng quan im lý lun v cụng cuc i mi, v xó hi ch ngha v con ng i
lờn ch ngha xó hi Vit Nam ó hỡnh thnh trờn nhng nột c bn33.
Thc tin lch s nhõn loi ó chng minh, do nhng iu kin khụng gian, thi
gian khỏc nhau, cú mt s nc trong quỏ trỡnh phỏt trin khụng i theo tun t tt c
cỏc hỡnh thỏi kinh t- xó hi theo lc t thp n cao. Nhiu nc chõu u ch
ngha t bn ra i t trong lũng ca xó hi phong kin, cũn nc M thỡ ch ngha t
chng phỏ ton din trờn tt c cỏc lnh vc, xu hng ton cu hoỏ to ra s cnh
tranh gay gt; hu qu ca chin tranh ba mi nm rũng ró, tn d t tng, tõm lý,
tp quỏn c...ó là những trở lực cha thể khắc phục ngày một, ngày hai.
Mt khỏc, trong quỏ trỡnh i mi t nc cũn ny sinh cỏc nguy c nh chch
hng xó hi ch ngha, tt hu v kinh t, din bin ho bỡnh, t quan liờu tham
nhng...Từ những khó khăn trên đây chúng ta thấy thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã
hội là thời kỳ cải biến cách mạng hết sức khó khăn và phức tạp.
Nhng vi s khiờm tn ca nhng ngi cng sn, bng h thng lý lun cỏch
mng v khoa hc ca ch ngha Mỏc- Lờnin chỳng ta cú th khng nh rng trong
iu kin hin nay Vit Nam cú iu kin v kh nng i lờn ch ngha xó hi, b
qua ch t bn ch ngha v xõy dng thnh cụng ch ngha xó hi trờn t nc ta,
ú l con ng hp quy lut v cú kh nng hin thc.
23