Vấn đề bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên môi trường trong luật tục Êđê - Pdf 37

Mục lục
Mở đầu...................................................................................................................2
I.Vài nét về dân tộc Êđê và luật tục Êđê
3
1.Dân tộc Êđê..3

2.Luật tục Êđê. 5
II.Vấn đề bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên môi trờng
trong luật tục Êđê .6

1.Luật tục khẳng định chủ sở hữu cộng đồng đối với tài nguyên....6
2. Việc bảo vệ rừng và chống hoả hoạn...7
3.Bảo vệ môi trờng trong sạch, chống ônhiễm ..9
Kết luận....11
Tài liệu tham khảo 12

Mở đầu
Trong các xã hội tiền t bản, con ngời sống phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự
nhiên môi trờng. Môi trờng không những trực tiếp chi phối cách thức sản xuất mà
1


còn ảnh hởng quyết định tới sự hình thành các tập tục sinh hoạt và đặc trng văn hoá
của các cộng đồng tộc ngời. Bởi vậy, từ rất sớm con ngời đã ý thức đợc việc cần
thiết phải bảo vệ môi trờng và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, coi đây
là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho chính sự tồn tại và phát triển của cộng đồng
mình. Tuỳ theo điều kiện sống và trình độ phát triển, mỗi cộng đồng tộc ngời lại có
những phơng cách khác nhau để giải quyết vấn đề tài nguyên môi trờng. Song một
phơng cách có tính chất phổ biến hơn cả là đề ra những quy định buộc mọi ngời
phải tuân theo kèm với những hình phạt nếu vi phạm những quy định đó. Từ thế hệ
này qua thế hệ khác, băng hình thức truyền miệng những quy định này trở thành

Từ đầu CN cho đến thế kỷ XIV-XV, các tộc ngời ở Tây Nguyên, đặc biệt là
Êđê nằm trong vòng ảnh hởng và thống trị của vơng quốc Chăm, có lúc của cả đế
chế Khơme nữa. Bởi thế giữa ngời Chăm và ngời Êđê có nhiều nét tơng đồng về mặt
văn hóa nh: trờng ca, vốn từ chỉ hệ thống thần linh, lễ nghi, kiến trúc và nhà mồ
Vào thế kỷ XII, ngời Êđê và một số tộc ngời ở Tây Nguyên đã nổi dậy dới sự chỉ
huy của Vancaraya chống lại vua Chăm và xin cầu viện binh của Đại Việt. Đây đợc
coi là mốc đánh dấu mối liên hệ đầu tiên giữa các bộ lạc Tây Nguyên và chính
quyền Đại Việt. Cùng với quá trình Nam tiến mở rộng lãnh thổ của ngời VIệt, Tây
Nguyên dần dần gia nhập cộng đồng dân tộc nớc ta. Đến giữa XIX, thực dân Pháp
tìm mọi cách xoá bỏ sự ràng buộc với nhà Nguyễn và thực hiện chế độ trực trị tàn
bạo đối với các tộc ngời Tây Nguyên. Ngời M nong, Giaraivà ngời Êđê đã liên
tục nổi dậy chống Pháp. Sau này, họ đã cùng cả cộng đồng dân tộc VIệt Nam dới sự
lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đấu tranh giành
độc lập thống nhất cho tổ quốc và cho bản thân cộng đồng mình.
Trong lịch sử, ngời Êđê thờng xuyên có sự dịch chuyển c trú trong môi trờng
sinh tồn là miền cao nguyên đất đỏ trù phú ở trung tâm Tây Nguyên. Buôn làng Êđê
là tập hợp của lớp lớp những ngôi nhà sàn dài hình thuyền có hai đầu nóc nhô ra nh
thách thức với thời gian, nh khẳng định vai trò chủ thể của con ngời trớc thiên nhiên
hùng vĩ.
Ngời Êđê gắn bó chặt chẽ với núi rừng từ việc sản xuất, vui chơi, sinh hoạt đến
khi giã từ cuộc sống. Toàn bộ những vật dụng xây cất nhà cửa, lúa ngô, rau củ ăn
hàng ngày đều lấy từ rừng. Phơng thức canh tác chủ yếu là đốt rừng làm nơng rẫy
nên từ bao đời nay họ luôn trăn trở một câu hỏi là làm thế nào để vừa đốt rừng vừa
nuôi dỡng đợc rừng, bảo đảm đợc sự cân bằng lâu dài giữa con ngời và đất canh tác.
1

Luật tục Êđê,Nxb Chính trị quốc gia, H-1996,tr8.

3


chiêng)đợc coi trọng. Họ quan niệm thần linh ở cả ba tầng : trời, mặt đất, trong
lòng đất đồng thời thần ở trong vạn vật nh bao bọc thế giới con ngời.
Trên đây là những nét đại cơng về môi trờng sống, khung cảnh kinh tế-xã hội,
trình độ phát triển của tộc ngời Êđê. Những hiểu biết cơ bản này sẽ giúp tiếp cận
luật tục Êđê dễ dàng hơn.
4


2. Luật tục Êđê
Ngời Êđê cũng nh các dân tộc thiểu số khác ở VIệt Nam đã sử dụng luật tục
nh hình thức luật pháp sơ khai để điều chỉnh các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con
ngời với tự nhiên. ở khía cạnh thứ hai này, luật tục có những quy định cụ thể về việc
bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên môi trờng. Trớc khi tìm hiểu nội dung
này cần thiết phải hiểu về quá trình su tấm văn bản luật tục.
Luật tục tồn tại chủ yếu thông qua hình thức truyền miệng nên nó không có
văn bản và có tính chất dị bản. Bởi vậy,để su tầm và tái hiện nó dới dạng văn bản là
công việc hết sức khó khăn. Luật tục Êđê cũng trải qua hành trình su tầm lâu dài
gần suốt thế kỷ XX. Đầu thập niên 30 của thế kỷ XX, viên Công sứ Pháp tỉnh
Đăklăk tên là L. Sabalier lần đầu tiên su tầm luật tục Êđê và ghi âm nó bằng một thứ
chữ Êđê mới do các cố đạo Pháp xây dựng dựa vào bộ vần chữ cái Latinh. Bản su
tầm lần này đợc công bố vào năm 1936 với tên gọi Klei duê klei bhiăn kđi (tập quán
pháp ca). Năm 1940, nó đợc D.Automurchi dịch sang tiếng Pháp và đăng trên tạp
chí của trờng Viễn Đông Bác Cổ (B.E.F.E.O). Sau năm !975, nhà Tây Nguyên học
Nguyễn Hữu Thâú đã dịch bản luật tục này từ tiếng Pháp ra tiếng Việt. Việc đẩy
mạnh nghiên cứu dân tộc học và văn hoá dân gian ở Tây Nguyên của viện nghiên
cứu văn hoá dân gian và nhóm Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn đã tìm thêm đợc
những dị bản khác của luật tục Êđê. Họ đã tiến hành hệ thống, chỉnh lý, bổ sung
luật tục Êđê dựa vào so sánh đối chiếu nhiều dị bản khác và đa nó sát hợp hơn với
ngôn ngữ cũng nh thực tế đời sống của dân tộc Êđê. Thành quả lớn của công việc
này là đã cho ra đời văn bản luật tục song ngữ Việt-Êđê khá hoàn chỉnh so với bản

sở hữu đó. Cách ví tuy dung dị nhng nó cũng lại khẳng định đợc quyền sở hữu kia
là tối cao, là lẽ tự nhiên nên không ai đợc quyền xâm phạm, lấn chiếm, chia cắt hay
cớp đoạt.
Theo quan niệm của ngời Êđê, thần linh tồn tại trong mọi vật thể kể cả đất đai,
rừng núi, nên quyền sở hữu này phải đợc thần linh công nhân. Vì vậy lễ cúng thần
đất là lẽ nghi bắt buộc và là điều kiện tiên quyết để giữ cho đất đai luôn xanh tơi.
Điều 234 trong luật tục quy định cụ thể lễ vật cúng thần đất là một trâu để đợc công
nhận là chủ đất, sau đó hàng năm vẫn phải tiếp tục cúng một trâu hoặc một bò đực
cộng năm ché rợu. Có làm nh thế đất mới đợc tốt tơi, nớc mới không ngừng chảy,
chuối mía mới mọc đợc sum suê. Ngời Êđê cũng đã tính đến việc phân định ranh
giới đất đai, rừng núi nếu có tranh chấp xảy ra. Ngoài việc cúng tế hàng năm, để
khẳng định quyền sở hữu của mình, ngời chủ đất đại diện cho cả cộng đồng phải
tiền hành việc đi thăm đất. Luật tục quy định công việc này phải thực hiện 7 năm
một lần.
Khẳng định quyền sở hữu tối cao cũng đồng nghĩa với việc phải gánh trách
nhiệm bảo vệ, chăm nom đất. Ngời đó sẽ trông coi đất đai, thăm nom rừng rú, tự
mình phải chăm nom mảnh đất mà mình làm chủ. Khi con đã lớn, họ phải dạy, khi
6


cháu đã khôn, họ phải bảo, hễ đứt thì phải nối, hễ yếu thì phải buộc lại cho vững
(điều 229). Ngời chủ đất gánh vác nhiệm vụ bảo vệ đất đai thay cho dân làng nên họ
có quyền đợc hởng của biếu khi đi thăm đất (điều 236). luật tục quy định chi tiết
phần biếu 7 năm một lần gồm hai loại là gạo hoặc thóc, đơn vị có thể tính bằng rá,
gùi hoặc sọt. Việc này tất cả thành viên trong buôn làng đều phải thực hiện có vậy
mùa màng mới không bị vàng lụi.
Nh vậy, ngời Êđê quan niệm mọi tài nguyên rừng núi, đất đaiđều là sở hữu
chung của cả cộng đồng nhng đó là quyền sở hữu đại diện thông qua Ngời chủ đất.
Ai xâm phạm đến sẽ bị xử tội (điều 235). Cộng đồng ngời sở hữu đất đai sẽ đợc
quỳên sử dụng tài nguyên trên đó. Cách mà ngời Êđê cho rằng để bảo vệ quyền sở



Làm chết sạch cả tép cả cua
Ngoài việc bảo vệ sự tái sinh rừng, điều 80 luật tục Êđê còn quy định về tội gây
cháy rừng. Họ ý thức đợc tác hại của việc cháy rừng làm cây le bị cháy khô, cây lố
ô bị cháy trụi; hang thỏ hang chồn đều bị thiêu trụi tất cảhuỷ diệt cả rừng và
nghiêm trọng hơn là lửa sẽ cháy lan, thiêu trụi cả xóm làng ngời ta, thiêu trụi cả
chòi, cả kho lúa ngời ta dựng lên trong rừng, trong rẫy mà xung quanh cha kịp dọn
quang. Cháy rừng sẽ kéo theo thiêu trụi cả của cải, tài sản và mọi thành quả lao
động. Đó là một tội lớn nếu phạm vào phải bồi thờng lớn cho dân làng. Việc chống
cháy rừng còn ăn sâu vào trong tâm thức mỗi thành viên cộng đồng và theo nh quy
định của luật tục ai có con phải dạy con, ai có cháu phải dạy cháu thì bổn phận
của mỗi thành viên không chỉ là bản thân phải giữ gìn mà còn phải báo cáo cho thế
hệ mai sau.
Luật tục nhắc nhở mọi ngời phải cẩn thận, tránh những hoạt động vô thức do
đốt lửa bừa bãi, bậy bạ hoặc thiếu kinh nghiệm (đi hái củi mà không biết đi, đi suối
lấy nớc mà không biết đi, cầm theo những đầu đầy còn cháy dở) dẫn đến nguy cơ
cháy rừng.
Các vụ cháy làng, cháy buôn cũng đợc đề cập đến khá cụ thể. Cháy làng sẽ làm
cho cột nhà, cột chòi, bồ lúa, bịch thóc của ngời ta đều bị mất hết (điều 82) và
do kẻ dạy bảo, nhắc nhở không nghe dám đọ sức cùng cọp, đòi cao hơn cả thần
gây ra. Vì thế phải đa hắn ra xét xử. Hình phạt cho những hành động cầm lửa đốt
trụi rừng tranh, thiêu trụi xóm làng là rất nặng biểu hiện cách trừng phạt nghiêm
khắc của cả cộng đồng. Nếu hắn là một con đàm bàngời ta sẽ lấy dây đêm giăng
ra, lấy dây đem trói lại, bắt hắn làm nô lệ hay cầm tù. Nếu hằn là một thằng đàn ông
thì hắn sẽ bị xử chém (điều 92). Trong toàn bộ luật tục Êđê đây là loại hình phạt
nặng nề nhất chứng tỏ ngời Êđê cho rằng hành động đốt rừng, đốt làng có âm mu là
một loại tội nghiêm trọng, không thể tha thứ đợc, không thể chuộc bằng tiền, chỉ
còn cách lấy mạng sống ra để trả giá. Quy định hình phạt nặng nề nh vậy có lẽ là
cách thức tốt nhất để dân buôn làng có ý thức cẩn thận về vấn đề củi lửa. ý nghĩa

làng bất kể làng có cữ vì dịch bệnh.
Rõ ràng ngời Êđê đã có nhiều biện pháp để ứng xử với nguy cơ bệnh tật, bảo
đảm môi trờng trong sạch, bảo vệ sức khoẻ cho mọi thành viên.
Ngoài quy định về bệnh truyền nhiễm ở ngời, luật tục còn có những quy định
về bệnh dịch về súc vật. Họ cho rằng súc vật cũng nh con ngời bị bệnh tật đều là do
ông Đu, ông Điu gieo rắc tai hoạ, thả xuống thữ nớc gây bệnh. Ngời thì ốm đau
súc vật không còn ăn cỏ, uống nớc đợc nữa. Do vậy, phải trình báo với thủ lĩnh
đầu làng khi có dịch trâu bò, bờ rào làng phải tăng cờng, cổng làng phải củng cố, ở
phía bên kia cổng làng, ở bìa rừng ven làng phải treo những những tợng hình đầu
trâu, đầu bò (điều 78). Để tránh bệnh dịch lan tràn làng làng phải lo giữ thân, phải
đặt các dấu cấm đờng ngăn trên mọi nẻo dẫn vào làng, phải cấm trâu bog làng khác
9


đi vào làng mình (điều 79). Hành động trái hoặc không tuân theo những quy định
trên là mắc tội, là cả gan dám thác cả cọp, đòi cao hơn cả thần.
Ngời Êđê cúng ý thức đợc để sản xuất phát triển phải giữ cho đất đai màu mỡ,
không bị ô uế. Do đó, luật tục quy định rõ những hành vi làm uế tạp đất đai, làm kê
sẽ không trổ, lúa sẽ không đơm bông, mùa màng thui chột, đất sẽ không còn màu
cho lúa mọc, rừng sẽ không còn màu cho kê nảy mầm nh tội chôn cơm nguội trong
rẫy ngời khác (điều 93), mai tàng trong rẫy ngời khác sẽ bị xử phạt. Vi phạm quy
định này đều phải làm lễ cúng tẩy uế cho đất bằng trâu trắng, phải hiến sinh cho rẫy
một lợn bạch.
Những quy định này cho thấy ngời Êđê sớm ý thức đợc ảnh hởng của việc uế
tạp đất đai, nguồn nớc đến việc trồng trọt nhng ngợc lại nó cũng phản ánh t duy lạc
hâu, duy tâm rằng hoàn toàn tẩy uế bằng cúng tế đợc. Một lần nữa cách nhìn duy
tâm, sùng bái thần linh lại chi phối hay quyết định cách xử sự của cộng đồng với
môi trờng tự nhiên.
Trên đây là ba nội dung trong phần bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên môi
trờng của luật tục Êđê. Ta có thể thấy những nội dung này trong nhiều luật tục của

Qua đây có thể thấy thế ứng xử của ngời Êđê trớc môi trờng tự nhiên cha phải
là thế chủ động chinh phục tự nhiên. Họ lo sợ thiên nhên và đành khoác áo thần bí
lên cho nó. Trong tâm thức của họ, thế lực tự nhiên rất đáng sợ và họ không còn
cách nào khác là phải cúng tế thờng xuyên không dám lơ là, xao lãng. Điều này cho
thấy trình độ phát triển còn lạc hậu, t duy còn ở mức sơ khai của họ.
Tuy vây, việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên môi trờng bằng cach slinh
thiêng hoá lại có tác dụng lớn trên thực tế. Tự nhiên là thế lực thần bí đáng sợ ăn sâu
vào đời sống tâm linh của từng thành vỉên trong cộng đồng. Vì vậy không một ai
dám xúc phạm đến thế lực linh thiêng này. Quy định của luật tục do vậy đợc chấp
hành một cách triệt để dẫn đến việc tự nhiên đợc bảo vệ một cách tích cực, hiệu
quả. Đây là điểm cần phải phát huy và rút kinh nghiệm khi ban hành luật môi trờng
Việt Nam trong thời điểm hiẹn tại. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải làm sao để kết
hợp hài hoà, có sự bổ trợ, bổ sung giữa luật pháp chung của nhà nớc và luật tục của
làng buôn để bảo vệ môi trờng có hiệu quả hơn. Song đồng thời phải giúp đồng bào
Êđê và các cộng đồng dân tộc thiểu số khác bãi bỏ các nhận thức lạc hậu về môi trờng tự nhiên để họ tham gia vào việc bảo vệ sinh tái một cách hiệu quả hơn chứ
không phải là biện pháp dâng lễ vật cúng tế.

Tài liệu tham khảo
1. Luật tục Êđê, Nxb Chính trị quốc gia, H-1996.
11


2. Ngô Đức Thịnh: Tìm hiểu luật tục các tộc ngời ở Việt Nam, Nxb Khoa Học
Xã Hội, H-2003.
3. Luật tục và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia,
H-2000.

12



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status