Đại học quốc gia hà nội
trờng đại học khoa học tự nhiên
Nguyễn Thùy Liên
nghiên cứu thành phần loài và cấu trúc khu
hệ tảo và vi khuẩn lam tại một số thuỷ vực
thuộc vùng mã đà, tỉnh đồng nai
Chuyên ngành : Thực vật học
Mã số : 62 42 20 01
Tóm tắt luận án tiến sĩ ngành sinh học
Hà Nội - 2009
Công trình đợc hoàn thành tại: Khoa Sinh học, trờng Đại học
Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ngời hớng dẫn khoa học:
1. TS. Đặng Thị Sy
2. TS. Trần Văn Thụy
Phản biện 1: GS. TSKH. Trịnh Tam Kiệt
Phản biện 2: PGS. TS. Trần Ninh
Phản biện 3: PGS. TS. Trần Minh Hợi
Luận án sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng cấp nhà nớc chấm luận án
tiến sĩ họp tại
Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Th viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin Th viện, Đại học Quốc gia Hà Nội.
danh mục các công trình đã công bố
của tác giả liên quan đến luận án
1. Nguyễn Thuỳ Liên, Đặng Thị Sy (2005), "Dẫn liệu bớc đầu về
hệ tảo và Vi khuẩn lam tại suối Mã Đà, tỉnh Đồng Nai", Tuyển
tập Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong Khoa học Sự sống,
NXB Khoa học & Kỹ thuật, trang 221- 225.
Đồng Nai là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và có
hệ thống về tảo và vi khuẩn lam trên toàn khu vực Mã Đà chính là
đáp ứng tính cấp thiết trên.
Mục đích của luận án:
Điều tra, xác định thành phần loài và cấu trúc hệ tảo và vi khuẩn
lam tại các thuỷ vực thuộc vùng Mã Đà, tỉnh Đồng Nai.
2
Nghiên cứu sự phân bố của thành phần loài tảo và vi khuẩn lam
trong vùng Mã Đà theo thời gian và loại hình thủy vực.
Đánh giá chất lợng môi trờng nớc tại khu vực nghiên cứu trên
cơ sở cấu trúc và thành phần khu hệ tảo và vi khuẩn lam.
ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
ý nghĩa khoa học: Kết quả của luận án là tài liệu cho phân loại tảo
và Vi khuẩn lam, bổ sung kiến thức chuyên ngành thực vật, góp
phần cho đánh giá đa dạng sinh học vùng Mã Đà nói riêng và cả
Việt Nam nói chung.
ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả của luận án là cơ sở khoa học trong
việc quy hoạch bảo tồn, sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh
học và cho công tác đào tạo.
Điểm mới của luận án:
Đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu đầy đủ và có hệ
thống về hệ tảo và Vi khuẩn lam tại vùng Mã Đà, tỉnh Đồng Nai.
Bổ sung 34 loài và dới loài tảo mới cho Việt Nam.
Xác định đặc điểm phân bố và cấu trúc của hệ tảo và Vi khuẩn
lam vùng Mã Đà, lấy đó làm cơ sở để đánh giá chất lợng các
thủy vực trong khu vực nghiên cứu và xác định công thức đánh giá
chất lợng nớc phù hợp với từng loại hình thủy vực.
Bố cục của luận án:
Luận án gồm 140 trang (không kể phụ lục), 43 hình, 1 bản đồ,
1 sơ đồ, 4 biểu đồ, 17 bảng đợc chia thành các phần sau: Mở đầu (4
của J. Ralfs (1848), J. B. Delponte (1873), West W. & West G.S.
(1904- 1922), H. Skuja (1948), Zabelina (1951), Savicz (1951, 1954),
M.S. Randhawa (1959), Minoru Hirano (1992), Takaaki Yamagishi
và Masaru Akiyama (1994-1995), J. Komárek và K. Anagnostidis
4
(1998, 2005), H.S. Pundhir và M. Khan (1999), F.D. Opute (2000),
Tahir Atici (2002), Aydin Akbulut (2003), Akihiro Tuji (2003), P.K.
Misra, A.K. Srivastava, J. Prakash , J. Komỏrek & Jaroslava
Komỏrkovỏ (2004), Siripen Traichaiyaporn và cộng sự (2004), D.K.
Asthana và S.K. Rai (2005), Wei Yinxin và Yu Minjuan (2005), S.K.
Rai (2006), Jui-Yu Chou, Wei-Lung Wang (2006), Bỹlent ahin
(2007), Okan ệZTĩRK (2007), FENG Jia XIE Shu-Lian YAO Ge
(2007).
Bên cạnh việc nghiên cứu thành phần loài tảo trong các thuỷ
vực, nhiều tác giả đã chú ý đến mối tơng quan với hiện trạng môi
trờng nớc. Có thể kể đến các công trình của Nygaard (1949),
Liebmann (1962), Schroevers (1965), Fefoldy Lajos (1980), Eva
Willén (2001), Almeida, S. F. P. (2001), Giuseppe Morabito, Delio
Ruggiu và Pierisa Panzani (2002), Jurisic Ivana (2004),
Kasperoviien J. và Vaikutien G. (2007).
1.2. Lịch sử nghiên cứu tảo và vi khuẩn lam ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu tảo và vi khuẩn lam ở Việt Nam
đợc tiến hành muộn hơn so với thế giới nhng cũng đã có một số
thành tựu nhất định.
Những nghiên cứu ban đầu về tảo ở Việt Nam chủ yếu đợc
thực hiện bởi các nhà khoa học nớc ngoài nh J. Loureiro (1793),
M. D. Bois và P. Petit (1904), P. Fremy (1927), M. Lefevre (1933),
Shirota (1966).
Những nghiên cứu về phân loại tảo và Vi khuẩn lam ở Việt
Nam còn rất hạn chế. Chính vì vậy, các công trình về phân loại chúng
6
1.3. Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
1.3.1 Vị trí và diện tích khu vực nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu có phía Đông tiếp giáp với hồ Trị An và
vùng đồi Định Quán, phía Tây đợc giới hạn bởi sông Bé, đây cũng là
ranh giới giữa tỉnh Đồng Nai và Bình Dơng. Thị trấn Vĩnh An,
huyện Vĩnh Cửu là ranh giới phía Nam của khu vực. Phía Bắc là Bình
Phớc và Nam Cát Tiên.
Toạ độ địa lý của khu vực nghiên cứu đợc xác định từ 11
o
0841 11
o
3216 Vĩ độ Bắc, 106
o
5514 107
o
3520 Kinh độ
Đông.
Diện tích vùng nghiên cứu là 68.368 ha.
1.3.2 Đặc điểm khí hậu
Khu vực Mã Đà nằm trong vùng khí hậu Đông Nam Bộ có
hai mùa rõ rệt: mùa ma và mùa khô.
1.3.3 Địa hình
Vùng nghiên cứu có địa hình tơng đối bằng phẳng, có đồi
thấp, nhìn chung có dạng gợn sóng, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ
Tây sang Đông. Do vậy, sông suối trong toàn vùng đổ vào hồ Trị An
hoặc sông Bé.
1.3.4 Thảm thực vật
Nhìn chung rừng trong toàn khu vực đã bị khai thác kiệt về
gỗ nhng những cây không có giá trị, cây gỗ nhỏ và cây tái sinh vẫn
khu sinh thái đặc trng trong khu vực, thờng là vùng có nhiều suối,
ao, hồ và đầm.
Trên 12 tuyến nghiên cứu đã thiết lập 70 điểm thu mẫu cho 8
loại thủy vực: hồ, hồ trữ nớc phòng cháy, đầm, ao nuôi, giếng nớc,
ruộng lúa, mơng dẫn và suối. Trong các loại thủy vực trên có hồ,
8
một số hồ trữ nớc phòng cháy rừng, giếng nớc và suối Bà Hào, suối
Mã Đà là có nớc quanh năm. Các thủy vực khác chỉ có nớc vào
mùa ma.
Tại mỗi điểm đã tiến hành thu mẫu tảo phù du và tảo bám.
Tảo phù du thu bằng lới vớt thực vật Juday No. 64 có
đờng kính miệng 15 cm, sâu 120 cm.
Tảo bám có hai loại: bám trên thực vật thuỷ sinh và bám
trên nền đáy.
- Tảo bám trên thực vật thuỷ sinh thờng là vi tảo nên
thu bằng cách ngắt các đoạn cây có tảo hoặc cạo lấy
lớp bám trên đó bằng dao.
- Tảo bám trên nền đáy cỡ lớn đợc lấy bằng dao
hoặc lấy trực tiếp bằng tay.
Mẫu đợc cố định bằng phoc-môn 4% và giữ tại phòng thí
nghiệm Thực vật bậc thấp, bộ môn Thực vật học, khoa Sinh học,
trờng Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tổng số lọ mẫu thu đợc của 7 đợt nghiên cứu là 620 lọ.
Chất lợng nớc tại một số điểm nghiên cứu đợc đo bằng
máy đo 6 chỉ tiêu của hãng TOA, Nhật Bản.
2.2.2 Xử lý, phân tích và định loại mẫu vật
2.2.2.1 Định loại và phân tích mẫu vật
Mẫu đợc quan sát bằng các dụng cụ:
Kính hiển vi quang học Leica DMRE có gắn trắc vi thị kính và
máy chụp ảnh hiển vi tự động với độ phóng đại từ 200 1000
3,0 5,0
Chỉ số Chlorococcales =
Ch/D
1
1 2,5
2,5 3,1
Chỉ số Diatomae = C/D
0 0,2
0,2 3,0
3,0 6,0
Chỉ số Euglenophyta =
E/(Cy+Ch)
0 0,1
0,1 0,4
0,4 0,5
10
N
ni
N
ni
H
s
i
2
1
log'
Công thức của Nygaard (1948):
lợng cá thể trong toàn bộ mẫu; ni: số lợng cá thể của loài i.
Nếu chỉ số đa dạng > 3: Đa dạng sinh học tốt và rất tốt
Từ 1-3: Đa dạng sinh học trung bình
Trong đó: 2-3:Trung bình khá,
1-2: Trung bình kém
< 1: Đa dạng sinh học kém và rất kém
Mẫu vật đợc xác định theo phơng pháp hình thái so sánh.
2.2.2.2 Hệ thống phân loại sử dụng trong luận án
Hệ thống phân loại trong luận án này theo quan điểm của
Gordon F. L. Theo hệ thống này, Tảo vàng, Tảo vàng ánh, Tảo silic
đợc tách riêng thành các ngành khác nhau, tảo vòng là một lớp trong
11
ngành Tảo lục. Hệ thống của Gordon đợc xây dựng dựa trên đặc
điểm hình thái cơ thể, chu trình sống và cách thức sinh sản. Theo
chúng tôi, đây là hệ thống hợp lý, phù hợp với phơng pháp phân loại
đợc sử dụng trong luận án và cũng rất tiện dụng.
2.2.2.3 Các đặc điểm chính để định loại các nhóm tảo:
1- Ngành Tảo đỏ (Rhodophyta):
Vị trí và đặc điểm phân loại chi Batrachospermum trong luận
án đợc sử dụng theo Komano S và Entwisle et al.
2- Ngành Tảo hai rãnh (Dinophyta)
Trong ngành này, chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại của
Dodge năm 1984.
3- Ngành Tảo vàng ánh (Chrysophyta)
Chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại các taxon của ngành Tảo
vàng ánh theo C. S. Reynolds (2006).
4- Ngành Tảo Silic (Bacillariophyta):
Trong ngành này, chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại của
Karsten (1928).
5- Ngành Tảo mắt (Euglenophyta)
(2001), Danh lục Tảo nội địa Việt Nam (Nguyễn Văn Tuyên, 2003),
công bố về bộ Tảo lục của Dơng Đức Tiến (Tảo nớc ngọt Việt
Nam, 1997) và công bố của Shirota (The plankton of South Vietnam,
1966), chúng tôi đã ghi nhận đợc 34 taxon bậc loài và dới loài mới
cho Việt Nam.
1. Trachelomonas crispa Balech
2. Gomphonema eriense Grun.
3. Navicula elongata Poretzky
4. Navicula lacustris Greg. var. Paulseniana (Boye P.) Zabelina
5. Eunotia tauntoniensis Hust.
6. Carteria klebsii (P.A. Dangeard) Francé
7. Oedogonium stellatum Wittr.
8. Oedogonium vesicatum (Lyngb.) Wittr.
9. Bulbochaete mirabilis Wittr.
13
10. Actinotaenium curtum (Bréb) Teiling
11. Arthrodesmus octocornis Ehrenb.
12. Cosmarium amoenum (Bréb.) Ralfs
13. Cosmarium candianum Delponte
14. Cosmarium connatum Bréb.
15. Cosmarium crispatum Hirano
16. Cosmarium cuneatum Joshua
17. Cosmarium formosulum W.E. Hoff
18. Cosmarium humile (Gay.) Nordst.
19. Cosmarium ocellatum Eichl. & Gutw.
20. Cosmarium quadrifarium P. Lundell f. polysticha P. Lundell
21. Cosmarium reniforme (Kalfs) W. Archer var. elevatum West
& G.S. West
22. Cosmarium subspeciosum Nordst var. validius Nordst
23. Cosmarium trilobulatum Reinsch
diện vào tất cả các lần thu mẫu ở hồ Trị An và gây nên hiện tợng
nớc nở hoa trên diện rộng. Trong chi Spirulina có loài S. platensis
đợc cả thế giới chú ý về giá trị dinh dỡng của nó, hiện đã đợc sản
xuất làm thực phẩm chức năng có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe.
Giá trị dinh dỡng của loài S. major ở hồ Trị An cần đợc nghiên cứu
thêm.
ở các hồ trong khu vực (hồ Bà Hào, hồ Sen, một số hồ phòng
cháy rừng ở khu vực Rang Rang, hồ Trị An), chi Cosmarium,
Staurastrum khá u thế, trong đó có những loài và thứ đợc ghi nhận
là mới cho Việt Nam. Loài Coscinodiscus radiatus Ehr. có nguồn gốc
ở biển cũng đợc phát hiện tại hồ Trị An.
3.2. Đa dạng sinh học của hệ tảo v vi khuẩn lam vùng Mã Đà
Hệ tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà có cấu trúc khá tơng
đồng với hệ tảo nớc ngọt nội địa Việt Nam, Tảo lục là ngành u thế,
sau đến Tảo silic, Vi khuẩn lam và Tảo mắt.
15
3.2.1 Tính đa dạng về các bậc taxon
Sự đa dạng của các taxon bậc lớp, bộ, họ, chi và loài của các
ngành đợc thế hiện qua bảng 5.
Bảng 5. Sự phân bố taxon bậc loài và dới loài trong các ngành
tảo và vi khuẩn lam vùng Mã Đà
Ngành
Lớp
Bộ
Họ
Chi
Loài
Thứ
/ dạng
Loài ch
1
Dinophyta
1
1
2
4
4
2
Rhrodophyta
1
1
1
1
1
1
Cyanobacteriophyta
1
2
4
8
20
2
Tổng số
12
19
32
82
250
92
5
Đầm súng
1,970
ĐDSH trung bình kém
Hồ Sen
1,289
ĐDSH trung bình kém
Trị An (1)
2,484
ĐDSH trung bình khá
Trị An (2)
2,536
ĐDSH trung bình khá
Ao Bà Hào
0,756
ĐDSH kém
Suối Mã Đà 1 mùa khô
2,332
ĐDSH trung bình khá
Suối Bàu Điền
2,182
ĐDSH trung bình khá
Suối 1 phân trờng Bà Hào
0,901
ĐDSH kém
Suối 2 phân trờng Bà Hào
0,001
ĐDSH rất kém
Suối Sai
0,001
ĐDSH rất kém
Batrachospermum của ngành Tảo đỏ đợc phát hiện khá phổ biến ở
các suối nền đáy đá vào mùa ma ở khu vực Mã Đà lại không thấy có
18
trong danh lục của một số vùng lân cận, trong đó có khu vực Nam Cát
Tiên, là khu vực tiếp giáp với khu vực Mã Đà. So sánh với khu vực
Nam Cát Tiên ta thấy cấu trúc thành phần loài ở hai khu vực này cũng
có những nét tơng đồng, với ngành Tảo lục chiếm u thế, các ngành
Tảo silic, Tảo mắt và Vi khuẩn lam chiếm một tỷ lệ đáng kể, tuy
nhiên các chi giàu loài ở 2 khu vực cũng có sự khác biệt, thể hiện nét
đặc trng trong thành phần loài.
Biểu đồ 2. Tỷ lệ giữa các ngành tảo và vi khuẩn lam
3.3. Sự phân bố các loài tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà
Dựa trên đặc điểm của thủy vực và thành phần loài tảo và vi
khuẩn lam, chúng tôi chia các thủy vực ở Mã Đà thành thủy vực nớc
đứng (gồm hồ và ao), thủy vực nớc chảy (suối) và hồ thủy điện Trị
0%
20%
40%
60%
80%
100%
Mã Đà Danh lục TVVN
(nớc ngọt)
Danh lục Tảo
nội địa VN
Cyanobacteriophyta
Rhodophyta
Euglenophyta
Chrysophyta
Dinophyta
đa dạng nhất với 186 loài và dới loài, chiếm 53,60 % tổng số loài và
dới loài trong toàn khu vực nghiên cứu. Thủy vực suối phát hiện
đợc 131 loài và dới loài, chiếm 37,75%. Hồ Trị An (phần trong khu
vực nghiên cứu) có 51 loài và dới loài, chiếm 14,70 %. Thủy vực ao
nuôi cá phát hiện đợc 40 loài và dới loài, chiếm 11,53%.
Những loài có phân bố rộng, gặp ở cả 4 loại thủy vực (Suối,
hồ, ao, hồ Trị An) là Scenedesmus bijugatus (Turp.) Kuet. var.
bijugatus và S. denticulatus Lagerh var. denticulatus.
Hồ Trị An có thành phần loài khá đặc trng so với các loại
hình thủy vực khác trong khu vực nghiên cứu. Có 18 loài và dới loài
chỉ có mặt ở hồ Trị An mà không có ở các thủy vực khác trong khu
vực nghiên cứu, trong đó các chi Oscillatoria, Cymbella,
Gomphonema, Melosira, Coscinodiscus, Coelastrum và
Chaetophora có 1 loài, chi Scenedesmus và Cosmarium có 4 loài, chi
Staurastrum có 3 loài.
20
Trong các loài trên có một số loài phát triển rất tốt nh
Oscillatoria rubescens, Staurastrum tohopekaligense, St. o-meari,
Melosira granulata var. angustissima f. spiralis, Cosmarium
contractum var. contractum, C. depressum, C. tumidum. Chúng có
thể gặp dễ dàng ở mọi điểm thu mẫu trong hồ. Một số loài khác gặp
với tần suất cao nh: Ceratium hirundinella, Microcystis aeruginosa,
Dictyosphaerium ehrenbergianum, Spirulina major, Cosmarium spp.,
Staurastrum spp.
Các thủy vực nớc đứng (hồ Bà Hào, hồ sen, hồ trữ nớc, hố
bom và các ao nuôi cá) không đồng nhất về nhiều đặc điểm hóa lý
nên thành phần tảo và vi khuẩn lam có sự khác biệt lớn.
Các ao nuôi cá có thành phần loài chủ yếu thuộc chi Phacus,
Euglena, Trachelomonas (Tảo mắt), tảo lục thuộc bộ Chlorococcales
và chi Oscillatoria của Vi khuẩn lam. Phần lớn các ao nuôi ở trạng
Korsch., Cosmarium binum Nordst., C. botrytis (Menegh.) Ralfs var.
tumidum Wolle, C. candianum Delponte, Closterium acerosum
(Schr.) Ehrenb., Cl. jenneri Ralfs., Cl. libellula G.W.Focke, Cl.
striolatum Ehrenb. lại đợc tìm thấy ở suối. Đây là những loài tảo lục
đặc trng cho suối ở khu vực Mã Đà vào mùa khô.
Thành phần loài mùa ma phong phú và đa dạng hơn. Phần lớn
các loài tảo lớn của ngành Tảo đỏ và Tảo lục chỉ tìm thấy vào mùa
ma nh loài Batrachospermum moniliforme Roth,
Batrachospermum sp., Spirogyra spp., Oedogonium stellatum Wittr.,
O. vesicatum (Lyngb.) Wittr., O. vulgare Tiffany, O. welwitschii
West et West, Spirogyra irregularis Nageli, Spirogyra gallica Petit,
22
Spirogyra hyalina Cleve, Spirogyra corrugata Transeau, Spirogyra
notabilis Taft, Spirogyra rhizoides Randhawa, Spirogyra subsalina
Cederc., Zygnema czurdae Randhawa, Zygnema gangeticum Rao,
Mougeotia scalaris Hassall. và chara spp Đây là những loài đặc
trng cho mùa ma của khu vực Mã Đà.
Phần lớn các loài tìm thấy cả ở mùa ma và mùa khô là những
loài sống ở các hồ, tập trung trong các chi Scenedesmus (8 loài và
dới loài), Pediastrum và Staurastrum (5 loài và dới loài mỗi chi),
Merismopedia, Micrasterias và Cosmarium (3 loài mỗi chi),
Cymbella (2 loài), Microcystis, Trachelomonas, Synedra, Navicula,
Eunotia, Dictyosphaerium, Coelastrum, Actinastrum và Euastrum
(mỗi chi 1 loài). Đây là những loài phổ biến quanh năm.
3.5. Mối liên hệ giữa thành phần và cấu trúc hệ tảo
và vi khuẩn lam với chất lợng nớc.
áp dụng các công thức của Fefoldy Lajos, Nygaard và
Schroevers vào khu hệ tảo và vi khuẩn lam của các thủy vực suối, hồ,
ao, hồ Trị An ở khu vực Mã Đà, ta thấy:
Các suối trong khu vực thuộc dạng nghèo dỡng , với 7 loài
Ngành Tảo hai rãnh có 6 loài v dới loài (1,73%). Ngành Tảo
đỏ có 2 loài, chiếm 0,58% và cuối cùng là ngành Tảo vàng ánh
có 1 loài, chiếm 0,29%. Tỷ lệ số lợng loài giữa các ngành của
hệ tảo Mã Đà tơng đồng với hệ tảo nớc ngọt toàn Việt Nam.
3. Có 34 loài và dới loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam.
4. Trong số 347 loài và dới loài chỉ có 2 loài gặp ở tất cả các kiểu
thủy vực. Thủy vực nớc đứng phát hiện đợc nhiều loài nhất là
186 loài và dới loài, bộ Desmidiales có số lợng loài và dới
24
loài u thế. Thủy vực nớc chảy phát hiện đợc 131 loài và dới
loài, Tảo silic chiếm u thế. Đặc biệt trong các suối có nền đáy
là đá, chi Tảo đỏ Batrachospermum phát triển mạnh. Tại hồ Trị
An phát hiện đợc 51 loài và dới loài, u thế là các loài
Oscillatoria rubescens, Staurastrum tohopekaligense, St. o-
meari, Melosira granulata var. angustissima f. spiralis,
Cosmarium contractum var. contractum, C. depressum, C.
tumidum var. tumidum, đặc biệt loài Spirulina major có mặt
trong hồ gây hiện tợng nớc nở hoa trên diện rộng vào mùa
khô.
5. Thành phần loài khác biệt rõ rệt giữa mùa khô và mùa ma. Phần
lớn các loài tảo và Vi khuẩn lam đợc tìm thấy vào mùa ma. Số
loài tìm thấy vào mùa ma (268 loài và dới loài) nhiều hơn hai
lần số loài và dới loài tìm đợc vào mùa khô (133 loài và dới
loài).
6. Sự đa dạng của tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà so với các vùng
lân cận ở vào mức trung bình. Có nhiều loài thuộc Tảo đỏ, Tảo
vòng và Desmid (thuộc Tảo lục) thuộc loại hiếm, đợc dùng
nhiều trong giảng dạy đã phát triển phổ biến ở đây. Do vậy vùng
Mã Đà là khu vực bảo tồn tốt cho tảo.
7. Chỉ số Chlorococcales và chỉ số Nygaard phù hợp hơn cả để