Chương 10 tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp giải phẫu học, đại học y dược huế - Pdf 37

Chương 10. Tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp

118

Ổ MIỆNG
Mục tiêu bài giảng
1. Biết được ranh giới và giới hạn của ổ miệng chính và tiền đình miệng.
2. Mô tả các thành phần trong ổ miệng chính thức: răng, khẩu cái cứng, khẩu cái mềm, lưỡi.
3. Viết công thức răng sữa và răng vĩnh viễn.
4. Xác định vị trí, liên quan các tuyến nước bọt và nơi đổ của các ống tiết của 3 cặp tuyến nước bọt.
5. Vẽ sơ đồ các thần kinh chi phối lưỡi.
Ổ miệng là phần đầu tiên của hệ tiêu hoá, chứa lợi, răng, lưỡi và có các lỗ đổ của các ống tuyến nước bọt,
giữ vai trò quan trọng trong việc nhai, nuốt, nếm, nói, tiết nước bọt.

I. Giới hạn
Ổ miệng được giới hạn:
- Trên: phía trước là khẩu cái cứng, phía sau là khẩu cái mềm.
- Dưới là sàn miệng (có xương hàm dưới và vùng dưới lưỡi).
- Hai bên là má và môi.
- Trước thông với bên ngoài qua khe miệng.
- Sau thông với hầu qua eo họng.

II. Các phần của ổ miệng
Cung răng lợi ngăn ổ miệng ra làm hai phần: phần hẹp ở phia trước ngoài là tiền đình miệng và phần lớn ở
phía trong sau là ổ miệng chính.

Hình 10. 1. Ổ miệng
1. Hạnh nhân khẩu cái 2. Vách khẩu cái dọc 3. Lưỡi gà 4. Lưỡi 5. Tiền đình miệng

1. Tiền đình miệng
Tiền đình miệng là một khoang hẹp, hình móng ngựa, có giới hạn ngoài là má và môi, giới hạn trong là cung

- Phần xương: do mõm khẩu cái xương hàm trên và mảnh ngang xương khẩu cái tạo nên. Hai nữa phải và
trái dính nhau ở đường giữa. Nếu không dính sẽ bị tật hở vòm khẩu cái (còn gọi là hở hàm ếch) và thường
kèm sứt môi và hở cung răng.
- Lớp dưới niêm mạc: chứa nhiều tuyến khẩu cái ở sau.
- Lớp niêm mạc: dính chặt vào phần xương và liên tục với các vùng lân cận. Ở giữa có đường giữa khẩu cái,
phía trước có các nếp khẩu ngang.

Hình 10. 2. Khẩu cái cứng và cung răng
1. Các răng cửa 2. Răng nanh
3. Các răng tiền cối

4. Các răng cối


Chương 10. Tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp
5. Mỏm khẩu cái xương hàm trên

6. Lỗ khẩu cái lớn

120

7. Mảnh ngang xương khẩu cái

2.2 Khẩu cái mềm
Còn gọi là màn khẩu cái:
- Có hai mặt: Mặt trước nhìn về ổ miệng, mặt sau nhìn về hầu.
- Có bờ trước dính vào khẩu cái cứng, hai bên dính vào thành hầu. Bờ sau tự do, ở giữa có lưỡi gà nhô ra dài
khoảng 1-1,5cm.
Khẩu cái mềm đóng eo hầu khi nuốt và góp phần vào việc phát âm, nó được cấu tạo bởi niêm mạc, cân và 5
cơ.


+ Răng sữa: bắt đầu mọc từ 6 đến 30 tháng tuổi, có 20 răng. Trên mỗi nửa cung răng, từ đường giữa ra xa có
5 răng là: 2 răng cửa, 1 răng nanh và 2 răng cối.
+ Răng vĩnh viễn: thay thế răng sữa từ khoảng 6 đến 12 tuổi, có 32 răng. Trên mỗi nửa cung răng tương tự
có 8 răng: 2 răng cửa, 1 răng nanh, 2 răng tiền cối và 3 răng cối. Răng cối cuối cùng gọi là răng khôn,
thường mọc chậm nhất và có thể gây những biến chứng phức tạp.
Trong lâm sàng người ta thường gọi tên các răng bằng hai con số ( thí dụ răng 2.3, răng 6.3...) trong đó:
- Số thứ nhất chỉ vị trí nửa cung răng, đánh số theo chiều kim đồng hồ, bắt đầu từ nửa cung răng hàm trên
bên phải:
Răng vĩnh viễn: 1 : 2
Răng sữa:
5:6
4:3
8:7
- Số thứ hai chỉ thứ tự của răng đó trong mỗi nửa cung răng, tính từ đường giữa. Ta có sơ đồ răng như sau:
Đối với răng vĩnh viễn: 1.8  1.3  1.1
2.1  2.3  2.8
4.8  4.3  4.
3.1  3.3  3.8
5.5  5.3  5.1 6.1 6.3  6.5
8.5  8.3  8.1 7.1 7.3  7.5
Như vậy, răng 2.4 là răng tiền cối thứ nhất hàm trên bên trái ở người lớn, răng 6.4 là răng cối thứ nhất hàm
trên bên trái ở răng sữa trẻ em. Cần lưu ý rằng ở răng sữa không có răng tiền cối.
- Cấu tạo của răng: gồm 4 thành phần
Đối với răng sữa:

Hình 10. 4. Cấu tạo chung của răng
1. Thân răng 2. Cổ răng
3. Chân răng
4. Men răng

răng nanh) thường là một bờ hẹp, sắc. Các răng sau (răng tiền cối và răng cối) có mặt nhai rộng với 2, 3
hoặc 4 núm, cách nhau bởi các rãnh.
2.4. Lưỡi
Lưỡi là một khối cơ di động dễ dàng, được bao phủ bởi niêm mạc miệng, nằm trên sàng miệng, đóng vai trò
quan trọng trong việc nhai, nuốt, nếm, nói...
2.4.1. Hình thể ngoài
Lưỡi có hình tam giác rộng ở đáy, thuôm dài và nhọn ở đỉnh.
- Mặt lưng lưỡi: Lồi ứng với vòm khẩu cái. Ở chỗ nối 2/3 trước và 1/3 sau có một rãnh hình chữ V đỉnh ở
phía sau, gọi là rãnh tận cùng. Đỉnh chữ V có một hố nhỏ, gọi là lỗ tịt.
+ Phía trước rãnh là phần miệng của lưỡi, hay thân lưỡi, có rãnh giữa lưỡi tương ứng với vách lưỡi ở bên
dưới. Niêm mạc lưng lưỡi lởm chởm, có nhiều gai lưỡi; gai dạng dài, gai dạng chỉ, gai dạng nấm, gai dạng
nón và gai dạng lá.

Hình 10. 5. Mặt lưng lưỡi


Chương 10. Tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp

123

1. Thung lũng nắp thanh môn 2. Rễ lưỡi 3. Lỗ tịt 4. Rãnh tận cùng 5. Rãnh giữa 6. Thân lưỡi
7. Nắp thanh môn 8. Nếp lưỡi nắp giữa 9. Nếp lưỡi nắp bên 10. Hạnh nhân khẩu cái
11. Cung khẩu cái lưỡi

+ Phía sau rãnh tận cùng là phần hầu của lưỡi, ở lớp dưới niêm mạc chứa nhiều nang bạch huyết, gọi là hạnh
nhân lưỡi. Phần này dính vào mặt trước nắp thanh môn bằng nếp lưỡi - nắp thanh môn giữa và 2 nếp lưỡi nắp thanh môn bên. Giữa các nếp này là hai hố nhỏ gọi là thung lũng nắp thanh môn, mà khi ăn bị hóc,
xương thường hay bị mắc vào đó.
- Mặt dưới lưỡi: Niêm mạc mỏng trơn láng, không có gai lưỡi. Ở giữa có lớp niêm mạc nối lưỡi với sàng
miệng gọi là hãm lưỡi. Hai bên hãm lưỡi là hai cục dưới lưỡi, nơi đổ của ống tuyến nước bọt dưới hàm. Từ
cục dưới lưỡi chạy ra bên ngoài là nếp dưới lưỡi, nơi đổ của các tuyến ống nước bọt dưới lưỡi.

* Động mạch dưới lưỡi: Cấp máu cho hãm lưỡi, tuyến nước bọt dưới lưỡi.
* Động mạch lưỡi sâu: Chạy ngoằn nghèo dưới niêm mạc mặt dưới lưỡi để đến đỉnh lưỡi, cấp máu cho phần
di động của lưỡi.
- Tĩnh mạch lưỡi: Gồm tĩnh mạch lưỡi sâu (đồng hành với ĐM lưỡi sâu), tĩnh mạch dưới lưỡi và tĩnh mạch
lưng lưỡi. Các tĩnh mạch này hợp lại tạo thành tĩnh mạch lưỡi, và thường đổ vào tĩnh mạch cảnh trong qua
thân tĩnh mạch giáp lưỡi mặt.

Hình 10. 7. Động mạch và thần kinh của lưỡi
1. TK thiệt hầu 2. ĐM lưỡi
3. Cơ móng lưỡi
4. TK hạ thiệt
5. Cơ cằm lưỡi 6. Cơ hàm móng 7. ĐM dưới lưỡi 8. ĐM lưỡi sâu 9. TK lưỡi

- Thần kinh lưỡi:
+ Vận động: Thần kinh XII (TK hạ thiệt) vận động tất cả các cơ của lưỡi.
+ Cảm giác:
* Ở 2/3 trước của lưỡi: thần kinh lưỡi (nhánh của TK hàm dưới) tiếp nhận cảm giác thân thể, còn thừng nhĩ
của thần kinh trung gian tiếp nhận cảm giác vị giác.
* Ở 1/3 sau (sau rãnh tận cùng) do TK thiệt hầu và TK lang thang chi phối, đôi khi có TK mặt.
3. Các tuyến nước bọt
Có 3 tuyến nước bọt lớn là tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi. Ngoài ra còn có nhiều tuyến
nhỏ nằm rải rác ở dưới niêm mạc môi, má, khẩu cái... Chúng tiết ra nước bọt, đổ vào ổ miệng, góp phần tiêu
hoá thức ăn và làm ẩm niêm mạc miệng.
3.1. Tuyến nước bọt mang tai
Là tuyến nước bọt lớn nhất, nằm từ phía sau ngoài cơ cắn và ngành hàm đến trước lỗ tai ngoài và cơ ức đòn
chũm, mỏm chũm.
Tuyến có 3 mặt: (mặt ngoài, mặt trước và mặt sau). Ba bờ (trước, sau và trong). Và 2 cực (trên và dưới).
Thần kinh mặt và các nhánh của nó chạy xuyên qua tuyến, chia tuyến ra làm 2 phần nông và sâu.
Động mạch và tĩnh mạch cảnh ngoài liên quan chặt chẽ mặt sau của tuyến.
Ống tuyến chạy từ bờ trước của tuyến, đi trên mặt nông cơ cắn đến bờ trước cơ này thì chạy vào sâu xuyên


126


Chương 10. Tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp

127

HẦU
Mục tiêu bài giảng
1. Biết được hình dạng và kích thước của hầu, đối chiếu hầu lên cột sống.
2. Mô tả được hình thể trong của hầu.
3. Mô tả được cấu tạo của hầu.

I. Đại cương
1. Vị trí
Hầu là một ống cơ mạc không có thành trước, chạy dài từ dưới nền sọ đến ngang mức bờ dưới sụn nhẫn
(ngang mức đốt sống cổ thứ sáu), nằm trước cột sống cổ, phía sau ổ mũi, ổ miệng và thanh quản. Hầu là một
dạng tiền đình thông nối ổ mũi với thanh quản, ổ miệng với thực quản, hay như một ngã tư giữa đường hô
hấp và đường tiêu hoá.

1. Ổ mũi 2. Ổ miệng 3. Thanh quản
8. Lưỡi gà
9. Nắp thanh mon

Hình 10. 10. Hầu
4. Tỵ hầu 5. Khẩu hầu 6. Thanh hầu 7. Lỗ mũi sau
10. Vách mũi 11. Ngách hình lê
12. Thực quản


2. Lỗ hầu của vòi tai
3. Gờ cơ nâng

4. Nếp vòi hầu

2. Phần miệng hay khẩu hầu
Khẩu hầu nằm sau ổ miệng, đi từ bờ sau khẩu cái mềm đến bờ trên nắp thanh môn.
- Phía trước: thông với ổ miệng qua eo họng. Eo họng được giới hạn ở trên bởi bờ sau khẩu cái mềm, hai
bên là cung khẩu cái lưỡi và phía dưới là rãnh tận cùng. Phần hầu của lưỡi nối với sụn nắp thanh môn bởi
các nếp lưỡi nắp và thung lũng nắp thanh môn.
- Thành sau: tương ứng ngang mức cung trước đốt sống cổ thứ nhất đến bờ dưới đốt sống cổ thứ ba.
- Thành bên: mỗi bên có hai nếp niêm mạc từ khẩu cái mềm chạy xuống. Nếp trước là cung khẩu cái lưỡi do
cơ cùng tên tạo thành, chạy xuống chỗ nối 2/3 trước và 1/3 sau lưỡi. Đây là giới hạn bên của eo họng và là
ranh giới phân chia giữa ổ miệng và hầu. Nếp sau là cung khẩu cái hầu do cơ cùng tên tạo nên, chạy xuống
thành bên hầu, hai cung khẩu cái hầu cùng bờ sau khẩu cái mềm và thành sau hầu giới hạn một lỗ gọi là eo
hầu qua đó tỵ hầu thông thương với khẩu hầu. Eo hầu được đóng lại bởi khẩu cái mềm khi nuốt, nói...
Giữa 2 cung khẩu cái lưỡi và khẩu cái hầu là hố hạnh nhân, chứa hạnh nhân khẩu cái. Hạnh nhân khẩu cái là
một tổ chức bạch huyết hình bầu dục cao 2cm, rộng 1,5cm, dày 1,2cm, nặng khoảng 1,5gram. Có cực trên
và cực dưới. Mặt trong được phủ bởi niêm mạc, có nhiều hốc. Mặt ngoài dính vào thành bên hầu, ngay trong
cơ khít hầu trên. Hạnh nhân khẩu cái chủ yếu được cấp máu từ động mạch mặt, ngoài ra còn có động mạch
hầu lên, động mạch khẩu cái xuống và động mạch lưỡi.
Ở phần khẩu hầu người ta còn mô tả họng. Là khoang được giới hạn: phía trên là khẩu cái mềm, hai bên là
các cung khẩu cái lưỡi, khẩu cái hầu và hố hạnh nhân cùng hạnh nhân khẩu cái, phía dưới là phần hầu của
lưỡi.


Chương 10. Tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp

129


Lót mặt trong của hầu, liên tiếp với niêm mạc ổ mũi, ổ miệng, thanh quản và thực quản...
2. Tấm dưới niêm mạc
Tạo nên mạc trong hầu. Phía trên hơi dày, dính vào mặt dưới nền sọ, gọi là mạc hầu nền.
3. Lớp cơ
Gồm hai lớp: lớp cơ vòng và cơ dọc.
3.1. Ba cơ khít hầu
Tạo thành lớp cơ vòng bên ngoài: cơ khít hầu trên, cơ khít hầu giữa và cơ khít hầu dưới. Chúng có các đặc
điểm:
- Nguyên uỷ: ở phía trước, bám vào mỏm chân bướm và xương hàm dưới, xương móng hoặc sụn thanh
quản.
- Đường đi và bán tận: mỗi cơ có các thớ hình nang quạt, chạy ra sau để bám tận bằng cách đan với cơ bên
đối diện ở đường giữa hầu. Bờ trên và bờ dưới các cơ đều lõm. Nhìn từ ngoài vào: cơ dưới chồng lên cơ trên
che khuất một phần cơ trên.
Dựa vào nguyên uỷ, có thể chia các cơ khít hầu có các phần như sau:


Chương 10. Tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp

130

- Cơ khít hầu trên: có 4 phần.
+ Phần chân bướm hầu: bám vào móc của mỏm chân bướm.
+ Phần má hầu: bám vào vách giữa chân bướm hàm.
+ Phần hàm hầu: bám ở phần sau của đường hàm móng xương hàm dưới.
+ Phần lưỡi hầu: bám vào phần trên các cơ lưỡi.
- Cơ khít hầu giữa: có hai phần:
+ Phần sụn hầu: bám ở sừng nhỏ xương móng.
+ Phần sừng hầu: bám ở sừng lớn xương móng.
- Cơ khít hầu dưới: có hai phần:
+ Phần giáp hầu: bám ở đường chéo mặt ngoài sụn giáp.


Mạc má hầu liên tục từ má (bao phủ ngoài cơ mút) đến hầu, bao bọc phía ngoài các cơ khít hầu.
IV. Liên quan của hầu
Phiá sau: hầu liên quan với cột sống, các cơ dài cổ, dài đầu và khoang sau hầu.
Khoang sau hầu: là lớp tổ chức liên kết lỏng lẻo phía sau hầu, nằm giữa lá trước cột sống mạc cổ và mạc má
hầu, chạy dài từ nền sọ xuống trung thất, hai bên được giới hạn bởi bao cảnh. Do đó một viêm nhiễm ở đây
dễ dàng lan xuống trung thất trên.
Phía bên: liên quan đến khoang bên hầu và mạch máu, thần kinh vùng cổ.
Khoang bên hầu chứa tổ chức liên kết lỏng lẻo từ nền sọ đến ngang xương móng: có giới hạn trong là thành
bên hầu, giới hạn trước ngoài là các cơ chân bướm, phía sau ngoài là tuyến nước bọt mang tai, phía sau là
mỏm trâm và các cơ bám vào mỏm này.
Khoang bên hầu và khoang sau hầu tạo thành khoang quanh hầu, làm cho hầu di chuyển được dễ dàng trong
quá trình nuốt.
Phía sau bên hầu còn liên quan với các thần kinh sọ IX, X, XI và XII, thân giao cảm cổ, bao cảnh và các
động mạch hầu lên, động mạch khẩu cái lên, động mạch mặt, động mạch lưỡi, động mạch giáp trên và
nhánh thần kinh thanh quản trên.

V. Mạch máu, thần kinh của hầu
1. Cấp máu cho hầu có các động mạch sau
- Động mạch hầu lên và động mạch giáp trên: là các nguồn chính.
- Ngoài ra còn có động mạch khẩu cái lên, là nhánh bên của động mạch mặt và động mạch bướm khẩu cái là
nhánh bên của động mạch hàm.
2. Thần kinh
Thần kinh của hầu phát sinh từ đám rối hầu do nhánh hầu của thần kinh X và thần kinh IX tạo nên cùng với
các nhánh giao cảm cổ.
Về vận động, thần kinh X chi phối tất cả các cơ, ngoại trừ cơ trâm hầu do thần kinh IX điều khiển.

VI. Đại cương về hoạt động nuốt
Nuốt là một hoạt động thần kinh cơ phức tạp, nhờ nó mà thức ăn, thức uống được di chuyển từ miệng qua
hầu vào thực quản đến dạ dày. Có thể xem như gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn miệng, giai đoạn hầu và giai

Xương tạo nên mũi ngoài gồm: 2 xương mũi, mỏm trán và gai mũi trước của xương hàm trên.

Hình 10. 14. Khung xương sụn của mũi
1. Xương mũi
2. Sụn mũi bên
3. Sụn cánh mũi nhỏ
4. Trụ trong và trụ ngoài của sụn cánh mũi lớn 5. Sụn vách mũi 6. Mỏm trán xương hàm trên

2. Sụn
Gồm sụn vách mũi, 2 sụn mũi bên, 2 sụn cánh mũi lớn, 2 sụn cánh mũi nhỏ, hai sụn lá mía mũi và các sụn
phụ.
- Sụn mũi bên: nằm ở hai bên mũi ngoài, hình tam giác, bờ trên ngoài khớp với xương mũi và mỏm trán
xương hàm trên, bờ dưới khớp với sụn cánh mũi lớn, bờ trong tiếp khớp với sụn vách mũi.
- Sụn vách mũi: hình tứ giác, phía sau tiếp khớp xương lá mía và mảnh thẳng đứng xương sàng. Phía dưới
tiếp khớp với xương hàm trên và sụn lá mía mũi. Bờ trước tạo nên sống mũi.


Chương 10. Tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp

133

- Sụn cánh mũi lớn: nằm 2 bên đỉnh mũi. Có hai trụ: trụ trong tạo nên vách mũi và trụ ngoài lớn hơn tạo nên
cánh mũi.
- Sụn cánh mũi nhỏ và sụn phụ: nằm giữa sụn mũi bên và sụn cánh mũi lớn.
- Sụn lá mía mũi: là 2 mảnh sụn dài nhỏ nằm dọc theo bờ sau dưới của sụn vách mũi.
3. Cơ
Cơ của mũi ngoài là phần cánh và phần ngang cơ mũi, cơ hạ vách mũi.
4. Da
Mỏng, di động, trừ phần đỉnh và cánh mũi, các sụn của mũi.


sàng, nhỏ dần từ dưới lên trên. Các xương xoăn mũi tạo với thành ngoài ổ mũi các ngách mũi tương ứng.
- Ngách mũi dưới có ống lệ mũi đổ vào ở phần trước.
- Ngách mũi giữa phức tạp nhất, với các cấu trúc như bọt sàng, khe bán nguyệt, mỏm móc và là nơi đổ của
các xoang sàng trước, xoang sàng giữa và xoang hàm trên, xoang trán.
- Phía trước xoăn mũi giữa và ngách mũi giữa, thành ngoài này lồi lên gọi là đê mũi. Trước đê mũi là rãnh
khứu.


Chương 10. Tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp

134

- Các lỗ đổ của các xoang sàng sau và xoang bướm ở ngách mũi trên hoặc trên cùng.

1.

Hình 10. 15. Thành ngoài của mũi
Xoang sàng sau 2. Xoang bướm 3. Ngách mũi trên 4. Ngách mũi giữa 5. Ngách mũi dưới
6. Tiền đình mũi 7. Thềm mũi 8. Xoăn mũi dưới 9. Xoăn mũi giữa 10 Xoăn mũi trên 11. Xoang trán

7. Niêm mạc mũi
- Lót mặt trong ổ mũi, liên tục với niêm mạc các xoang, hầu...
- Khá đặc biệt , gồm 2 vùng:
+ Vùng khứu giác: là vùng trên xoăn mũi trên, trần ổ mũi và 1/3 trên vách mũi. Vùng này chứa nhiều đầu
mút TK khứu giác. Luồng không khí chạy từ ngoài theo rãnh khứu và ngách mũi trên vào vùng khứu giác
nhờ đó mà ta phân biệt được các mùi.
+ Vùng hô hấp: là phần lớn phía dưới ổ mũi. Niêm mạc có nhiều mạch máu, tuyến niêm mạc và tổ chức
bạch huyết nhằm để sưởi ấm, làm ẩm không khí, lọc bớt bụi và sát trùng trước khi vào phổi.

III. Các xoang cạnh mũi

2. Thần kinh
- Khứu giác: các sợi thần kinh khứu giác từ niêm mạc mũi vùng khứu giác qua mảnh sàng vào hành khứu.
- Cảm giác thân thể: do các nhánh từ thần kinh sinh ba và hạch chân bướm khẩu cái.


Chương 10. Tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp

136

THANH QUẢN
Mục tiêu bài giảng
1. Mô tả được hình thể ngoài và trong của thanh quản.
2. Mô tả cấu tạo (các sụn, dây chằng, các cơ, các màng) của thanh quản.
3. Vẽ sơ đồ giải thích sự hoạt động các cơ thanh quản trong động tác căng, chùng dây thanh âm, mở và khép
thanh môn.
4. Vẽ hình soi thanh quản.

I. Đại cương
1. Vị trí và liên quan
Thanh quản là một phần của đường hô hấp, có hình ống, trên thông với hầu, dưới nối với khí quản, có nhiệm
vụ phát âm, dẫn khí và coi như một cái van bảo vệ khí đạo (đặc biệt là trong khi nuốt). Nó nằm ở giữa cổ
ngay trước thanh hầu, ngang mức từ thân đốt sống cổ C3 đến C6. Hai bên liên quan với các cơ dưới móng,
tuyến giáp, với bao cảnh và các thành phần của nó.
Thanh quản thường di động dễ dàng lên xuống (khi nuốt, khi ngữa gập cổ), hoặc sang bên.
2.Kích thước
Ở nam giới, thanh quản dài khoảng 5cm, thường lớn hơn so với nữ giới và phát triển mạnh vào tuổi dậy thì.
Do vậy, đàn ông giọng trầm hơn đàn bà và thường có hiện tượng vỡ tiếng ở tuổi dậy thì.
3. Cấu tạo
Thanh quản được cấu tạo bởi các sụn nối với nhau bằng các khớp, các màng, các dây chằng và các cơ.
Trong đó 2 dây thanh âm sẽ rung chuyển và phát ra âm thanh dưới tác động của luồng không khí đi qua.

2. Sụn nhẫn
Sụn nhẫn có hình chiếc nhẫn, nằm ở dưới sụn giáp, gồm 2 phần:
- Cung sụn nhẫn: ở phía trước, sờ được dưới da.
- Mảnh sụn nhẫn: rộng, ở phía sau. Bờ trên có diện khớp, tiếp khớp với sụn phễu. Mặt sau có mào giữa, là
nơi bám của dây chằng thực quản. Mặt trên có diện khớp (ở chỗ nối cung và mảnh) để khớp với sừng dưới
sụn giáp.
- Bờ dưới sụn nhẫn nằm ngang (ngang mức bờ dưới thân đốt sống cổ C6, tương ứng chỗ nối giữa hầu và
thực quản), nối với vòng sụn đầu tiên của khí quản bằng dây chằng nhẫn - khí quản.
3. Sụn nắp thanh môn
- Sụn nắp nằm sau sụn giáp, như cái nắp của thanh quản. Có hình chiếc lá, cuống ở trước dưới, gắn vào góc
sụn giáp bằng dây chằng giáp nắp. Phần lớn được niêm mạc che phủ.
- Mặt trước: hướng về đáy lưỡi, ở phía sau dây chằng giáp móng và cách dây chằng này bởi một lớp mỡ
đệm. Mặt trước nối với xương móng bằng dây chằng móng nắp.
- Mặt sau: có nhiều lỗ, hố nhỏ góp phần tạo nên mặt trước của tiền đình thanh quản.
4. Sụn phễu
Là sụn đôi, sụn phễu ngồi trên mảnh sụn nhẫn, có hình tháp 3 mặt, một đỉnh và một đáy.
- Đỉnh ở trên nối với đáy sụn sừng.
- Đáy ở dưới, tiếp khớp với sụn nhẫn. Đáy có 2 mỏm:
+ Mỏm cơ là góc ngoài: có nhiều cơ bám.
+ Mỏm thanh âm là góc trước: nơi bám của dây chằng thanh âm.
- Mặt trước ngoài: lớn nhất có cơ thanh âm bám.
- Mặt sau: có cơ phễu ngang và cơ phễu chéo bám.
- Mặt trong: nhỏ, có niêm mạc thanh quản bao phủ và liên quan với thanh môn.
5. Sụn sừng


Chương 10. Tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp

138


âm căng từ góc sụn giáp đến mỏm thanh âm của sụn phễu. Dây chằng thanh âm là bộ phận chính để phát ra
âm thanh, nó đội niêm mạc lên tạo thành nếp thanh âm.


Chương 10. Tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp

139

Hình 10. 18. Các màng và dây chằng của thanh quản
1. Sụn nắp thanh môn. 2. Xương móng 3. DC móng nắp 4. DC giáp móng giữa 5.DC giáp nắp 6. Màng tứ giác
7. DC tiền đình 8. DC thanh âm 9. Nón đàn hồi 10. DC nhẫn giáp 11. Sụn nhẫn 12. Sụn khí quản 13. Dây chằng
giáp móng bên 14. Màng giáp móng 15 & 16. Lỗ vào của ĐM thanh quản trên 17. Sụn giáp 18. Sụn sừng 19. Sụn
phễu 20. DC nhẫn phễu sau 21. Mặt khớp giáp

3. Các dây chằng
- Dây chằng giáp nắp: gắn cuống sụn nắp thanh môn vào góc sụn giáp.
- Dây chằng móng nắp: từ thân xương móng đến trước sụn nắp.
- Dây chằng lưỡi nắp: từ phần hầu của lưỡi đến sụn nắp, tạo nên nếp lưỡi nắp giữa.
- Màng giáp móng: căng từ bờ trên và sừng trên sụn giáp đến sừng lớn và bờ trên thân xương móng. Ở giữa,
màng dày lên tạo nên dây chằng giáp móng giữa và hai bên là hai dây chằng giáp móng bên có chứa sụn
thóc. Mạch máu và thần kinh thanh quản trên chọc thủng màng này để vào thanh quản.
- Dây chằng nhẫn - khí quản: từ bờ dưới sụn nhẫn đến bờ trên vòng sụn đầu tiên của khí quản.
- Dây chằng nhẫn - phễu sau: nối liền mảnh sụn nhẫn và sụn phễu.
- Dây chằng sừng- hầu: nối sụn sừng với hầu.

IV. Các cơ thanh quản
Có 2 loại: cơ ngoại lai và cơ nội tai.
1. Cơ ngoại lai
Các cơ từ các phần xung quanh tới thanh quản. Gồm hai nhóm:
- Cơ nâng thanh quản: Cơ giáp móng, cơ trâm móng, hãm móng, hai thân, trâm hầu và cơ khẩu cái hầu.

- Cơ thanh âm: Như là phần trong cùng của cơ giáp phễu, chạy từ góc sụn giáp đến mỏm thanh âm và mặt
ngoài sụn phễu. Cơ nằm ngay dưới dây chằng thanh âm và phía ngoài nón đàn hồi, có tác dụng làm hẹp
thanh môn và hơi căng dây chằng thanh âm.
- Cơ giáp nắp: Nằm phía trên cơ giáp phễu, đi từ nắp sụn giáp đến bờ sụn nắp. Tác dụng: hạ sụn nắp và
giống như một cơ vòng thanh quản.
2.3. Từ sụn phễu
Có 3 cơ:
- Cơ phễu ngang: là cơ ngang duy nhất của thanh quản, nối liền mặt sau hai sụn phễu.
- Cơ phễu chéo: chạy từ mỏm cơ sụn phễu này tới đỉnh sụn phễu kia, ở phía sau cơ phễu ngang.
Hai cơ phễu ngang và phễu chéo còn gọi là các cơ gian phễu, có tác dụng khép thanh môn.
- Cơ phễu nắp: có thể xem như là phần nối dài của cơ phễu chéo lên sụn nắp thanh môn. Tác dụng tương tự
cơ giáp nắp.
Tóm lại, các cơ thanh quản có thể xếp thành các nhóm theo chức năng:


Chương 10. Tai, mắt, mũi, miệng, thanh quản, khí quản, tuyến giáp

141

Các cơ tác động lên dây chằng thanh âm:
- Căng dây chằng thanh âm: cơ nhẫn giáp, cơ nhẫn phễu sau và cơ thanh âm.
- Chùng dây chăng thanh âm: cơ giáp phễu.
- Mở thanh môn: cơ nhẫn phễu sau.
- Khép thanh môn: cơ phễu chéo, phễu ngang, nhẫn phễu bên, giáp phễu và cơ thanh âm.
- Làm hẹp tiền đình thanh quản: cơ phễu ngang, giáp phễu, phễu chéo và phễu nắp.

V. Hình thể ngoài của thanh quản
Thanh quản có 2 mặt: trước và sau.
1. Mặt trước
Từ dưới lên trên là:

20. Khe thanh môn 21. Nón đàn hồi 22. DC vòng

2. Thanh thất
Là khoảng giữa hai nếp tiền đình ở trên và hai nếp thanh âm ở dưới.
- Hơi phình ra, có hai ngách bên là túi thanh quản, chứa nhiều tuyến nhầy.
- Hai dây chằng thanh âm tạo nên hai nếp thanh âm, giới hạn ở giữa là khe thanh môn có hai phần:
+ Phần gian màng: nằm giữa hai nếp thanh âm, ở phía trước.
+ Phần gian sụn: nằm giữa hai sụn phễu, ở phía sau.
- Nếp thanh âm có bờ mỏng, nằm gần đường giữa hơn nếp tiền đình. Chỉ có nếp thanh âm mới tham gia vào
sự phát âm.
3. Ổ dưới thanh môn
Ở phía dưới khe thanh môn:
- Có dạng hình nón, do nón đàn hồi và sụn nhẫn tạo nên.
- Tổ chức dưới niêm mạc lỏng lẻo, nên phù thanh quản dể xuất hiện ở đây.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status