Cấu trúc quần xã động vật phù du trong vịnh bình cang nha trang và sự vận chuyển cacbon và nitơ từ thực vật phù du sang động vật phù du (TT) - Pdf 37

MỞ ĐẦU
Động vật phù du (ĐVPD) là những động vật sống trôi nổi và có khả năng bơi kém,
có kích thước hiển vi, đơn bào hoặc dạng đa bào. Với sự phong phú và đa dạng của
ĐVPD trong cột nước, chúng đóng vai trò quan trọng trong sự vận chuyển năng lượng
từ các sinh vật sản xuất (tảo, rong biển, v.v.) đến các bậc dinh dưỡng cao hơn trong hệ
sinh thái biển. Sự xuất hiện và mật độ của ĐVPD có ảnh hưởng đến nguồn lợi nghề cá
ở các thủy vực là nơi mà các loài cá thường chọn để sinh sản – nơi mà con non của
chúng có đầy đủ nguồn thức ăn để tồn tại và phát triển. Chính vì tầm quan trọng của
nhóm sinh vật này dẫn đến nghiên cứu cấu trúc quần xã ĐVPD sẽ giúp hiểu thêm về
thành phần loài và cấu trúc trong các hệ sinh thái chứa chúng.
Lưới thức ăn ở các hệ sinh thái biển thường được bắt đầu bằng nhóm TVPD và
ĐVPD là nhóm sinh vật chuyển tiếp năng lượng lên các bậc cao hơn. Các phương pháp
nghiên cứu truyền thống về lưới thức ăn của các thủy vực như: xác định thành phần
thức ăn có trong ruột của ĐVPD, quan sát trực tiếp từ trong môi trường tự nhiên lẫn
phòng thí nghiệm,... Mặc dù các phương pháp này vẫn được sử dụng cho đến ngày nay,
nhưng vẫn còn một số khó khăn. Để khắc phục các nhược điểm đó, người ta sử dụng
đồng vị cacbon và nitơ có trong cơ thể sinh vật để xem xét mối tương quan thức ăn
trong chuỗi thức ăn ở hệ sinh thái biển cũng như xác định được bậc dinh dưỡng cũng
như thành phần thức ăn của chúng trong lưới thức ăn. Bên cạnh đó, phương pháp phân
tích đồng vị trong lưới thức ăn cũng tương đối đơn giản để đánh giá các đặc điểm cũng
như chức năng của sinh vật ở trong đó cũng như dễ dàng đánh giá được sự chuyển hóa
năng lượng qua các bậc dinh dưỡng.
ĐVPD biển Việt Nam từ những chuyến khảo sát đầu tiên cho đến nay chủ yếu là
các nghiên cứu về thành phần loài ĐVPD thường gặp và ít công trình nghiên cứu về đa
dạng sinh học và cấu trúc quần xã ĐVPD dựa trên các yếu tố môi trường. Do đó, vấn
đề đặt ra là cần nghiên cứu về đa dạng sinh học ĐVPD trong vùng biển Việt Nam dựa
trên các chỉ số sinh thái. Bên cạnh đó, thông qua sự vận chuyển các chất đồng vị của
cacbon và nitơ để đánh giá cấu trúc của hệ sinh thái dựa trên lưới thức ăn cũng là một
vấn đề mới cần tập trung nghiên cứu. Nghiên cứu sinh tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Cấu trúc quần xã động vật phù du trong Vịnh Bình Cang - Nha Trang và sự vận
chuyển Cacbon và Nitơ từ thực vật phù du sang động vật phù du.”

1974, 1980). Nishida (1985) công bố hệ thống phân loại và phân bố của họ Oithonidae
(Copepoda, Cyclopoida) trong vùng biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
Boltovskoy (1999) đã mô tả 1.645 loài thuộc 16 nhóm ĐVPD. Mulyadi (2002) đã mô
tả 45 loài Chân mái chèo (CMC) thuộc họ Pontellidae ở vùng biển Indonesia, trong đó
có 4 loài mới cho khoa học.
ĐVPD có sự thay đổi theo mùa và thay đổi theo chiều cao cột nước trong khi đó
sinh khối của chúng không có sự thay đổi (Arashkevich và cs. 2002). Đa phần các
nghiên cứu về ĐVPD đều chỉ ra rằng nhóm Chân mái chèo luôn chiếm ưu thế hơn so
với các nhóm sinh vật khác trong quần xã ĐVPD (Fernández de Puelles và cs. 2003,
Vieira và cs. 2003, Ahmet và cs. 2005).
b. Sự chuyển hóa vật chất hữu cơ từ TVPD lên ĐVPD
Peterson và Fry (1987) là một trong những nhà sinh thái học đầu tiên sử dụng đồng
vị phóng xạ trong sinh thái học. Ông đã đưa ra các định nghĩa và cách ứng dụng đồng
vị phóng xạ để xác định các mối liên quan của sinh vật trong hệ sinh thái. Peterson và
Fry (1987) đã đưa ra công thức tính đồng vị phóng xạ với giá trị δ của các chất như sau:
2


δX = [(Rmẫu /Rtiêu chuẩn) – 1]x1000
Trong đó X là 13C, 15N và R là các trị số của tỷ lệ 13C/12C, 15N/14N.
Ứng dụng các kiến thức của Peterson và Fry, các nghiên cứu sự vận chuyển năng
lượng (energy flow), chuỗi thức ăn (food web) ở các thủy vực ngày càng được chú trọng
và phát triển (Machás và Santos 1999, Zanden và Rasmussen 2001, Gaston và Suthers
2004, Domi và cs. 2005, Sweeting và cs. 2005). Trong đó, cấu trúc của đồng vị cacbon
của động vật sẽ phản ánh được chế độ dinh dưỡng của chúng qua các bậc dinh dưỡng
với giá trị hấp thụ đồng vị cacbon vào khoảng 1 ‰ (Haines 1976, Teeri và Schoeller
1979, Rau và Anderson 1981, Peterson và Fry 1987). Tỷ lệ hấp thụ δ15N qua các bậc
dinh dưỡng từ +2 ‰ đến +4 ‰ tùy thuộc vào các nhóm động vật và nguồn thức ăn
(Macko và cs. 1982, DeNiro & Epstein 1981, Hobson và Welch 1992, Post 2002)
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ĐVPD trong nước

Schmackeria dubia (tên đồng vật của loài P. annandalei) với các loài tảo Chaetoceros
calcitrans, Isochrysis galbana và Dunaliella tertiolacta và xác định một số đặc điểm
sinh sản của loài này.
CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và phương pháp thu mẫu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là vùng biển Vịnh Nha Trang và khu vực lân cận
gồm Vịnh Bình Cang và Đầm Nha Phu.
2.2. Phương pháp thu mẫu
2.2.1. Các yếu tố môi trường
Nhiệt độ và độ mặn được đo bằng máy SBE 19plus V2 SeaCAT Profiler CTD từ
tầng mặt đến tầng đáy, cứ mỗi 0,2 m đo 1 số liệu.
2.2.2. Mẫu động vật phù du dung để phân tích cấu trúc quần xã
Mẫu định tính và định lượng ĐVPD được thu thập vào các tháng 4, 8-2009 đến
tháng 7-2010 tại 11 trạm mặt rộng. Sử dụng lưới Juday, có đường kính miệng lưới 37
cm, kích thước mắt lưới 200 µm kết nối với khóa phân tầng.
2.2.3. Mẫu động vật phù du dung để phân tích đồng vị phóng xạ cacbon và nitơ
Mẫu ĐVPD để phân tích đồng vị cacbon và nitơ được thu vào tháng 2, 5, 8, 11 năm
2012 bằng 3 loại lưới Juday có diện tích mắt lưới 330 µm và 200 µm và 20 µm, đường
kính miệng lưới 37 cm tại 3 trạm 1B, 9 và 4 bằng cách kéo thẳng đứng từ cách đáy 2m
lên tầng mặt. Riêng ở trạm Hòn Mun, mẫu được thu bằng cách cầm lưới và bơi xung
quanh khu vực rạn sạn hô với mặt lưới cách mặt nước 0,5m.
2.2.4. Mẫu phân tích sinh học của loài Pseudodiaptomus annandalei
Mẫu được thu hàng tháng từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2010 tại cửa sông Cửa Bé và
được thu bằng lưới hình chóp, có đường kính miệng lưới là 37 cm, kích thước mắt lưới
là 100µm, được kéo từ cách đáy 2m lên mặt.
2.3. Phương pháp phân tích
2.3.1. Sinh vật lượng Động vật phù du
a. Định loại động vật phù du
ĐVPD được định loại dưới kính hiển vi soi nổi theo phương pháp của Goswami
(2004), sử dụng buồng đếm và kính hiển vi soi nổi MBC-1.

lọc như sau: 20 µm, 32 µm, 64 µm, 125 µm, 250 µm, 500 µm và 900 µm. Đối với mẫu
vật nằm dưới mắt lưới 20 µm, tiến hành lọc qua màng lọc GF/F
Toàn bộ mẫu để tính toán chỉ số đồng vị được tiến hành tại phòng thí nghiệm của
bộ môn Sinh thái biển, trường Đại học Aarhus, Đan Mạch với hệ thống phân tích đồng
vị cacbon: “Thermo Scientific Isotope Ratio Mass Spectometer”. Giá trị đồng vị δ
(delta) được tính theo công thức:
𝑅sample
𝛿𝑥(‰) = (
− 1) 𝑥 103
𝑅standard
Trong đó: x là giá trị đồng vị của 13C và 15N của giá trị 13C/12C và 15N/14N của mẫu
(Rsample) và giá trị chuẩn (Rstandard). Toàn bộ kết quả đều được so sánh với các giá trị
chuẩn của Nitơ và Cacbon theo PeeDee Belemnite (Benstead và cs. 2006).
2.3.3. Sinh học và sức sinh sản của loài P. annandalei Sewell, 1919
a. Sức sinh sản của P. annandalei
 Đối với mẫu dùng để xác định sức sinh sản tương đối/lần đẻ.

5


Quan sát mẫu dưới kính lúp MBC-1, gắp ngẫu nhiên 30-50 cá thể P. annandalei cái
có mang trứng và cho vào lọ có chứa dung dịch formaldehyl 5%. Quan sát và tiến hành
đo kích thước của 30 cá thể P. annandalei ở độ phóng đại là 32 lần.
 Đối với mẫu dùng để xác định tỷ lệ nở:
Quan sát mẫu dưới kính lúp MBC-1, dùng ống hút hút các cá thể P. annandalei vào
vỉ nuôi (gồm 24 giếng), mỗi cá thể vào một giếng có thể tích là 3ml. Quan sát và đếm
số lượng trứng cá thể cái đang mang sau đó tiến hành nuôi giữ mẫu trong khoảng thời
gian từ 22 – 24 tiếng ở độ mặn 30 ‰. Quan sát tiến trình nở của trứng (4 tiếng/lần), sau
24 tiếng tiến hành nhuộm mẫu bằng dung dịch Lugol và đếm ấu trùng (giai đoạn
nauplius) được nở ra ở mỗi ô.

o
C.
3.1.2. Độ mặn tầng mặt
Sự biến động độ mặn tầng mặt của các trạm trong Vịnh Bình Cang là không lớn
(31–33 ‰). Trong khi đó, các trạm của Vịnh Nha Trang lại có sự dao động khá lớn về
độ mặn tầng mặt vào thời điểm tháng 8 và 9 ở các trạm 9 và 12. Đầm Nha Phu có độ
mặn tại các trạm cao vào kỳ mùa khô và giảm rõ rệt vào kỳ mùa mưa. Độ mặn thấp nhất
vào tháng 9 và 11-2009 và cao nhất vào tháng 5-2010.
3.2. Cấu trúc quần xã ĐVPD vùng biển Nha Trang – Bình Cang và Nha Phu
3.2.1. Thành phần loài ĐVPD
Đã ghi nhận được 194 loài thuộc 13 nhóm ĐVPD trong khu vực nghiên cứu. Các
nhóm động vật có số loài chiếm ưu thế là nhóm Chân mái chèo với 111 loài (57,2 %).
Nhóm Có bao (Tunicata) có 20 loài chiếm 20.3 % và nhóm động vật có thích ty bào
(Cnidaria) có 17 loài chiếm 8,8 %. Các nhóm còn lại có số lượng loài rất ít (
3
2
8
3
3
7
2
20
194

%
3,1
57,2
34,0
19,1
4,1
4,6
1,5
8,8
1,5
1,0
4,1
1,5
1,5
3,6
1,0
10,3

Vịnh Nha Trang có số lượng loài ĐVPD cao nhất với 172 loài, tiếp sau đó là Vịnh
Bình Cang (167 loài) và Đầm Nha Phu (75 loài). Trạm 5 có số lượng loài bình quân


a

b

Hình 3.3. Biến động số lượng loài ĐVPD ở các trạm thuộc Vịnh Bình Cang (VCB) (a)
và Nha Trang (VNT) (b) theo thời gian
3.2.2. Biến động thành phần loài nhóm Chân mái chèo (CMC)
Số lượng loài CMC ở các trạm được quyết định bởi 2 bộ chính: Calanoida và
Cyclopoida. Số lượng loài CMC khu vực Đầm Nha Phu (trạm 4 & 5) tương đối thấp. Ở
Vịnh Bình Cang – Nha Trang, số lượng loài CMC có xu hướng chung như tổng số loài
ĐVPD (trừ tháng 11-2009 tại trạm 3 – có số lượng loài CMC tăng cao đột ngột (70 loài)
và là trạm có số lượng loài cao nhất trong năm 2009 (Hình 3.4).

Hình 3.4. Biến động thành phần loài các bộ Calanoida, Cycloida và Harpacticoida theo
không gian và thời gian (2009).
Trong năm 2010, sự chênh lệch của các loài Chân mái chèo trong Đầm Nha Phu
giữa các tháng là không lớn. Trạm 6 (Vịnh Bình Cang) luôn là trạm có số lượng loài
9


CMC cao hơn so với các trạm còn lại. Đối với Vịnh Nha Trang thì trạm 1B là trạm luôn
có số lượng loài CMC cao nhất ở tất cả các tháng trong năm 2010 (Hình 3.5).

Hình 3.5. Biến động thành phần loài các nhóm Calanoida, Cycloida và Harpacticoida
theo không gian và thời gian (2010).
3.2.3. Thành phần loài ĐVPD dựa trên tập tính bắt mồi
Dựa trên các nguồn tài liệu về tập tính và sinh học của các nhóm ĐVPD biển
(Fenchel 1988, Gustav-Adof và Sally 1980, Mauchline 1998, Sullivan và Kremer 2011,
Timonin 1971) đã chia chúng thành 3 nhóm động vật với tập tính bắt mồi khác nhau:


Nhóm dinh dưỡng

Động vật
ăn thực vật

Động vật
ăn tạp

Nhóm động vật
Có Bao (Tunicata)
Tổng số
Chân mái chèo (Copepoda)
Râu ngành (Cladocera)
Tôm Sen (Cumacea)
Chân bụng (Gastropoda)
Tổng số
Bơi nghiêng (Amphipoda)
Chân mái chèo (Copepoda)
Tôm trấu (Mysidacea)
Vỏ xíu (Ostracoda)
Hàm tơ (Chaetognatha)
Tổng số

SLL
20
76
76
3
2

Ở các trạm trong Đầm Nha Phu, sinh khối của ĐVPD chủ yếu được quyết định bởi
sinh khối của nhóm Ấu trùng giáp xác và nhóm Có Bao. Trong Vịnh Bình Cang, nhóm
Hàm tơ (Chaetognatha) luôn có sinh khối cao hơn so với các trạm còn lại trong vịnh,
trạm 2B có sinh khối trung bình cao nhất trong vịnh. Trong khu vực Vịnh Nha Trang,
trạm 1B với sinh khối trung bình của nhóm Hàm tơ có sinh khối trung bình chiếm 41%
tổng sinh khối và tiếp theo là nhóm Có Bao và nhóm Ấu trùng giáp xác (Hình 3.8)

Hình 3.8. Sinh khối trung bình các nhóm ĐVPD khu vực Đầm Nha Phu, Vịnh Bình
Cang – Nha Trang
3.2.5. Mối tương quan giữa quần xã ĐVPD với các yếu tố môi trường
Kết quả phân tích đa yếu tố (CCA) dựa trên giá trị t cho từng giá trị của sinh khối
các nhóm động vật và các yếu tố môi trường cho thấy có mối tương quan thuận về sinh
khối của các nhóm Chân mái chèo trưởng thành (Cope.A), nhóm Chân mái chèo thuộc
bộ Harpaticoida và nhóm ấu trùng giáp xác (Larv) với yếu tố nhiệt độ (giá trị t > 2).
12


Ngược lại, sinh khối của các nhóm động vật theo đặc tính bắt mồi (Động vật ăn thực
vật, Động vật ăn động vật, động vật ăn tạp) có chỉ số tương quan hồi quy t ngược lại so
với nhiệt độ (giá trị t > -2) (Hình 3.9a). Mối tương quan giữa các nhóm ĐVPD trong
khu vực nghiên cứu với độ mặn chỉ thể hiện rõ ở 2 nhóm: động vật ăn động vật (Carn)
và nhóm động vật Hàm tơ (Chaet) với t > 2. Các nhóm động vật còn lại không có mối
tương quan rõ ràng về sinh khối với 2 yếu tố nhiệt độ và độ mặn (Hình 3.9b).

Hình 3.9.. Tương quan tuyến tính (CCA (t-value biplots)) giữa sinh vật lượng các nhóm
ĐVPD và các yếu tố môi trường: nhiệt độ (a) và độ mặn (b).
Chú thích: Chl-a: Chl-a, Phyt: Thực vật phù du, Tem: Nhiệt độ, Sal: Độ mặn, Carn: động vật ăn động vật,
Herb: động vật ăn thực vật, Omni: động vật ăn tạp, Chae: Hàm tơ, Tuni: Động vật có bao, Larv: Nhóm ấu
trùng giáp xác, Cope.A: Chân mái chèo trưởng thành, Cope.D: Chân mái chèo giai đoạn con non, Harp: Bộ
Harpaticoida, Calju: Con non thuộc bộ Calanoida, Calad: Bộ Calanoida, Cyclju: Con non thuộc bộ

Vịnh Bình Cang. Các trạm trong Vịnh Nha Trang có độ giàu có loài thấp ở các trạm 9,
10 và cao ở các trạm 11, 12 và 1B (Hình 3.18a). Chỉ số đa dạng sinh học (H’) ở trạm 5
thấp nhất và có xu hướng tăng dần từ trong Đầm Nha Phu ra ngoài Vịnh Bình Cang –
Nha Trang (Hình 3.18b). Các trạm trong Vịnh Nha Trang và Vịnh Bình Cang có chỉ số
cân bằng Pileou tương đối cao cho thấy quần xã ĐVPD tương đối ổn định ở các trạm
14


(Hình 3.18c). Chỉ số đa dạng Simpson có xu thế giống với chỉ số đa dạng Shannon
(Hình 3.18d). Sự khác nhau về độ đa dạng giữa vùng Nha Phu với Bình Cang – Nha
Trang là sự sai khác có ý nghĩa (t-test, P < 0,05).

Hình 3.18. Biến động các chỉ số đa dạng sinh học: độ giàu có loài (a), chỉ số đa dạng
Shannon (b), chỉ số cân bằng Pileou (c) và chỉ số đa dạng Simpson (d) theo không gian.
Vào các tháng mùa khô: 4, 8, 12-2009, 2, 3 và 7-2010 thì độ giàu có loài (d’) có giá
trị cao hơn so với các tháng mùa
mưa: 9, 10, 11-2009, 1, 4, 5-2010.
Trong đó tháng 4-2010 có giá trị d’
thấp nhất và tháng 4-2009 có giá trị
d’ cao nhất trong tất cả các tháng
(Hình 3.19a). Chỉ số đa dạng
Shannon và Simpson có xu thế gần
giống nhau, thấp nhất vào tháng 112009 và cao nhất vào tháng 4-2009
(Hình 3.14b & 3.14d). Chỉ số cân
bằng Pielou đặc biệt thấp vào tháng
11-2009 (Hình 3.14c) và cũng là
tháng có chỉ số đa dạng Shannon và
Simpson thấp.
Hình 3.14. Biến động các chỉ số đa dạng sinh học: độ giàu có loài (a), chỉ số đa dạng
Shannon (b), chỉ số cân bằng Pileou (c) và chỉ số đa dạng Lamda (d) theo thời gian.

Oithona nana
Oikopleura fusiformis
Ấu trùng 2 mảnh vỏ
Oithona rigida
Ấu trùng Thân mềm
Euterpina acutifrons
Oithona (con non)
Oncaea (con non)

Nha Phu
5
4
2
1
1
5
5
3
2
4
4
3

Bình Cang
6
13 2B
1
1
2
5


5
4

4

9
3
2

10
1
3

3

1B

4
1

3

5

5

3
2


dần theo các nhóm kích thước (<20 μm -> 500 μm) với tỷ lệ hấp thụ đồng vị δ13C ≈ -1
‰. Trạm 1B và trạm 9 là 2 trạm có hệ thống bậc dinh dưỡng khá rõ ràng đối với các
nhóm động vật ở các kích thước khác nhau. Nhóm động vật có kích thước lớn (500900μm) là nhóm ĐVPD có vị trí cao nhất trong hệ thống bậc thức ăn ở các trạm này.
17


Các trạm 4 và Hòn Mun có chỉ số đồng vị δ13C của nhóm sinh vật < 20μm cao có thể là
do chịu sự ảnh hưởng của đồng vị cacbon từ mùn bã hữu cơ (trạm 4) và các loại vi
khuẩn có hàm lượng hữu cơ cao thải ra từ các hoạt động của rạn san hô (Hòn Mun)
(Hình 3.23).
Ở trạm 1B, đồng vị 15N của nhóm SVPD có kích thước < 20 µm thấp và cùng với
kết quả của 13C có thể thấy được rằng các loài SVPD của nhóm này thuộc vào nhóm
sinh vật sản xuất, có thể là các loài thực vật phù du có kích thước bé. Thông qua sự hấp
thụ 15N qua từng bậc thức ăn (từ 3 – 4 ‰) (Peterson và Fry 1987, Post 2002) thì có thể
thấy các nhóm SVPD ở trạm 1B có cùng bậc dinh dưỡng. Trạm 9 cho thấy sự hấp thụ
15
N của các nhóm có kích thước trên 125 µm với nhóm SVPD có kích thước 63 – 125
µmn vào khoảng 1,6 ‰ (nhóm 125 – 250 µm), 2 ‰ (nhóm 250 – 500 µm) và 2,68 ‰
(nhóm 500 – 900 µm) (Hình 3.17).

Hình 3.17. Đồng vị Cacbon (13C) (a) và Nitơ (15N) của các nhóm ĐVPD theo không
gian (C3 cây ngập mặn tham khảo từ kết quả của Fry và Sherr (1984).
3.3.3. Bậc dinh dưỡng của các nhóm loài sinh vật phù du biển.
Kết quả phân tích hàm lượng δ15N cho thấy nhóm sinh vật sản xuất bao gồm các
nhóm thực vật phù du (
và kéo dài đến 260h (CV) và trưởng thành vào khoảng thời gian 260 h (C) sau khi trứng
nở. Kích thước trung bình của các thể trưởng thành là 1,1 ± 0,02 mm (Bảng 4).
Bảng 4. Thay đổi kích thước của ấu trùng P. annandalei theo thời gian trong
điều kiện phòng thí nghiệm (30oC)
Giai đoạn

Ấu
trùng

NI
NII
NIII
NIV
NV
NVI

Chiều dài
(mm)
0,15 ± 0,22
0,17 ± 0,11
0,19 ± 0,01
0,22 ± 0,01
0,28 ± 0,004
0,31 ± 0,11

Thời gian
(h)
18
20
35

165
220
240
260

3.4.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến các sự phát triển của ấu trùng P. annandalei
Trong điều kiện nhiệt độ khác nhau thì kích thước và sự phát triển của ấu trùng và
con con của P. annandalei cũng có khác nhau. Tốc độ trăng trưởng qua các giai đoạn
phát triển ở nhiệt độ 20oC cao hơn so với các nhiệt độ còn lại, tuy nhiên dựa trên kiểm
tra t-test thì sự thay đổi nhiệt độ không ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của P.
annandalei (P > 0,05) (Bảng 6).
Bảng 6. Hệ số tăng trưởng của P. annandalei từ giai đoạn NI đến CIV theo nhiệt độ
Giai đoạn
phát triển
NI
NII
NIII
NIV
NV
NVI
CI
CII
CIII
CIV♂
CIV♀
CV♂
CV♀
C♂
C♀
HSTT

0,33±0,01 (n=3)
0,36±0,05 (n=3)

33

0,18± 0,01 (n=5)
0,24±0,01 (n=5)
0,29± 0,02 (n=3)
0,31±0,01 (n=3)
0,38±0,04 (n=3)
0,48±0,001 (n=3)

0,54±0,04 (n=3)
0,61±0,04 (n=3)
0,64±0,01 (n=3)
0,69±0,06 (n=3)
0,72±0,01 (n=4)
0,8±0,001 (n=3)
0,15

0,7±0,01 (n=3)
0,8±0,01 (n=4)
0,14

20

0,7±0,001 (n=3)
0,68± 0,01 (n=3)
0,8± 0,002 (n=3)
0,14

Trong đó, tháng 4 là tháng có số lượng ấu trùng nở ra thấp nhất (10 ± 5,3 ấu trùng/cá
thể cái) và tháng 7 là thời điểm P. annandalei có tỷ lệ nở của trứng cao nhất (18 ± 5,4
ấu trùng/cá thể cái) (Hình 3.22a). Tỷ lệ nở trung bình của trứng P. annandalei đạt 66 %
± 25,51. Trong đó, tỷ lệ nở trung bình của trứng trong tháng 8 và 7 cao nhất trong tất cả
các tháng với tỷ lệ nở lần lượt là 80 % ± 20,95 và 78 % ± 25,89 (Hình 3.22b).

Hình 3.22. Số lượng ấu trùng (a) và tỷ lệ nở (b) của P. annandalei theo thời gian
KẾT LUẬN CHUNG
Đã ghi nhận 194 loài ĐVPD thuộc 13 nhóm động vật trong khu vực nghiên cứu.
Trong đó nhóm Chân mái chèo (Copepoda) chiếm ưu thế với 111 loài, tiếp sau đó là
nhóm Có bao (Tunicata) với 20 loài và Sứa (Cnidaria) với 17 loài. Vịnh Nha Trang có
số lượng loài cao nhất (172 loài) trong khi Đầm Nha Phu chỉ có 75 loài. Số lượng loài
ĐPVD cao vào mùa khô (tháng 4 – 8) và thấp vào mùa mưa (tháng 9 – tháng 1) và tập
trung ở các trạm xa bờ trong Vịnh Nha Trang và Nha Trang. Mật độ ĐVPD có xu hướng
giảm dần từ Đầm Nha Phu đến Vịnh Nha Trang và Nha Trang và nhóm Chân mái chèo
là nhóm động vật quyết định chính đến tổng mật độ ĐVPD. Sự thay đổi về số lượng
loài và mật độ cá thể của các nhóm động vật ăn động vật (Hàm tơ, Ấu trùng giáp xác,
Có bao) có liên quan đến sự tăng hoặc giảm của nhóm Chân mái chèo.
Mật độ ĐVPD ở khu vực xa bờ tuy thấp hơn so với các trạm gần bờ và trong Đầm
Nha Phu nhưng sinh khối của ĐVPD ở các trạm này lại cao hơn nhiều bởi sự xuất hiện
với mật độ khá cao của nhóm ĐVPD có kích thước lớn như Hàm tơ, Có bao và nhóm
Ấu trùng giáp xác. Mật độ nhóm Chân mái chèo cao ở các trạm trong Đầm Nha Phu
nhưng sinh khối lại được quyết định bởi nhóm Ấu trùng giáp xác và nhóm động vật Có
bao. Vịnh Bình Cang – Nha Trang có các chỉ số đa dạng sinh học cao hơn hẳn so với
các trạm trong Đầm Nha Phu và sự sai khác về mặt địa lý là có ý nghĩa (P < 0,05).
Sự vận chuyển vật chất hữu cơ (13C & 15N) trong khu vực nghiên cứu được thể
hiện qua các bậc dinh dưỡng từ các nhóm sinh vật có kích thước từ nhỏ đến lớn. Nhóm
sinh vật sản xuất bao gồm các loài tảo và sinh vật có kích thước < 32 μm đến các sinh
22


động vật phù du thông qua phần mềm cơ sở dữ liệu Bio/Consult PLANKTONsys 3.11
Là nghiên cứu mới về sự vận chuyển vật chất hữu cơ trong lưới thức ăn của hệ sinh
thái cửa sông và vùng biển ven bờ Việt Nam thông qua phân tích đồng vị cacbon và
nitơ.
Là nghiên cứu mới về ảnh hưởng của các yếu tố nhiệt độ và độ mặn đến sự phát
triển của loài Chân mái chèo Pseudodiaptomus annandalei Sewell, 1919 ở Việt Nam.

23


CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
1. Trương Sĩ Hải Trình, Nguyễn Cho. 2011. Động vật phù du vùng cửa sông Nha
Phu, Vịnh Nha Trang, Khánh Hòa. Hội nghị Khoa học và Công nghệ biển toàn quốc
lần thứ 5 (4):239-245
2. Trương Sĩ Hải Trình, Nguyễn Cho, Nguyễn Tâm Vinh, Nguyễn Ngọc Lâm,
2012. Động vật phù du vùng cửa sông Nha Phu và Vịnh Bình Cang – Nha Trang. Kỷ
yếu hội nghị quốc tế Biển Đông, Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ. Tập
1, trang 87-98.
3. Nguyễn Cho, Trương Sĩ Hải Trình, Nguyễn Ngọc Lâm. 2012. Đa dạng loài động
vật phù biển Việt Nam – họ Acartidae (Copepoda). Tạp chí Sinh học 34 (3): 294 – 304.
4. Nguyễn Cho, Trương Sĩ Hải Trình, Nguyễn Tâm Vinh. 2013. Động vật hàm tơ
thuộc họ Sagittidae Grobben, 1905 ở vùng biển Nam Việt Nam. Tạp chí Khoa học và
Công nghệ biển. Tập 13 (1), trang 51 – 60.
5. Trinh Si-Hai Truong, Cho Nguyen, Nguyen-Ngoc Lam, K. Thomas Jensen.
2014. Seasonal and spatial distribution of mesozooplankton in a tropical estuary, Nha
Phu, South Central Viet Nam. Biologia 69 (1): 80-91.
6. Trương Sĩ Hải Trình, Nguyễn Tâm Vinh. 2015. Biến động thành phần loài và
sinh vật lượng động vật phù du tại trạm quan trắc môi trường biển Nha Trang, 2000 –
2011. Tuyển tập Nghiên cứu biển. Tập 21 (2):88-105.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status