BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LẠI HUY TOẢN ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH VỤ HẬU CẦN TRÊN BIỂN CỦA
NGHỀ CÂU KIÊM NGHỀ MÀNH KHAI THÁC MỰC Ở ĐẢO
PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa – 2014
Tôi xin cam đoan luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình nghiên cứu
tài liệu, thực hiện các chuyến điều tra khảo sát thực tế ở Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.
Kết hợp với nguồn số liệu của đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ
hậu cần cho nghề khai thác hải sản xa bờ ở vùng biển miền Trung” và số liệu điều tra
hiện trạng nghề cá của các đề tài, dự án khác hiện được lưu trữ ở Phòng Nghiên cứu
Công nghệ Khai thác, Viện Nghiên cứu Hải sản. Tất cả số liệu sử dụng trong luận văn
đều do tác giả và đồng nghiệp trực tiếp thu thập trong các chuyến điều tra thực địa ở
địa phương, giai đoạn 2012 - 2014. Số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực,
được xử lý theo phương pháp khoa học và đảm bảo độ tin cậy.
Số liệu trong luận văn đã được Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, Lãnh đạo
Phòng Nghiên cứu Công nghệ Khai thác và Chủ nhiệm đề tài cấp Bộ nói trên cho phép
sử dụng. Kết quả nghiên cứu của luận văn là mới, không trùng lặp với bất cứ luận án
bảo vệ học vị nào đã có trước đây. Người cam đoan
Lại Huy Toản
ii
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Nghiên cứu ngoài nước 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu và khai thác mực trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu mô hình khai thác - dịch vụ hậu cần trên thế giới 6
1.2 Nghiên cứu trong nước 9
1.2.1 Nghiên cứu tập tính sinh học và khai thác mực 9
1.2.1.1 Nghiên cứu tập tính hấp thụ nguồn sáng của mực 9
1.2.1.2 Nghiên cứu khai thác mực ở nước ta 11
1.2.2 Nghiên cứu các mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần 12
1.2.3 Một số tồn tại của mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển 18
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG, TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Nội dung nghiên cứu 19
2.2 Tài liệu nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 21
2.3.1.1 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 21
2.3.1.2 Đối tượng nghiên cứu 22
2.3.2 Phương pháp điều tra thu mẫu 22
2.3.2.1 Phương pháp điều tra thứ cấp 22
2.3.2.2 Phương pháp điều tra sơ cấp 22
2.3.3 Phương pháp đánh giá, phân tích 22
2.3.4 Phương pháp xác định số lượng tàu cho một mô hình 24
2.3.4.1 Cơ sở để xây dựng mô hình 24
2.3.4.2 Phương pháp xác định số lượng tàu trong mô hình 24
2.3.4.3 Phương pháp xây dựng quy chế và tổ chức hoạt động mô hình 25
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 25
2.3.5.1 Xử lý số liệu về hiện trạng nghề cá ở Phú Quý – Bình Thuận 25
3.3.4 Chỉ số kinh tế của các mô hình trong một năm 54
3.3.4.1 Doanh thu của chuyến biển 54
3.3.4.2 Chi phí biến đổi trong năm 55
3.3.4.3 Lợi nhuận 56
3.3.4.4 Thu nhập trung bình của thuyền viên trong năm 57
3.3.4.5 Doanh lợi 58
v 3.3.5 Phân tích SWOT các tàu tham gia dịch vụ hậu cần trên biển 59
3.4 Xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần nghề câu kiêm mành 63
3.4.1 Xác lập cơ sở khoa học để xây dựng mô hình 63
3.4.2 Xác định số lượng tàu cho một mô hình 66
3.4.3 Quy mô hoạt động của dạng mô hình tàu mẹ - tàu con 67
3.4.4 Quy chế hoạt động của dạng mô hình tàu mẹ - tàu con 68
3.4.5 Phương thức hoạt động của dạng mô hình tàu mẹ - tàu con 70
3.4.5.1 Tổ chức sản xuất 70
3.4.5.2 Phương thức xếp dỡ và vận chuyển sản phẩm 70
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
4.1 Kết luận 73
4.2 Kiến nghị 74
PHỤ LỤC 78
Phụ lục I: Một số hoạt động khảo sát thực tế 78
Phụ lục II: Bản vẽ trang bị ngư cụ trên tàu câu kiêm mành 79
Phụ lục III: Điều kiện cơ sở hạ tầng nghề cá ở khu vực miền Trung 81
Phụ lục V: Các chỉ số về đánh giá trình độ công nghệ và hiệu quả kinh tế 93
Phụ lục VII: Phiếu điều tra trên biển 97
vi
Doanh lợi
DK1
Nhà giàn DK1
DT :
Doanh thu
DVHC :
Dịch vụ hậu cần
ĐCSC - ĐC :
Động cơ diesel lai máy phát điện (máy phụ)
ĐVT :
Đơn vị tính
FAO :
Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc
FL :
Flourescent Light - bóng huỳnh quang
GDP
Tổng sản phẩm nội địa
GT :
Gross Tonnage - Tấn dung tải (1 GT = 2,83m
3
)
Chiều dài toàn bộ
vii Ln :
Lợi nhuận
MDK :
Mạch điều khiển (hệ thống chiếu sáng)
MF :
Máy phát điện
MC :
Máy chính
MH
:
Metal Halide - cao áp Halogenkim loại
SEAFDEC :
Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á
SL :
Sản lượng
PA :
Poly Amid
PE :
Bảng 3.7 Kích thước và thông số cơ bản vỏ, máy 35
Bảng 3.8 Hiện trạng trang bị máy hàng hải 36
Bảng 3.9 Tỷ lệ trang thiết bị phòng nạn 37
Bảng 3.10 Trang bị hệ thống điện trên 1 đơn vị tàu 39
Bảng 3.11 Thông số về vật liệu cách nhiệt, vách hầm 40
Bảng 3.12 Thông số cơ bản của lưới mành 44
Bảng 3.13 Thông số cơ bản của câu tay 44
Bảng 3.14 Chất lượng và giá trị sản phẩm của các mô hình 51
Bảng 3.15 Năng suất khai thác trung bình các nghề 51
Bảng 3.16 Hiệu quả sản xuất của các tàu trong năm 52
Bảng 3.17 Hiệu quả sản xuất của các tàu dịch vụ hậu cần trong năm 54
Bảng 3.18 So sánh những lợi ích khi hoạt động trên biển của các tàu 59
Bảng 3.19 So sánh những khó khăn gặp phải trên biển của các tàu 60
Bảng 3.20 So sánh hiệu quả kinh tế giữa các tàu khai thác hải sản 63
Bảng 3.21 So sánh kết quả hoạt động của tàu dịch vụ hậu cần 64
Bảng 3.22 So sánh kết quả hoạt động của các tàu khai thác 65
Bảng 3.23 Năng lực khai thác của dạng mô hình tàu mẹ - tàu con 66
Bảng 3.24 Tổng hợp đề xuất hoạt động dạng mô hình tàu mẹ - tàu con 67
ix DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sự phân bố một số loài mực ống trên thế giới 4
Hình 1.2 Sơ đồ bố trí nguồn sáng khai thác mực bằng nghề câu tay 5
Hình 2.1 Phạm vi ngư trường nghiên cứu 21
Hình 2.2 Sơ đồ phương pháp nghiên cứu 29
Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống điện và nguồn sáng 38
Hình 3.2 Liên kết máy chính và máy Dinamo 39
Hình 3.3 Sơ đồ bố trí đặt hầm cấp đông 39
lượng khai thác hải sản không ngừng tăng lên, giá trị xuất khẩu mặt hàng thủy sản năm
2013 đạt 7 tỷ đô la. Tuy nhiên, do đặc điểm nghề cá nước ta là nghề cá quy mô nhỏ và
hoạt động đơn lẻ, năng suất đánh bắt trên một đơn vị cường lực tàu đang suy giảm từ
0,39 tấn/cv/năm (năm 2005) xuống 0,24 tấn/cv/năm (năm 2012), chất lượng sản phẩm
giảm tới 40-70%[12], chi phí sản xuất ngày càng tăng dẫn đến hiệu quả kinh tế chuyến
biển ngày càng giảm. Ngoài ra, tính an toàn hàng hải trên biển chưa cao tỷ lệ trang bị
trên các tàu như: tránh va 35,37%, cứu sinh 41,1%, cứu thủng 43,33%, cứu hỏa 39,2%,
máy điện hàng hải 31,43% (Phan Trọng Huyến, 2000).
Đứng trước tình hình đó ngư dân ở một số địa phương đã hợp tác với nhau để
thành lập các tổ (đội) khai thác, với mục đích là tăng hiệu quả khai thác, giảm thiểu rủi
ro, hỗ trợ nhau trong tìm kiếm ngư trường và tăng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí
sản xuất khi giá xăng dầu gia tăng. Điển hình các mô hình tổ chức khai thác, dịch vụ
hậu cần như: Mô hình luân phiên là mô hình một chủ nhiều tàu (khoảng 3 – 5 chiếc)
hoặc các chủ tàu có quan hệ họ hàng với nhau thành lập nhiều tàu trong cùng một khu
vực (khoảng 5 – 10 chiếc). Khi tổ chức khai thác trên biển các tàu trong 1 mô hình sẽ
phân ra các ngư trường và phát hiện ngư trường nào tốt sẽ báo cho các tàu trong mô
hình biết. Khi đủ sản phẩm thì luân phiên vận chuyển sản phẩm về bờ và mang nguyên
vật liệu để cung ứng lại các tàu đang hoạt động. Khi về bờ chủ tàu có trách nhiệm tiêu
thụ sản phẩm và lấy nguyên vật liệu đầy đủ cho các tàu đang hoạt động trên biển (nếu
thiếu). Các tàu dạng này ăn chia chung (chủ 40%, bạn 60%) sau khi trừ chi phí (03
tháng ăn chia 1 lần). Tuy nhiên, dạng mô hình này ăn chia chung nên hay nảy sinh
mâu thuẫn giữa các thành viên (do các tàu trong mô hình khai thác sản lượng không
đồng đều nhau), vốn đầu tư lớn (khoảng 5 – 10 tỷ đồng/01 mô hình). Vì vậy, tồn tại
được dạng mô hình này cần phải đầu tư đồng bộ, trình độ thuyền trưởng và các thuyền
viên phải ngang nhau; Mô hình tổ chức thành tổ/đội khai thác trên biển các tàu này
hoạt động độc lập, hạch toán kinh tế riêng lẻ. Khi ra biển các tàu này thường xuyên
liên lạc với nhau để trao đổi thông tin về ngư trường và hỗ trợ nhau khi gặp khó khăn.
Tuy nhiên, các tàu hoạt động theo mô hình này chi phí sản xuất cao hơn so với các tàu
2
Nội dung của luận văn
Nội dung 1: Điều tra thực trạng tàu thuyền và các mô hình dịch vụ hậu cần ở
huyện đảo Phú Quý
3 Nội dung 2: Đánh giá hiệu quả sản xuất của nghề câu kiêm nghề mành khai thác
mực tham gia dịch vụ hậu cần trên biển
Nội dung 3: Đề xuất mô hình dịch vụ hậu cần trên biển của nghề câu kiêm nghề
mành khai thác mực phù hợp với điều kiện nghề cá Phú Quý.
4 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu và khai thác mực trên thế giới
Mực và động vật chân đầu khác là nguồn thực phẩm quý đối với đời sống con
người và là mối quan tâm lớn của giới khoa học. Các nghiên cứu về nguồn lợi, quy
luật phân bố, biến động sản lượng, …của động vật chân đầu ngày càng được quan tâm
nhằm có được những cơ sở dữ liệu cần thiết cho việc nâng cao năng suất đánh bắt và
bảo vệ lâu dài nguồn lợi này [21].
Theo kết quả nghiên cứu của Roper (1984) đã phát hiện được 7 giống và 31 loài
mực ống. Mực ống phân bố ở vùng nước thềm lục địa của tất cả các vùng biển trên thế
giới từ Bắc cực đến Nam cực. Mật độ phân bố của mực ống không lớn và không phụ
thuộc vào dòng chảy. Năng suất khai thác cao thường ở vùng nước ven bờ. Ngư
trường khai thác mực ống bao gồm: vùng dốc thềm lục địa của California, vùng nước
mát ở dốc thềm lục địa xung quanh đảo Falkland của Manivơ và dốc thềm lục địa của
Đông Nam Á [21]. Sự phân bố của một số loài mực ống trên thế giới được thể hiện ở
hình 1.1:
Nhật Bản là nước đã sớm sử dụng rộng rãi ánh sáng điện vào thực tế đánh bắt
nhiều loài cá, mực từ năm 1900. Những năm 1975, 1976 ở Nhật Bản trang bị công suất
nguồn sáng khai thác mực trên một đơn vị tàu từ 100 – 8.000 W, công suất nguồn sáng
trên một bóng đèn khai thác mực từ 100 – 1.000 W. Sản lượng các nghề có sử dụng
ánh sáng ở Nhật Bản chiếm khoảng 25% tổng sản lượng khai thác hàng năm [17].
Hình ảnh trang bị nguồn sáng trên tàu câu mực của Nhật Bản trong những năm
của thập niên 80 qua tài liệu [17].
Hình 1.2. Sơ đồ bố trí nguồn sáng khai thác mực bằng nghề câu tay
Ở Philippin, Indonesia nghề đánh cá kết hợp ánh sáng phát triển mạnh vào
6 những năm 1960-1965. Ở các nước Nam Tư (cũ), Ý, Pháp cũng đã có nhiều thành
công trong sử dụng nguồn ánh sáng điện để đánh cá, mực. Tuy nhiên, việc sử dụng
nguồn sáng và kỹ thuật lắp đặt nguồn sáng trên tàu ở các nước là khác nhau [23].
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài: “Bước đầu đánh giá hiệu quả cường độ
chiếu sáng cho nghề lưới vây ở Thái Lan” [24] đã đưa ra kết luận:
+ Việc nâng cao công suất nguồn sáng có thể làm tăng hiệu quả tập trung đàn
cá trên diện rộng, nhưng không có hiệu quả để giữ đàn cá quanh nguồn sáng.
+ Khi dùng đèn chiếu sáng trên mặt nước, thay vì nâng công suất nguồn sáng
thì nên nâng độ cao treo đèn sẽ có lợi hơn.
+ Một đèn chiếu sáng trong nước có lợi hơn trong việc tăng độ sáng theo chiều
thẳng đứng. Khi đặt một đèn có công suất 3kW hoặc 5kW ở độ sâu lớn hơn 5m ở ngư
trường xa bờ sẽ bảo vệ được ấu trùng của nguồn lợi thuỷ sản.
Nghiên cứu cho rằng ở Thái Lan vào năm 1980 chỉ có 115 tàu nghề mành khai
thác mực đạt sản lượng là 3.013 tấn đến năm đến năm 1982 đã có 637 chiếc làm nghề
nhiên liệu, vật tư, để tiếp tục chuyến biển khác. Những tàu này thường đi vào các
cảng cá mỗi năm từ 2 - 3 lần để bán sản phẩm và lấy nhiên liệu, vật tư [18].
Kết quả nghiên cứu của Naozumi Miyabe năm 2004 cho rằng nghề cá ở Hàn
Quốc có nghề cá công nghiệp phát triển mạnh. Các tàu hoạt động theo mô hình khai
thác đơn lẻ kiểu này phát triển ở các đội tàu như: nghề lưới kéo, nghề vó mạn tàu,
nghề lưới vây kết hợp ánh sáng. Các đội tàu có trọng tải từ 200 - 400 (tấn), các tàu này
thuộc những công ty tư nhân lớn quản lý, khi đi khai thác ở những ngư trường ngoài
Hàn Quốc, như ngư trường ở Mỹ, Canada, Anh, Uruguay, Peru, Achentina, là sẽ ký
kết khai thác trong một thời gian nhất định theo quy định pháp luật của các nước đó.
Sản phẩm khai thác được có thể bán tại các nước sở tại hoặc mang về Hàn Quốc bán.
Makoto, Peter Miyake năm 2004 cho rằng hình thức hoạt động của mô hình này
ở Nhật Bản là các nghề săn bắt cá voi khai thác ở ngư trường Nam Thái Bình Dương;
nghề câu cá ngừ đại dương khai thác ở ngư trường Thái Bình Dương, Tây và Trung
Đại Tây Dương, phía Tây Địa Trung Hải; nghề lưới vây kết hợp ánh sáng khai thác ở
ngư trường Đông Ấn Độ Dương; nghề câu chạy ở ngư trường Tây, Trung và Nam
Thái Bình Dương. Tất cả sản phẩm khai thác được ở các đội tàu này là được mang về
Nhật Bản.
Các nghiên cứu của tổ chức SEAFDEC; và các nhà khoa học Flewwelling, P.;
Cullinan, C.; Balton, D.; Sautter, R.P.; Reynolds, J.E (2002); John Caddy (2005) cho
rằng tại các nước Tây Ban Nha, Chi lê, Croatia, phương thức hoạt động dạng mô
hình này xuất hiện ở các đội tàu câu cá ngừ đại dương, nghề lưới vây
* Mô hình tàu mẹ - tàu con: có dạng là 1 tàu mẹ có công suất và trọng tải lớn,
trang bị hệ thống cấp đông hiện đại, các tàu con khai thác sẽ chuyển sản phẩm cho tàu
8 mẹ và nhận nhiên liệu, vật tư từ tàu mẹ để tiếp tục đánh bắt. Qui mô và phương thức
hoạt động mô hình này được thực hiện ở các nước sau:
Theo nghiên cứu của Cheng – Hsin Liao năm 2001 cho thấy ở Đài Loan đội tàu
câu cá ngừ đại dương hoạt động ở vùng biển nhiệt đới áp dụng mô hình này. Các tàu
* Mô hình hợp tác xã: mô hình này được áp dụng cho tàu cá qui mô nhỏ. Ngư
dân vào Hợp tác xã nhưng tài sản, tàu thuyền, ngư cụ, thuộc quyền sở hữu riêng.
Hợp tác xã có nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm và cung cấp các dịch vụ hậu cần cho ngư
dân (do ngư dân yêu cầu). Việc tiêu thụ sản phẩm và cung cấp nhiên liệu, lương thực,
nước ngọt cho các tàu khai thác có thể do các tàu trong hợp tác xã tự đảm nhiệm. Mô
hình dạng này được thực hiện ở các nước sau:
Kết quả nghiên cứu của J. Nakano năm 2004 ở Nhật Bản đã xây dựng mô hình
Hợp tác xã có đặc điểm chính như sau [26]:
+ Tất cả chủ tàu đều có thể tham gia Hợp tác xã.
+ Tài sản, tàu thuyền vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ tàu.
+ Hợp tác xã chỉ làm dịch vụ bao tiêu sản phẩm cho xã viên, dịch vụ cầu cảng,
kho lạnh, hậu cần, Các xã viên chỉ phải trả một phần chi phí nhất định tuỳ theo các
dịch vụ mà họ yêu cầu hợp tác xã đáp ứng. Việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ
hậu cần được tổ chức minh bạch, rõ ràng theo hình thức bán đấu giá ở các chợ cá. Ở
Nhật Bản nếu các chủ tàu không vào hợp tác xã thì sẽ không bán được cá. Vì vậy,
100% ngư dân Nhật là xã viên hợp tác xã.
Kết quả nghiên cứu của Jamaluddin b.Ibrahim năm 2006 cho rằng ở Malaysia
chính phủ nước này đã xây dựng mô hình hợp tác xã [26]. Sản phẩm sau khi khai thác
ngư dân sẽ giao cho hợp tác xã để bán. Hợp tác xã sẽ bán theo hình thức đấu giá ở các
cảng cá.
Như vậy, ở các nước trên thế giới và trong khu vực hiện nay tồn tại chủ yếu 3
dạng mô hình chính: mô hình tàu khai thác đơn lẻ công nghiệp, mô hình tàu mẹ - tàu
con và mô hình hợp tác xã. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện nghề cá của mỗi nước
để lựa chọn và đưa ra được mô hình hiệu quả nhất. Các kết quả nghiên cứu về mô hình
dịch vụ hậu cần nghề cá trên thế giới và khu vực Đông Nam Á cho thấy mô hình dạng
“tàu mẹ - tàu con” có thể áp dụng cho nghề cá ở Việt Nam.
1.2 Nghiên cứu trong nước
1.2.1 Nghiên cứu tập tính sinh học và khai thác mực
1.2.1.1 Nghiên cứu tập tính hấp thụ nguồn sáng của mực
Từ các công trình nghiên cứu sinh học mực, các nhà khoa học đã rút ra các kết
ảnh hưởng của nguồn sáng đến kỹ thuật khai thác mực ống, nhưng những kết quả này
chưa đưa ra các giải pháp kỹ thuật để tăng năng suất khai thác đối với các loài mực
ống. Vì thế, cần có những nghiên cứu đầy đủ hơn về công nghệ khai thác mực như:
nghề câu kiêm mành khai thác mực ống ở nước ta.
11 1.2.1.2 Nghiên cứu khai thác mực ở nước ta
Sử dụng ánh sáng nhân tạo trong khai thác hải sản ở nước ta có từ những năm
1950. Trước đây, ngư dân chủ yếu sử dụng ánh sáng đèn măng xông để thu hút cá,
mực tập trung. Hiện nay, đèn măng xông không còn được sử dụng mà thay vào đó là
các loại bóng đèn cao áp có khả năng thu hút cá, mực tập trung tốt hơn. Các nghề khai
thác hải sản ở nước ta có sử dụng ánh sáng bao gồm: nghề lưới vây, lưới mành, lưới
vó, lưới chụp mực, lưới vó mạn tàu (pha xúc) và câu mực[10]. Đối tượng khai thác
chính của các nghề trên là các loài cá nổi nhỏ như cá nục, cá trích, cá bạc má, mực
ống và mực xà,
Nhìn chung, sử dụng ánh sáng trong khai thác hải sản ở nước ta chủ yếu cũng
dựa vào kinh nghiệm thực tiễn của ngư dân và phụ thuộc vào từng nghề, từng đối
tượng khai thác.
Các bóng đèn điện được sử dụng để thu hút cá, mực tập trung đa dạng về chủng
loại và có công suất chiếu sáng khác nhau nhưng phổ biến là ánh sáng trắng và chiếu
trên mặt nước. Bóng đèn chiếu dưới mặt nước (đèn ngầm) cũng từng được sử dụng
trong nghiên cứu thực nghiệm vào những năm 1963-1964 ở nước ta và cũng từng
được đưa vào sử dụng trong khai thác thương phẩm trong những năm gần đây.
Theo Nguyễn Văn Lục năm 1991 cho thấy từ năm 1962-1963, Việt Nam hợp tác
với Liên Xô tiến hành nghiên cứu thử nghiệm ánh sáng điện với công suất nguồn sáng
là 13,6 kW để thu hút cá tập trung rồi dùng lưới nâng hình chóp để khai thác. Kết quả
bắt được các loài cá nổi nhỏ như cá nục, cá cơm, cá trích và mực,
Và từ năm 1963-1964 Việt Nam hợp tác với Triều Tiên về nghiên cứu thử
nghiệm nguồn sáng điện bằng đèn huỳnh quang chiếu trên và dưới mặt nước để đánh
lưới vây sử dụng ánh sáng đèn ngầm và các loại ánh sáng màu chiếu trên mặt nước ở
vùng biển xa bờ miền Trung và miền Nam. Kết quả cho rằng loại ánh sáng màu trắng
đạt hiệu quả cao nhất.
Như vậy, trong nước cũng đã có những công trình nghiên cứu về tập tính sinh
học một số loài mực ống và công nghệ khai thác đối với các loài mực này. Đây cũng là
cơ sở để luận văn phân tích và đánh giá hiện trạng công nghệ khai thác nghề câu kiêm
mành khai thác mực ở khu vực Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. Kết quả nghiên cứu sẽ đưa
ra một số nhận định có cơ sở để phát triển nghề này theo xu hướng bền vững.
1.2.2 Nghiên cứu các mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần
Từ sau khi đất nước giải phóng đến năm 2000 các Viện nghiên cứu thuộc Bộ
Thủy sản (cũ) tập trung nghiên cứu về mô hình hợp tác xã nghề cá (kiểu cũ). Các hợp
tác xã với quan hệ sản xuất là sở hữu tập thể tư liệu sản xuất (tàu thuyền, ngư cụ ).
Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động, mô hình hợp tác xã đã bộc lộ nhiều yếu kém và
13 tan rã. Kết quả nghiên cứu đưa ra mặt yếu kém đó là quan hệ sỡ hữu chung, chính vì vậy
mà của cải làm ra được xem là của cải chung. Cũng trong giai đoạn này nghề cá lạc hậu
và khai thác kém hiệu quả vì tích luỹ để phát triển sản xuất hầu như không có. Nhiều
hợp tác xã, quốc doanh nhà nước làm ăn thua lỗ, một số hoạt động có hiệu quả thì xảy ra
tình trạng tham nhũng, làm cho người dân rơi vào hoang mang không có lòng tin đối với
các mô hình này.
Từ năm 2000 trở lại đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về mô hình sản xuất
trên biển, các công trình nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu theo hướng đánh giá
hiện trạng hoạt động của các mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần nghề cá. Kết quả
nghiên cứu về hiện trạng các dạng mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần nghề cá ở nước
ta hiện nay như sau:
* Mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần dạng tàu mẹ - tàu con.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Duy Chỉnh năm 2009 đưa ra: