Nghiên cứu thành phần loài, cấu trúc quần xã san hô cứng và hình thái rạn san hô ven đảo phú quý tỉnh bình thuận - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------------------------------------

Nguyễn Văn Hiếu

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, CẤU TRÚC
QUẦN XÃ SAN HÔ CỨNG VÀ HÌNH THÁI RẠN SAN HÔ
VEN ĐẢO PHÚ QUÝ TỈNH BÌNH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội, 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------------------------------------

Nguyễn Văn Hiếu

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, CẤU TRÚC
QUẦN XÃ SAN HÔ CỨNG VÀ HÌNH THÁI RẠN SAN HÔ
VEN ĐẢO PHÚ QUÝ TỈNH BÌNH THUẬN

Chuyên ngành: Thuỷ sinh vật học
Mã số: 60.42.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN HUY YẾT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1. Số lượng loài san tạo rạn ở các vùng ven biển Việt Nam…..............
……...Error: Reference source not found
Bảng 2. Độ phủ san hô tại một số vùng chủ yếu ven biển Việt NamError: Reference
source not found
Bảng 3. Biến đổi độ phủ san hô cứng, san hô mềm và san hô chết ở một số địa điểm
xung quanh quần đảo Côn Đảo quan sát trước và sau cơn bão Linda năm 1997Error:
Reference source not found
Bảng 4. Hàm lượng Cyanua trong môi trường nước xung quanh đảo Bạch Long Vĩ
tháng 5/1998............................................................Error: Reference source not found
Bảng 5. Toạ độ mặt cắt tại các vùng rạn nghiên cứu san hô ven đảo Phú Quý. Error:
Reference source not found
Bảng 6. Giới hạn cho phép của một số thông số môi trường nước sử dụng đánh giá
tổng thể môi trường.................................................Error: Reference source not found
Bảng 7. Giá trị của một số thông số môi trường nước cơ bản ven đảo Phú Quý Error:
Reference source not found
Bảng 8. Hàm lượng COD, dầu và xyanua trong nước biển ven đảo Phú Quý...Error:
Reference source not found
Bảng 9. Cấu trúc thành phần loài quần xã san hô cứng ven đảo Phú Quý.........Error:
Reference source not found
Bảng 10. Đa dạng thành phần loài san hô cứng vùng biển Đông Nam Bộ........Error:
Reference source not found
Bảng 11. Danh sách thành phần loài san hô cứng và phân bố ven đảo Phú Quý
.................................................................................Error: Reference source not found
Bảng 12. Chỉ số Sorensen về sự tương đồng của loài giữa các vùng rạn khảo sát san
hô ven đảo Phú Quý................................................Error: Reference source not found
Bảng 13. Giới hạn phân bố theo độ sâu của quần san hô ven đảo Phú Quý......Error:
Reference source not found


5 đới cấu trúc...........................................................Error: Reference source not found
Hình 9. Đới bằng rộng với sự phát triển loài ưu thế thuộc vùng rạn Đông Bắc Phú
Quý..........................................................................Error: Reference source not found
Hình 10. Đới sườn dốc với tính đa dạng loài cao thuộc vùng rạn Nam Phú Quý
.................................................................................Error: Reference source not found
Hình 11. Phân bố rạn san hô theo hiện trạng độ phủ san hô ven đảo Phú Quý..Error:
Reference source not found
Hình 12. Biến động độ phủ san hô sống, san hô chết ven đảo..........Error: Reference
source not found

vi


Phú Quý theo thời gian...........................................Error: Reference source not found
Hình 13. Hoạt động neo đậu tầu thuyền và sả thải chất ô nhiễm ven đảo Phú Quý
.................................................................................Error: Reference source not found
Hình 14. Hoạt động nuôi cá lồng bè tại các khu vực ven đảo Phú Quý.............Error:
Reference source not found
Hình 15. Phân bố rạn san hô theo hiện trạng độ phủ san hô ven đảo Phú Quý..Error:
Reference source not found
Hình 16. Phân bố hệ sinh thái rong cỏ biển tại khu vực ven đảo Phú Quý........Error:
Reference source not found
Hình 17. Bản đồ phân vùng chức năng khu bảo tồn biển Phú Quý. .Error: Reference
source not found

vii


MỞ ĐẦU
San hô cứng thuộc ngành động vật Ruột khoang (Coelenterata) chỉ sống ở

bảo tồn thiên nhiên biển.
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện trạng các rạn san
hô tại Việt Nam và có chung nhận định về sự suy giảm độ phủ san hô cũng như đa
dạng nguồn lợi sinh vật trong rạn và đưa ra các giải pháp bảo vệ nguồn lợi.
Để góp phần nhỏ vào công tác bảo tồn biển. Chúng tôi thực hiện đề tài “
Nghiên cứu thành phần loài, cấu trúc quần xã san hô cứng và hình thái rạn san hô
ven đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận” với các nội dung chính:
- Xác định thành phần loài, cấu trúc quần xã san hô cứng ven đảo Phú Quý, tỉnh
Bình Thuận.
- Xác định đặc điểm hình thái, diện tích và phân bố rạn san hô cứng ven đảo Phú
Quý, tỉnh Bình Thuận.
Với những kết quả nghiên cứu này nhằm bổ sung tư liệu về đa dạng sinh học
quần xã rạn san hô nói riêng và đa dạng sinh học biển nói chung của vùng ven biển
đảo Phú Quý. Từ đó kết hợp với các luận cứ khoa học cơ bản về điều kiện tự nhiên,
đa dạng sinh học, môi trường và xu hướng diễn thế của chúng trong mối tương quan
mật thiết với điều kiện thực tiễn kinh tế-xã hội làm cơ sở cho việc thiết lập xây
dựng và quản lý các khu bảo tồn biển mà trong đó hệ sinh thái rạn san hô đóng vai
trò đối tượng trung tâm.


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu rạn san hô trên thế giới.
Cuối thế kỷ XVIII, rạn san hô trở thành mối quan tâm lớn trên thế giới bởi vì
đây chính là nguyên nhân chủ yếu gây ra các vụ đắm tàu. Thật đáng ngạc nhiên khi
rạn san hô được quan tâm muộn như vậy vì một nửa đường bờ của Đại Tây Dương
nằm ở vùng nhiệt đới và 1/3 bờ biển nhiệt đới có san hô phân bố. Trong cuốn sách
“Rạn san hô” xuất bản năm 1842, Charles Darwin đã chỉ ra những vùng phân bố
chính của rạn san hô trên thế giới. Bản đồ này được coi là khá tin cậy trong phạm vi
lớn. Sau đó James Dana cũng có một công trình lớn vào năm 1872, tuy nhiên tác
phẩm đó lại bị Darwin phê phán do quan điểm về sự hình thành các đảo san hô

qua các rạn san hô trong Biển Đông trên con đường nghiên cứu học thuyết về sự
hình thành các đảo san hô vòng (atoll) [46]
Những nghiên cứu về phân bố rạn san hô thế giới ghi nhận có hàng ngàn rạn
san hô, giới hạn phân bố của chúng chỉ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trải từ
khoảng 30 độ vĩ tuyến Bắc đến 30 độ vĩ tuyến Nam nơi mà nhiệt độ nước biển hiếm
khi xuống dưới 180C. Diện tích bao phủ rạn san hô lên đến 6 x 10 5 km2 [48]. Sự
khác biệt về hình thái, thành phần sinh học, tính đa dạng và cấu trúc phản ánh đặc
trưng địa-sinh học, tuổi, phân vùng địa động vật và điều kiện môi trường. Tuy
nhiên, chúng không luôn luôn tồn tại như hiện nay mà đã trải qua một lịch sử thay
đổi, biến động liên quan chặt chẽ đến những sự kiện lớn về địa chất và khí hậu toàn
cầu.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu rạn san hô ở Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu về hệ sinh thái rạn san hô Việt Nam ghi nhận những kết
quả nghiên cứu của Ramble như những công trình nghiên cứu đầu tiên ở vùng Biển
Đông. Trong đó Smith (1890) [46] đã ghi nhận 14 giống san hô cứng ở quần đảo
Macclesfield và đảo san hô vòng Tigia (Trường Sa).
Trước những năm 1954 các chương trình nghiên cứu về san hô ở Biển Đông
nước ta phần lớn được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu người Pháp thuộc Viện Hải
Dương học Nha Trang. Các công trình nghiên cứu sau đó được xuất bản bằng tiếng
Pháp, trong đó đáng kể nhất là tập hợp kết quả công trình nghiên cứu của Chevey P


[3] và Krempf.A ([12]. Những khảo sát tiếp theo của Serene , R. [56] ; Dawydoff.
C.N., (1952) [54] ở nhiều vùng biển ven bờ cũng cho phép nêu lên những nhận định
về thành phần san hô cứng, cấu trúc và phân bố của một số rạn san hô ở vịnh Hạ
Long, vịnh Thái Lan, Côn Đảo và ven biển miền Trung.
Từ năm 1955 đến năm 1975, nghiên cứu về rạn san hô được tiến hành không
nhiều. Đáng chú ý nhất là hai công trình nghiên cứu ở vịnh Nha Trang của Trần
Ngọc Lợi (1955) [56] mô tả các quần xã sinh vật rạn san hô ở vùng nước nông và
tài liệu phân loại san hô mềm của Tixier - Durivault (1970)[45].


Năm 2006-2008 Đề tài“Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số

vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao
ở dốc thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi”.
-

Năm 2007-2009 Đề tài KC09 ”Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh

tế xã hội các khu bảo tồn biển trọng điểm phục vụ cho xây dựng và quản lý”.
Nội dung nghiên cứu bao gồm các kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học
biển, kết hợp với các nghiên cứu đánh giá kinh tế xã hội tại mỗi khu vực là những
tư liệu có giá trị cao trong định hướng thiết lập mạng lưới khu bảo tồn biển Việt
Nam trong thời gian tới.
1.2.1 Thành phần san hô cứng và san hô tạo rạn
Những nghiên cứu từ năm 1982 - 2004 đã xác định khoảng 400 loài thuộc 79
giống san hô cứng ở ven bờ biển Việt Nam. Kết quả thống kê thể hiện sự tương đối
giàu có về thành phần loài của vùng biển phía Nam với số lượng hơn hẳn vùng biển
phía Bắc và gần tương đương với các vùng giàu có san hô của thế giới như
Philippines (441 loài), Nam Papua New Guinea (282 loài), Biển Coral Sea (239
loài), Bắc Great Barrier Reef (324 loài), giữa Great Barrier Reef (343 loài) [50] và
Đông Indonesia (350 loài) [36]. Tổng số loài ghi nhận ở ven biển Việt Nam cho ta
nhận định rằng: Vùng biển Việt Nam là một trong những vùng có thành phần loài
san hô khá đa dạng của thế giới.
Trong 79 giống san hô cứng đã xác định ở Việt Nam, có 72 giống thuộc
nhóm san hô tạo rạn. Tuy nhiên, sự đa dạng loài san hô tạo rạn khá khác nhau giữa
các vùng phân bố (bảng 1).


Bảng 1. Số lượng loài san tạo rạn ở các vùng ven biển Việt Nam

56

186

Trung Trung Bộ

64

246

61

238

Nam Trung Bộ

77

400

71

350

Đông Nam Bộ

63

350


giống này có tỷ lệ số lượng loài khá cao ở vùng biển xung quanh đảo Amacusa và
Tanegashima – các vùng biển của Nhật Bản ít chịu ảnh hưởng của các dòng nước
ấm Kuroshio từ phía nam [50] và vịnh Bắc Bộ - Bắc Việt Nam. Trong khi đó, sự
khác nhau của thông số này giữa vùng biển phía Nam Việt Nam và các vùng còn lại
kể cả ở Okinawa ( Nhật Bản) không đáng kể.
Thống kê trên đây cho thấy, vịnh Bắc Bộ có thành phần loài nghèo hơn rõ rệt
so với các vùng biển ở phía Nam Việt Nam. Hơn nữa, sự phổ biến của rạn san hô ở
một số vùng trong Vịnh – nơi có nhiệt độ khá thấp vào mùa đông, còn bất ngờ ngay
cả đối với giới nghiên cứu. Vì vậy, liệu tính chất thành phần loài có sự khác biệt
giữa vịnh Bắc Bộ và các vùng biển phía Nam hay không.
Một số phân tích trên đây cho thấy, nếu không kể về số lượng, tính chất
thành phần loài san hô cứng của vùng biển ven bờ phía Nam Việt Nam không khác


biệt nhiều so với vịnh Bắc Bộ. Trong khi đó luận điểm phân vùng địa động vật của
Gurjanova, (1976) cho rằng khu hệ động vật vịnh Bắc Bộ thuộc phân vùng Trung
Hoa- Nhật Bản, còn vùng biển phía Nam từ 13 độ vĩ tuyến Bắc trở vào thuộc phân
vùng Ấn Độ-Mã Lai.( trích Võ Sĩ Tuấn ctv, 2005). Dường như tính chất thành phần
loài san hô cứng không phù hợp với luận điểm này. Đây cũng là cơ sở để một số tác
giả Maliautin & Latypov, 1991[9] phủ nhận phân chia vùng địa động vật ở Biển
Đông. Vấn đề cần xem xét thêm là hầu hết san hô cứng tạo rạn mang tính chất
nhiệt đới rõ rệt và đều phát tán từ trung tâm ở vùng nhiệt đới thông qua vai trò của
dòng chảy trên biển. Yếu tố này thay đổi theo mùa rất phức tạp đối với các vùng
biển ven bờ và chi phối tính chất khu hệ san hô. Ngay cả ở vùng biển vĩ độ cao phía
Bắc như Okinawa cũng có khu hệ san hô cứng khá điển hình nhờ ảnh hưởng của
dòng chảy Kuroshio. San hô tạo rạn không có con đường phát tán ngược lại từ phía
Bắc như nhiều nhóm sinh vật có nguồn gốc hình thành đa dạng khác. Vì vậy, cần
phải thận trọng khi dựa vào tính chất thành phần loài san hô để xem xét phân vùng
địa động vật.
1.2.2 Phân bố và đặc điểm sinh thái rạn san hô

do quá trình phát triển sinh - địa học của rạn san hô. Rạn san hô hiện tại có thể phân
bố đến độ sâu 40-50m và có diện tích rất rộng. Các đảo san hô vòng (atoll) điển
hình có thể kéo dài tới 50km và bao gồm các vành khuyên đảo nổi và bãi ngầm.
Lagun bên trong đảo san hô vòng chỉ có độ sâu dưới 50m, trong khi thềm ngoài dốc
đột ngột xuống hàng trăm mét. Một dạng hình thái khác là các đảo hoặc bãi ngầm
đơn độc chỉ rộng cỡ 2-3km với lagun nông ở bên trong chỉ sâu khoảng 5-7m [21].
1.2.3. Đặc điểm cấu trúc và hình thái rạn san hô.
Ở vùng biển Việt Nam, chỉ mới ghi nhận hai kiểu cấu trúc là rạn riềm (fringing
reef) và rạn dạng nền (plat-form reef). Ở vùng biển khơi xa, rạn san hô thuộc về một
kiểu cấu trúc hoàn toàn khác – đó là các đảo san hô vòng. Rạn dạng nền cũng tồn tại
với cấu trúc là các đảo hoặc bãi ngầm không liên kết thành dải hình vành khuyên
rộng lớn. Đây có thể coi là các “đảo san hô vòng giả” (pseudo-atoll).


Theo quan sát tổng quan đặc điểm hình thái rạn san hô ven bờ Việt Nam, rạn
riềm ven bờ chủ yếu tập trung từ Quảng Trị đến vịnh Cà Ná. Các rạn riềm ven bờ
đều không xuất hiện dọc đường bờ vịnh Bắc Bộ, Biển Đông và Tây Nam Bộ, nơi
mà các đường bờ biển và ảnh hưởng của sông đều không thuận lợi cho chúng. Rạn
riềm ven đảo phổ biến nhất ở vùng biển Việt Nam gồm: Các cụm đảo trên thềm lục
địa như Hạ Long, Cát Bà, Cô Tô, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, các đảo nhỏ ở Khánh Hoà,
Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du. Các điều kiện chủ yếu thuận lợi
cho rạn tồn tại bao gồm nền đáy cứng xung quanh đảo, ảnh hưởng của sông ngòi từ
đất liền đến đảo không lớn.
Về mặt hình thái các rạn san hô riềm nói chung thuộc vào hai dạng khác nhau:
rạn riềm điển hình và rạn riềm không điển hình. Rạn riềm điển hình là giai đoạn
hoàn chỉnh của quá trình hình thành rạn san hô và các thành phần cấu trúc của rạn
được hình thành đầy đủ.
Rạn dạng nền theo Veron J.E.N. (1986), được gọi là rạn dạng đốm - thuật
ngữ của Stoddard là rạn phát triển trên các bãi cạn, đồi ngầm. Cùng với quá trình
phát triển của địa chất, chúng có thể hình thành nên các đảo san hô. Kiểu rạn này ở

rạn không ở trạng thái tốt. Số liệu thống kê còn thể hiện các rạn ở xa bờ hoặc xa các
vùng tập trung dân cư thường có độ phủ, chất lượng rạn tốt hơn các khu vực rạn
vùng ven bờ [37]. Tổng hợp dẫn liệu các công trình nghiên cứu cho thấy tình trạng
độ phủ san hô cứng sống tại một số khu vực chủ yếu vùng ven bờ Việt Nam.[21]
(bảng 2).
Bảng 2. Độ phủ san hô tại một số vùng chủ yếu ven biển Việt Nam
Vùng nghiên cứu

Số điểm
khảo sát

Khoảng giao động
độ phủ (%).

Độ phủ trung
bình (%).

Năm
khảo sát

1

Hạ Long – Cát Bà

21

12 - 65

40,6 ± 15,2


5

18,4 – 53,7

33,9 ± 12,4

2002

5

Vịnh Nha Trang

8

5,6 – 44,4

26,4 ± 15,9

2002

6

Ninh Thuận

6

16,3 – 55,9

36,9 ± 13,5



Phú Quốc

6

28,7 – 52,5

42,2 ± 8,6

2002

10

Nam Du

4

37,8 – 62,8

47,4 ± 11,7

2002

11

Thổ Chu

4

4,6 – 15,9

Bảng 3. Biến đổi độ phủ san hô cứng, san hô mềm và san hô chết ở một số địa điểm
xung quanh quần đảo Côn Đảo quan sát trước và sau cơn bão Linda năm 1997
Địa

điểm

nghiên cứu

1994-1995 (Trước bão Linda)

4/1998 (Sau bão Linda)

SH cứng

SH mềm

SH chết

SH cứng

SH mềm

SH chết

Bến Đầm

44,7

0


47,50

19,38

0

Đất Dốc

37,5

0

20

19,69

1,25

58,20

Hòn Cau

52,0

0

42,0

0,63


85,31

Nguồn: Võ Sĩ Tuấn (2001)
Những dẫn liệu về hàm lượng Cyanua vượt chỉ tiêu cho phép ở vùng biển
Bạch Long Vĩ (bảng 4) minh chứng cho việc lạm dụng chất độc trong đánh bắt hải
sản.
Bảng 4. Hàm lượng Cyanua trong môi trường nước xung quanh đảo Bạch
Long Vĩ tháng 5/1998
Đối tượng
Nước biển

Hàm lượng (Trung bình)
0,38-1,12 mg/l (0,704 mg/l)

Ghi chú

Trầm tích đáy

2160-4190 mg/kg (2980 mg/kg)

Hàm lượng vượt tiêu

Rong biển tươi

20,01-60,24 mg/kg (38,85 mg/kg)

Thịt bào ngư tươi

310,5-732,4 mg/kg (544,1 mg/kg)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status