LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chƣa từng
để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều đƣợc
chỉ rõ nguồn gốc.
Nghệ An, ngày 03 tháng 6 năm 2016
Tác giả luận án
Nguyễn Thƣợng Hải
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “ Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của
đồng bào dân tộc Thái, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, nhằm bảo tồn tri thức
bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bên vững”, tôi đã nhận đƣợc
rất nhiều sự giúp đỡ của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, tập thể Ban Lãnh
đạo Khoa Sinh học, Phòng Sau đại học Trƣờng Đại học Vinh, các thầy giáo, cán
bộ Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật, Viện Dƣợc liệu. Tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành về sự giúp đỡ quý báu đó.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH. Nguyễn Nghĩa
Thìn, PGS.TS Phạm Hồng Ban, những thầy giáo trực tiếp hƣớng dẫn và chỉ bảo
tôi hoàn thành luận án này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ
An, các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác, gia đình và bạn bè , đã tạo điều kiện,
khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn.
ii
3.1. Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài cây thuốc ………………..…….36
3.1.1. Đa dạng về bậc ngành…………………………………………………..36
iii
3.1.2. Đa dạng về các lớp trong ngành Ngọc lan………………………….…..37
3.1.3. Sự đa dạng về số lƣợng loài trong các chi, họ………………………….39
3.1.4. So sánh cây thuốc huyện Quế Phong với hệ cây thuốc Việt Nam……….41
3.1.5. Đa dạng về dạng thân, nơi sống và cách sử dụng cây thuốc…………….42
3.1.5.1.Đa dạng về dạng thân cây của các cây thuốc ......................…………... 42
3.1.5.2. Sự phân bố cây thuốc theo môi trƣờng sống………………….……….43
3.1.5.3. Sự đa dạng về tần số sử dụng của các bộ phận khác nhau…………….45
3.2. Những cây thuốc bị khai thác nhiều, cây thuốc trong Sách đỏ … ....………47
3.2.1. Mô tả, bổ sung công dung những cây thuốc……..……………….……....47
3.2.2.Hiện trạng những cây thuốc quý trong Sách Đỏ Việt Nam……….………80
3.2.3. Bổ sung danh lục cây thuốc Việt Nam…………………………….……..89
3.3. Các bài thuốc của ngƣời dân tộc Thái ở huyện Quế Phong………….……..95
3.3.1. Các nhóm bệnh đƣợc ngƣời dân tộc Thái huyện Quế Phong …….……...95
3.3.2. Một số bài thuốc đƣợc đồng bào dân tộc Thái sử dụng……….…… …...97
3.3.2.1. Nhóm bệnh do thời tiết (cảm nóng, cảm lạnh, đau đầu…)….…………97
3.3.2.2. Bệnh về tiêu hoá (dạ dày, tả, lị, ngộ độc, giun sán…)…………………98
3.3.2.3. Nhóm bệnh ngoài da (nhiễm trùng, lở, mụn nhọt…)…………….…….99
3.3.2.4. Các bài thuốc bồi bổ sức khoẻ…………………………………….…..100
3.3.2.5. Bệnh về thần kinh (bại liệt, thần kinh, nhức mỏi…)………………….101
3.3.2.6. Các bài thuốc về nhóm bệnh hô hấp (ho, phế quản, phổi…)..…...102
3.3.2.7. Bệnh của trẻ em (suy dinh dƣỡng, ho, giật mình, mẩn ngứa…)......103
3.3.2.8. Động vật cắn (rắn, chó dại, sên, vắt...)……………………………103
3.3.2.9. Bệnh về xƣơng (bong gân, gãy xƣơng, đau khớp…)…………......103
3.3.2.10. Bệnh về thận (sỏi thận, lợi tiểu, viêm thận…)…………….……..104
3.3.2.11. Bệnh về gan (viêm gan, xơ gan, vàng da…)……………...…..…104
Phụ lục 7: Các phổ của các hợp chất trong thân cây Hoa dẻ lông đen
Phụ lục 8: Các phổ của các hợp chất trong thân cây Dây lửa ít gân
v
Danh mục các chữ viết tắt
Ca
Bu
CM
CT
Đ
Dl
DT
G
Ha
HD
Ho
KBTTN
Kh
KS
MN
N
Nh:
NN
NS
QP
Qu
R
T
:
:
:
:
:
:
:
:
Cả cây
Thân bụi
Cắm Muộn
Châu Thôn
§åi nói.
Dây leo
Dạng thân
Thân gỗ
Hạt
Hạnh Dịch
Hoa
Khu bảo tồn thiên nhiên
Khe
Kim Sơn
Mƣờng nọc
Nƣ¬ng rÈy, ven ®êng ®i.
Nhựa
Nậm Nhóong
Nơi sống
Quang Phong
Quả
Hình 3.3. Biểu đồ biểu hiện sự phân bố số lƣợng loài cây thuốc trong các chi
Hình 3.4. Tỷ lệ % các nhóm dạng thân của cây thuốc ở huyện Quế Phong
Hình 3.5. Phân bố các loài cây thuốc theo môi trƣờng sống
Hình 3.6. Phân bố số lƣợng các bộ phận sử dụng của cây thuốc ở huyện Quế Phong
Hình 3.7. Sự đa dạng về các nhóm bệnh đƣợc chữa trị bằng cây thuốc ở
Hình 3.8. Biểu đồ thể hiện đa dạng về cách sử dụng.
Hình 3.9 Tỷ lệ số ngƣời dùng thuốc dân tộc ở các xã trên địa bàn.
viii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án.
Các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc Nghệ An nói chung và huyện Quế
Phong nói riêng có dân số lớn, phân bố rộng, trình độ dân trí thấp, đời sống cơ bản
đang gặp nhiều khó khăn. Do đặc thù về vị trí địa lí nên ngƣời dân ở đây đang chịu
nhiều thiệt thòi. Các vấn đề xã hội nhƣ giáo dục, y tế chƣa đƣợc quan tâm đúng
mức, đặc biệt là vấn đề chăm lo sức khỏe của nhân dân. Dân số các đồng bào dân
tộc thiểu số chiếm một tỷ lệ lớn (90%) so với dân số toàn huyện, trong đó dân tộc
Thái có 50.523 ngƣời, chiếm khoảng 80%. Qua tìm hiểu chúng tôi thấy đồng
bào Thái đang lƣu truyền rất nhiều bài thuốc chữa bệnh hay, thậm chí một số bài
thuốc truyền thống còn chữa bệnh hiệu quả hơn các phƣơng pháp chữa bệnh tiên
tiến khác.
Do dân cƣ phân bố chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, giao thông cách trở,
cơ sở y tế nghèo nàn, thuốc tây vừa thiếu, giá lại đắt nên ở đây ngƣời dân chủ yếu
chữa bệnh bằng kinh nghiệm của các ông lang bà mế. Đồng bào Thái gọi thầy
thuốc là “Xây hạc may”. Xây có nghĩa là thầy, hạc may nghĩa là rễ cây, “Xây hạc
may” có nghĩa là ngƣời thầy dùng cây để chữa bệnh. Trên thực tế, các ông lang bà
mế không nhiều, các bài thuốc chủ yếu chỉ truyền trong gia tộc, một số thầy lang
truyền Việt Nam.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Huyện Quế Phong trong đó có Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, có nguồn
tài nguyên thực vật đa dạng, phong phú, đặc biệt có nhiều loài thực vật làm thuốc
giá trị. Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về thực vật học dân tộc tại huyện
Quế Phong nói chung và Pù Hoạt nói riêng đã đƣợc quan tâm nhƣng chƣa đáp ứng
đƣợc yêu cầu thực tiễn, do đó cần phải nghiên cứu cụ thể để phục vụ công tác bảo
tồn.
Luận án ngoài việc thống kê, đánh giá tính đa dạng cây thuốc còn ghi chép
các bài thuốc của các ông lang, bà mế để phục vụ cho việc lƣu giữ cho thế hệ sau,
bảo tồn tri thức bản địa.
Đề xuất và đã thực hiện việc bảo tồn cây thuốc có giá trị trên địa bàn nghiên
cứu.
4. Những điểm mới của luận án
2
+ Điều tra lập danh lục 583 loài cây thuốc tại huyện Quế Phong đƣợc đồng bào dân
tộc Thái sử dụng để chữa bệnh.
+ Bổ sung 118 loài từ khu vực nghiên cứu vào từ điển Cây thuốc Việt Nam
2012.
+ Xác định, mô tả, bổ sung công dụng 15 loài cây thuốc quý có trong Sách Đỏ
Việt Nam (2007).
+ Thu thập nhiều bài thuốc thuộc nhiều nhóm bệnh khác nhau.
+ Mô tả đặc điểm sinh học, điều kiện sinh thái, công dụng của 64 loài cây
thuốc có giá trị.
+ Xác định thành phần hóa học của 2 loài cây thuốc Hoa dẻ lông đen (Desmos
cochinchinensis) và cây Dây lửa ít gân (Rourea oligophlebia).
Phụ lục 4: Các phiếu kiểm tra nồng độ acidt uric các bệnh nhân
bị bệnh gút.
Phụ lục 5: Các mẫu phiếu điều tra
8 trang
Phụ lục 6: Danh sách các thầy lang trên địa bàn huyện Quế
Phong
6 trang
3
3 trang
Phụ lục 7: Các phổ của các hợp chất trong thân cây hoa dẻ lông đen
18 trang
Phụ lục 8: Các phổ của các hợp chất trong cây dây lửa ít gân
16 trang
4
Chƣơng 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu, sử dụng và bảo tồn cây thuốc một số nƣớc
chống nấm, diệt khuẩn và xua đuổi côn trùng [43]. Cho đến nay đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về cây thuốc tại đất nƣớc này nhƣ: Nghiên cứu của
Ackerman W. L. vào năm 1978 về cây Sơn tra, hay của Akhtar Husain và các
cộng sự về các cây có chứa tinh dầu [37]
Trong chƣơng trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu
vực Đông Nam Á, Pery đã nghiên cứu và công bố hơn 1000 công trình khoa học
về thực vật và dƣợc liệu đƣợc các nhà khoa học kiểm chứng (trong đó có 146 loài
có tính kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông Á và
Đông Nam Á "Medicinal Plants of East and Southeast Asia, 1985"[107].
Ngƣời Philipin dùng cải ma (Blumea lacera), để điều trị ho và mau lành
vết thƣơng. Cây bạc hà (Mentha arvensis ) đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng
phổ biến trong y học dân gian nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản [62].
Ở châu Âu dƣợc thảo rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học
truyền thống cổ điển. Ngƣời đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200 SCN), một
thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hƣởng sâu sắc đến sự
phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc. Ông đã viết hàng trăm cuốn sách
và đã đƣợc áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn 1500 năm[1].
Vào thế kỷ XVIII, William Withering (1741-1799) lần đầu tiên khám phá ra
công dụng chữa bệnh của cây thuốc Mao địa hoàng (Digitalis purpurea), mở ra
sự phát triển trong lịch sử y dƣợc học [1].
Hiện nay, theo Đỗ Huy Bích, Trần Văn Ơn ƣớc lƣợng có khoảng 35.000 –
70.000 loài trong số 250.000 -300.000 loài cây cỏ đƣợc sử dụng, vào mục đích
chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới. Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn
Độ có khoảng 7.500 loài, Inđônnêxia có 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000
loài, Nepal có 700 loài, SriLanka có khoảng 550-700 loài [12] .
Andrew(2006), đã tham khảo về lịch sử cổ truyền và dân gian của từng loại cây
đồng thời giải thích rõ những điều mà các nhà khoa học đã nghiên cứu về các
6
7
Từ năm 1990 các tác giả: Chung R. C. K. & Purwaningsh, Flach M. &
Rumawas F., Flash M. & Siemonsma J. S, Jansen P. C. M., Kochummen K. M.,
Wong W. C., Sudo S. & Frietema F. T., Latiff A. M., Lememns R.H.M.J. &
Wulijarni – SoetjiptoN., Lucie Widowati, Marfu ah Wardani, Mulyati Rahaya N.
& Halijah Ibrahim,... đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc, tinh dầu
đăng trong “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á” [111].
Boelens M. H. (1994) cũng đã có công trình nghiên cứu đánh giá hoạt
chất và đặc tính hóa học của tinh dầu các loài cỏ ở vùng nhiệt đới [105].
Brian M. Lawrence (1994) đã công bố nghiên cứu về tinh dầu các loài
thực vật.Trong giai đoạn 1994-1997 đã có nhiều nghiên cứu về tinh dầu nhƣ của
Makkar H.P.S., Backer K, Charles D. J., Simon J. E., Widrlechner M. P., Singl
N. K. [105].
Trung Quốc có bá rộng rãi một dƣợc phẩm mới mang tên “Di-fu-zi”, đây
là loại thuốc có tác dụng lợi tiểu và chống nấm đƣợc chế biên từ cây
Chenopodium ambrosioides [63] .
Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thƣ Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên
cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả
năng chữa trị bệnh ung thƣ, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có dƣợc tính
mạnh đƣợc điều chế từ một loài Hoa hồng (Catharanthus roseus). Theo Richard
Primarck (1995) ở Madagasca, ngƣời ta dùng cây này để chữa bệnh máu trắng cho
trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên đến 90% [72].
1.1.2.Vấn đề trồng bảo tồn cây thuốc trên thế giới.
Trƣớc đại chiến thế giới lần thứ nhất, đảo Java của Inđônêxia đã trồng
Hƣơng lau (Vetiveria zizaniodes) để xuất khẩu sang châu Âu (chủ yếu xuất khẩu
sang Đức, Pháp, Anh) [62]. Hiện nay ở Philipin và Inddooxixia đã đƣa loài dầu
giun (Chenopodium ambrosioides ) để làm thuốc [63]. Tại Inđonêxia ngƣời ta đã
trồng địa liền (Kaempferia galanga ) tại miền Trung đảo Java và Miền tây đảo
Quốc nhƣ Đổng Phụng (187 - 226), Lâm Thắng (479 - 501). Trong giai đoạn
này, một số dƣợc liệu của Việt Nam đã đƣợc ghi vào Dƣợc điển của Trung
Quốc nhƣ: Ý dĩ, Sắn dây (Danh Y biệt lục), Đậu khấu (Hải Nam bản thảo - đời
Đƣờng), Sử quân tử (Bản thảo khai bảo - đời Tống), Sả (Bản thảo thập di).
9
Trầu, Cau (Tô cung bản thảo), Hƣơng bài, Khổ qua, Bí ngô, Lƣời ƣơi (Bản thảo
cƣơng mục) [119].
Nền y học nƣớc nhà qua các thời kỳ lịch sử đều gắn liền với tên tuổi của các
Lƣơng y nổi tiếng. Ngay từ thời vua Hùng Vƣơng dựng nƣớc qua các văn tự Hán
Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký, Lĩnh nam chích quái liệt truyện, Long uy bí
thƣ...) [37]. Đời nhà Lý (1010- 1224) nhà sƣ Nguyễn Minh Không đã dùng nhiều
cây thuốc chữa bệnh cho vua và nhân dân, đến đời nhà Trần có nhiều danh y nổi
tiếng nhƣ Phạm Công Bân, Tuệ Tĩnh [89].
Tuệ Tĩnh đƣợc phong là ông tổ ngành dƣợc Việt Nam và là ngƣời mở đầu cho
nền y dƣợc cổ truyền Việt Nam. Ông đã biên soạn bộ sách “Hồng Nghĩa giác tƣ
y thƣ”biên soạn bằng quốc âm, trong đó có 630 vị thuốc, giới thiệu 13 đơn thuốc
chữa tạp bệnh, 37 đơn thuốc chữa bệnh thƣơng hàn (Thập tam phương thuốc gia
giảm và tam thập thất tùy pháp) [56], [35].
Đến thời vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Lê trung hƣng, ở ngôi từ năm 1705 đến
năm 1729 thời vua Lê Dụ Tông lại đƣợc biết đến Danh y Hải Thƣợng Lãn Ông,
[56], [33]. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn nhƣ “Y tông tâm lĩnh” (1770), nay
ngƣời ta gọi là “Hải Thƣợng y tông tâm lĩnh” đƣợc viết trong vòng 10 năm, gồm
28 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, đƣợc đánh giá là công
trình y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và“không chỉ có giá trị về
y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học”[33].
Thời kỳ Tây Sơn (1788-1802) có Danh y Nguyễn Quang Tuân có tập “Nam
Dƣợc”, “Nam dƣợc chỉ danh truyền”, “La khê phƣơng dƣợc” ghi chép 500 vị
thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh [38],[120].
của loài trám hồng (Canarium bengalense) củaHoàng Thị Lê (2012) [54]; “
Nghiên cứu tác dụng hạ Glucose huyết của rễ cây chóc máu nam (Salacia
cochinchinensis )”của Đỗ Thị Nguyệt Quế (2013) [71].
Năm 2014, Nguyễn Thị Thu Hƣơng đã công bố kết quả nghiên cứu “ Nghiên cứu
tính đa dạng nguồn cây thuốc đƣợc sử dụng trong cộng đồng dân tộc ở tỉnh Thái
Nguyên nhằm bảo tồn và phát triển bền vững” [48].
1.2.2. Tình hình nghiên cứu, trồng bảo tồn, phát triển cây thuốc và bài thuốc
ở Việt Nam
1.2.2.1. Công tác điều tra
Đến nay, đã có nhiều công trình điều tra về cây thuốc dân tộc của các nhà khoa
học trên khắp cả nƣớc. Theo thống kê sơ bộ của Nguyễn Bá Hoạt (2013) đã có
một số kết quả nghiên cứu nhƣ: cây thuốc của Ngƣời Dao (khu vực Vƣờn Quốc
gia Ba Vì): 579 loài và 125 bài thuốc; ngƣời Mƣờng (Cẩm Liên, Cẩm Thủy,
12
Thanh Hóa): 206 loài và 32 bài thuốc; ngƣời Tày:(Vị Xuyên, Hà Giang): 292
loài; Ngƣời Tày - Nùng (Tràng Đinhk, Lạng Sơn): 126 loài và 51 bài thuốc; Bản
Mƣờng (xã Vĩnh Lạc, Lục Yên, Yên Bái): 40 loài và 40 bài thuốc; 85 bài thuốc
của cộng đồng ngƣời Dao; 72 bài thuốc của cộng đồng ngƣời H'Mông; 16 bài
thuốc của cộng đồng ngƣời Thái và Khơ Mú; 11 bài thuốc của cộng đồng Bru Vân Kiều [94].
Từ năm 1961 đến năm 1985 là giai đoạn điều tra cơ bản, Viện Dƣợc liệu tiến
hành điều tra dƣợc liệu và công bố ở Miền Bắc từ năm 1961 đến 1974 đã điều tra
ở 1905 xã, thuộc 20 tỉnh và thành phố. Kết quả đã phát hiện đƣợc 1114 loài thực
vật đƣợc dùng làm thuốc [91].
Năm 1985, công tác điều tra cơ bản lần thứ nhất về dƣợc liệu trên toàn quốc đã
đƣợc hoàn thành. Tổng số các địa phƣơng đã đƣợc tổ chức điều tra bao gồm
2715 xã - phƣờng, thuộc 357 huyện - quận và 42 tỉnh - thành phố. Kết quả đã ghi
nhận đƣợc Danh lục cây thuốc gồm 1863 loài thực vật bậc cao cũng nhƣ bậc thấp
đƣợc sử dụng làm thuốc, thuộc 1033 chi, 236 họ, 11 ngành [92], [93].
ở trong nƣớc nhƣ Hà Giang( Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, Hoàng Su Phì, Phó
Bảng), Lạng Sơn (Mẫu Sơn), Yên Bái (Văn chấn, Lục Yên), Lai Châu (Sìn Hồ),
Lào Cai (Sa Pa, Bát Xát, Bắc Hà), Quảng Nam (Trà My), Lâm Đồng (Đà Lạt),
v.v…Có những vung chuyên trồng cây thuốc nhƣ làng Nghĩa Trai (Văn Lâm,
Hƣng Yên) trồng đại trà hơn 10 loài cây thuốc, vùng Mễ Sở, Đa Ngƣu (Khoái
Châu) [90] . Tại trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Sa Pa đã trồng thành công 3
vƣờn bảo tồn chuyển chỗ (ex situ) loài 5834 cây ngũ gia bì hƣơng
(Ancanthopanax gracilistylus), 7314 cây ngũ gia bì gai (Ancanthopanax
trifoliatus),1511 cây sâm vũ điệp (Panax bipinatifidus), 1979 cây tam thất hoang
(Panax stipuleanatus) [44], [45],[46] .
Hiện nay, bảo tồn và phát triển nguồn dƣợc liệu đã đƣợc nhà khoa học nghiên
cứu, nhà nƣớc quan tâm và đầu tƣ mạnh. Nhiều cây thuốc đã đƣợc các nhà khoa
học, các doanh nghiêp đầu tƣ nghiên cứu bảo tồn và phát triển nhƣ:Sa nhân
(Amomum longiligulare), Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum), Chè hoa
vàng (Camellia chrysantha), Trinh nữ hoàng cung (Crinum asiaticum )...
Có khoảng trên 40 loài cây thuốc bản địa đã đƣợc trồng ở Việt Nam. Ở Yên
Bái,Thanh Hóa, Lào Cai, hàng năm cung cấp hàng nghìn tấn quế. Lạng Sơn, Cao
Bằng,Quảng Ninh: Cung cấp thảo quả; Sơn La, Hòa Bình: Cung cấp ý dĩ…[94].
Năm 2015, trên phạm vi cả nƣớc đã có nhiều vƣờn cây thuốc đƣợc xây dựng trên
các địa phƣơng nhƣ: Nghệ An 1 vƣờn; Hà Nội 1 vƣờn; Vùng Sa Pa 8 vƣờn; khu
vực Vƣờn Quốc gia Bạch Mã 4 vƣờn; Yên Bái 2 vƣờn; Hòa Bình 1 vƣờn; Thanh
Hóa 1 vƣờn; Lạng Sơn 4 vƣờn; Hà Giang 1 vƣờn; Vĩnh Phúc 1 vƣờn.
Tại các Vƣờn Quốc gia: Tam Đảo, Bến En, Cát Tiên, Ba Bể, Ba Bể, Cúc
Phƣơng, đã trồng đƣợc 120 loài cây thuốc.
15
Năm 2015, tại huyện Tây Giang (Quảng Nam) đã quyết định nhân rộng mô hình
trồng sâm ba kích (Morinda officinalis)dƣới tán rừng tự nhiên từ với diện tích
Tuy nhiên, cây thuốc ở Nghệ An ngày càng suy giảm. Hầu hết các loại cây
thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao đang mất dần khả năng khai thác lớn.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là việc khai thác tràn lan mà không có kế
hoạch bảo vệ, và diện tích rừng tự nhiên thu hẹp. Nhiều cánh rừng trƣớc đây có
trữ lƣợng lớn những cây làm thuốc nhƣ: Hoàng đằng, Ngũ gia bì chân chim,
Thiên niên kiện, Bách bộ, Cẩu tích… nay đã dần biến mất. Một số loài quý hiếm
đang ở nguy cơ bị tuyệt chủng, đơn cử nhƣ với loại Kê huyết đằng, một doanh
nghiệp ở Con Cuông có thể khai thác khoảng 50 tấn/năm vào những năm 2006,
2007, nay chỉ còn rải rác trong rừng vƣờn quốc gia Pù Mát và Khu bảo tồn thiên
nhiên Pù Huống.
Những năm gần đây, điều tra cây thuốc các dân tộc miền núi của tỉnh Nghệ An
đã có một số công trình nghiên cứu nhƣ “Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử
dụng chúng của đồng bào dân tộc Thái xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh
Nghệ An” của Tô Vƣơng Phúc (1996) đã thống kê đƣợc 223 loài cây, 81 họ với
113 bài thuốc chữa 29 nhóm bệnh, kế tiếp là Nguyễn Thị Hạnh (1999): “Nghiên
cứu các loài cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An”
đã công bố 554 loài cây thuộc 336 chi, 121 họ của 4 ngành thực vật, ngoài ra còn có
154 bài thuốc chữa trị 16 nhóm bệnh khác nhau [37],[86].
Đặng Quang Châu và Nguyễn Thị Kim Chi (2003) với đề tài “Đa dạng cây
thuốc dân tộc Thổ 3 xã Nghĩa Lâm, Nghĩa Yên, Nghĩa Mai, huyện Nghĩa Đàn,
tỉnh Nghệ An” Đặng Quang Châu và Bùi Hồng Hải (2003) với công trình “Điều
tra cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, tỉnh
Nghệ An” đã thống kê đƣợc 93 loài cây thuốc thuộc 79 chi, 42 họ đƣợc sử dụng
làm thuốc [23].
Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2004) với đề tài “ Một số dẫn liệu về cây
thuốc dân tộc Thổ xã Thọ Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An”, đã công bố 82
loài cây thuộc 79 chi, đƣợc đồng bào thổ sử dụng chữa 15 nhóm bệnh [24].
Trần Thị Mai Hoa (2009) với đề tài “Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử
dụng chúng của đồng bào Thái xã Châu Thôn- Huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An”,
17